Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

LƯỢC SỬ CA ĐOÀN MARIA GORETTI PHƯƠNG NGHĨA KONTUM.

 

LƯỢC SỬ CA ĐOÀN MARIA GORETTI PHƯƠNG NGHĨA KONTUM.

06/07

Được cha phó Giuse Phạm Minh Công thành lập năm 1970.

Đời cha sở Giuse Maria Nguyễn Hữu Nghị.

Tên đầu tiên khi thành lập là ca đoàn Hùng Dũng.

- Các ca viên đầu tiên là chị Lân, chị Tâm, chị Trúc ...

- Cuối năm 1971,  thầy Hieronimo Nguyễn Bá Xứng thay thế cha Giuse Phạm Minh Công lúc này là cha tuyên úy, phụ trách  ca đoàn.

- Năm 1974,  Sr Anphongsin phụ trách và đỗi tên ca đoàn là Maria Goretti.

- Năm 1994, Sr Tĩnh phụ trách ca đoàn

- Năm 2015, Sr Mỹ Anh phụ trách ca đoàn.(xin đổi tên ca đoàn là Cêcilia)

- Năm 2017, Chị Maria Vũ Thị Thu Hà phụ trách ca đoàn.


Ca đoàn B ngày 10/07/2023.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2025

10 CÂU NÓI NỔI TIÊNG CỦA ĐTC PHANXICÔ

 

🎉10 CÂU NÓI NỔI TIÊNG CỦA ĐTC PHANXICÔ
1. “Tương lai có một cái tên, và cái tên ấy là Hy vọng.”
2. “Thiên Chúa không mệt mỏi khi tha thứ cho chúng ta. Chính chúng ta mới mệt mỏi khi xin ơn tha thứ.”
3. “Đức tin không phải là ánh sáng xua tan hết mọi bóng tối, nhưng là ngọn đèn soi đường trong đêm tối.”
4. “Không ai có thể được cứu một mình.”
5. “Chúng ta không nên chỉ tìm kiếm người nghèo để giúp họ, mà còn phải để cho họ giúp chúng ta khám phá lại Tin Mừng.”
6. “Hạnh phúc không phải là sở hữu nhiều, mà là yêu thương nhiều.”
7. “Sự cầu nguyện không làm cho chúng ta thoát khỏi thực tế, nhưng giúp chúng ta đối diện với thực tế bằng sức mạnh từ Thiên Chúa.”
8. “Hãy để lòng thương xót trở thành phong cách sống của bạn.”
9. “Giáo hội không phải là một pháo đài khép kín, mà là một lều trại mở rộng cho tất cả mọi người.”
10. “Bạn có thể có tất cả các quyền trong thế giới này, nhưng nếu không có tình yêu, bạn chẳng là gì cả.”
Nguồn bài viết : Van Dong Nguyen

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2025

NGƯỜI QUẢNG NAM KHƠI DÒNG CHO NHẠC BOLERO VIỆT NAM

 NGƯỜI QUẢNG NAM KHƠI DÒNG CHO NHẠC BOLERO VIỆT NAM

Nhạc Bolero du nhập Việt Nam khoảng đầu thập niên 1950, điệu nhạc này xuất phát từ Tây Ban Nha nhưng con đường đến với Việt Nam lại khá vòng vèo, từ Tây Ban Nha sang các nước Mỹ La tinh, rồi từ đây mới đến Việt Nam. Khi đến Việt Nam, điệu Bolero đã được Việt hóa hoàn toàn. Chính nhờ vào sự sáng tạo độc đáo của các nhạc sĩ tiền bối, Bolero được phát triển thành một nhánh riêng biệt đặc sắc mang đậm hồn cốt dân tộc được gọi nhạc "Bolero Việt Nam". Trong lịch sử hơn một trăm năm nền tân nhạc Việt Nam, nhạc Bolero đã tự khẳng định giá trị của mình khi tìm được một chỗ đứng vững bền trong lòng công chúng. Bolero trở thành một dòng nhạc lớn của Việt Nam chinh phục rất nhiều đối tượng người nghe nhạc từ bình dân cho đến trí thức, Bolero có mặt trong mọi góc cạnh đời sống ở miền Nam từ thập niên 60-70.
Cũng như bất cứ trào lưu âm nhạc nào trên thế giới, Bolero có lúc thăng lúc trầm lúc thịnh lúc suy theo thời cuộc. Có một giai đoạn nhạc Bolero bị xếp vào thể loại "nhạc vàng", "nhạc sến", "văn hoá phẩm của chế độ cũ". Thậm chí bị xếp vô loại "nhạc phản động uỷ mị" nên hàng ngàn bản nhạc Bolero không được phép lưu hành.
Suốt thời gian này, dù bị chê, dù bị cấm, nhưng Bolero vẫn không chết. Bằng cách này cách khác Bolero vẫn âm thầm tồn tại trong đời trong sống âm nhạc của người Việt. Người ta có thể nghe Bolero từ một anh hát rong với cây đàn ghi ta hay trong phòng kín từ chiếc máy chạy băng cassette, thậm chí bolero hát "chui" trong các tiệc đám cưới thôi nôi đầy tháng..
Mãi đến năm 1989, sau đổi mới vài năm, Cục Âm Nhạc Và Múa (nay là Cục Nghệ thuật và Biểu diễn) mới bắt đầu cấp phép cho các bài hát trước 1975 được phổ biến dần dần trở lại. Cũng từ thời điểm đó những ca khúc Bolero sáng tác trước năm 1975 ở miền Nam đã được nhìn nhận lại và cấp phép phát hành một cách từ từ...Nhờ vào đó trong hai thập niên gần đây Bolero được hồi sinh và trở thành dòng nhạc có nhiều người thích nghe nhất. Bolero được hát khắp nơi từ đường phố cho đến các chương trình âm nhạc trên sóng truyền hình quốc gia.
BẢN BOLERO ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM RA ĐỜI TRÊN CẦU VĨNH ĐIỆN, ĐIỆN BÀN, QUẢNG NAM
Người ta nói rất nhiều về Bolero nhưng có một chi tiết rất hiếm khi nhắc đến đó là bản nhạc Bolero đầu tiên của Việt Nam được sáng tác bởi một người người quê ở Điện Bàn - Quảng Nam tên là Lê Trọng Nguyễn.
Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn tên thật là Lê Trọng, sinh tháng 5 năm 1926 tại Điện Bàn, Quảng Nam. Ông là hội viên của Hội Tác giả, nhạc tác gia và nhà xuất bản âm nhạc Pháp (Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de Musique - SACEM).
Cha mất sớm, mẹ ông nuôi hai con đến tuổi trưởng thành. Em gái lập gia đình và sớm qua đời, Lê Trọng Nguyễn và mẹ nuôi ba đứa cháu nhỏ. Ông từng học ở Hà Nội trong khoảng 1942 đến 1945 và là bạn của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Trước năm 1954, ông phụ trách âm nhạc cho toàn bộ Liên khu Năm (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên), sau đó ông về Hội An sinh sống và sáng tác.
Lê Trọng Nguyễn không chỉ là nhạc sĩ mà còn là doanh nhân. Ông từng làm Giám đốc công ty Centra Co. và Giám đốc điều hành của công ty Sealand tại Đà Nẵng. Sau khi lập gia đình, ông sống tại Sài Gòn và làm Giám đốc nhà máy Dầu hỏa Cửu Long. Ông đến Mỹ vào năm 1983 và định cư tại Rosemead cùng vợ và bốn người con.
Chữ “Nguyễn” trong bút danh của ông là họ của người mẹ. Nhà ông gần Trường tư thục Hoàng Hồ nằm trên đường Nhật Bản (cũ), sau này đổi tên là đường Cường Để và nay là đường Trần Phú trong khu phố cổ Hội An (Quảng Nam).
"Nắng chiều" được nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn viết vào năm 1952 giữa thời điểm quê hương ly loạn và chiến tranh. Có tài liệu nói rằng "Nắng chiều" ra đời trong một lần hứng tác của Lê Trọng Nguyễn khi ông đứng trên cầu Vĩnh Điện nhìn chiều xuống bến sông Thu Bồn.
Trong một cuộc phỏng vấn của báo chí đương thời nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cho biết: "Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 5 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!"
AI LÀ CA SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM HÁT NHẠC BOLERO
Người thâu tiếng hát đầu tiên bản Nắng Chiều vào dĩa nhựa là ca sĩ Minh Trang vào khoảng giữa năm 1955. Đó cũng là năm người em gái duy nhất của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn qua đời, ông đau buồn và đem bản Nắng Chiều ra ký giao kèo tái bản để có một món tiền tác quyền khiêm nhường đưa về quê cùng mẹ lo liệu cho em gái và chuẩn bị nuôi nấng cháu.
BOLERO VIỆT NAM ĐI RA THẾ GIỚI
Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản "Nắng Chiều" và bản này đã được cô ca sĩ nhật Midori Satsuki hát.
Năm 1960 Ki Lo Ha, một ca sĩ người Hoa, cô yêu mến bản "Nắng chiều" nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan và Hồng Kông. "Nắng chiều" đã vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Bản nhạc "Nắng chiều" cũng là nguồn cảm hứng cho đạo diễn Lê Mộng Hoàng dựng thành bộ phim cùng tên. Phim phát hành tại miền Nam từ năm 1971 -1975.
Năm 1994, đạo diễn Việt Kiều, Trần Anh Hùng làm phim "Xích lô" có đưa bài hát "Nắng chiều" vào làm nền cho một phân cảnh không lời thoại, bài hát được hát bằng giọng Quảng Nam do hai người lính cụt chân thể hiện trong quán ăn:
Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
Khi đến cuối thôn chân bước không hồn
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ...
Lê Trọng Nguyễn sáng Nắng chiều trong giai đoạn đất nước chiến tranh và chia cắt. "Nắng chiều" trở thành một biểu tượng của tình yêu quê hương và hy vọng hoà bình thống nhất. "Nắng chiều" không chỉ là âm nhạc mà còn mang theo nhiều ý nghĩa và câu chuyện đáng nhớ của người nhạc sĩ tài hoa. “Lê Trọng Nguyễn không chỉ là một nhạc sĩ, ông còn là một học giả uyên bác về âm nhạc", như lời nhận xét của nhạc sĩ Phạm Đình Chương - người bạn thân thiết của ông.
---
Theo Tiểu Vũ
(Từ Fb Cao Thanh Cẩm)




Thứ Ba, 17 tháng 6, 2025

Những Nguyên Tắc VÀNG. - Trích Ý Lực Sống 2

 Những Nguyên Tắc VÀNG.

( Trích Ý Lực Sống 2, trang 96)
1. Cho người nghèo là cho Chúa .
Trong ngày phán xét, Chúa nói với những người bên hữu : Hãy vào hưởng hạnh phúc ngàn đời dành sẵn cho các ngươi, vì xưa TA đói các ngươi đã cho ăn, Ta khát các ngươi đã cho uống, Ta rách rưới các ngươi đã cho đồ mặc . . . Chúa không nói : người nghèo đói hay người nghèo khát . . . mà các ngươi đã cho ăn hay cho uống ! Và Chúa cũng nói với những kẻ ích kỷ : Cút khỏi mặt Ta mà vào lửa đời đời dành sẵn cho các ngươi vì xưa Ta đói các ngươi đã không cho ăn . . . Những người này bèn thưa : Chưa bao giờ thấy Chúa như vậy cả ! Chúa phán là khi các ngươi từ chối cho những kẻ bé mọn giữa các ngươi là các ngươi đã từ chối cho chính Ta. Xem Mt 25, 31-46. Chắc chắn chúng ta đã từng hơn một lần nghe hoặc đọc đoạn Tin Mừng bất hủ này !?
2. Cho người nghèo là tích trữ Kho Tàng trên Trời.
Chuyện anh thanh niên giàu có trong Tin Mừng thì ai cũng biết. Anh ta là người tốt, giữ Lề Luật chu đáo. Anh đầy thiện chí. Đi tìm gặp Chúa Giêsu để có được sự sống đời đời. Nhất định anh đã từng nghe người ta nói về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu gặp anh. nhìn anh và có cảm tình với anh, muốn mời anh làm môn đệ. Lời Chúa Giêsu nói với anh hôm đó là một mạc khải rất lớn cho chúng ta : Nếu anh muốn nên trọn lành thì hãy bán những gì anh có, cho người nghèo, thì anh sẽ có một KHO TÀNG trên trời rồi đi làm môn đệ tôi. Anh thanh niên buồn rầu bỏ về vì tiếc của chứ không phải vì ghét Chúa và chắc anh không biết kho tàng trên trời là giá trị như thế nào ! (Mt 19,16-22). Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta lộ tích trữ kho tàng trên trời, ten sét không làm hư được, mối mọt không gặm nhấm được, kẻ trộm không lấy đi được ! Vậy mạc khải này là : Cho người nghèo là tích trữ kho tàng trên trời !
3. Cho người nghèo là cho mình.
Chuyện đọc được, nhưng cũng rất đáng cho chúng ta ghi nhớ : Có nhà tỷ phú nọ trối lại cho con cái mình trước khi chết : Khi ba chết rồi, hãy ghi trên phần mộ của ba những câu này, suốt đời bôn ba vất vả ba mới có được :
Câu 1 : Những gì tôi có mà tôi đã tiêu xài rồi thì không còn nữa.
Câu 2 : Những gì tôi có mà tôi chưa kịp tiêu xài thì bây giờ đang ở trong tay kẻ khác.
Câu 3 : những gì tôi có mà tôi đã chia sẻ cho người nghèo, bây giờ nó mới thật sự là của tôi.
Vậy 3 nguyên tắc VÀNG là :
1. Cho người nghèo là cho Chúa.
2. Cho người nghèo là tích trữ kho
tàng trên trời.
3. Cho người nghèo là cho mình.
Nguồn bài viết : Lm. Phê rô Nguyễn Văn Đông.



Thứ Hai, 19 tháng 5, 2025

 10 THỨ CHỈ CÓ Ở MIỀN NAM VN TRƯỚC NĂM 75

1. Học sinh đi học không cần đóng học phí. Đây là chính sách khuyến học của chính phủ VNCH dành cho tất cả trẻ con được tiếp cận tri thức.
2. Đi bệnh viện không tốn tiền. Bạn khó tin ư? Nhưng đây hoàn toàn là sự thật. Các bệnh viện do chính quyền VNCH quản lý đều miễn phí 100% tiền khám và chữa bệnh cho người dân. Và đặc biệt, bác sĩ và nhân viên y tá vô cùng gần gũi và thân thiện với bệnh nhân.
3. Trẻ em khi đi ngoài đường nếu gặp phải đám tang đều đứng lại, cởi nón và cúi đầu đưa tiễn người quá cố.Học sinh được uống sữa, ăn bánh mì miễn phí. Ăn uống đến ngán phải lén bỏ vào thùng rác
4. Bất kỳ ai đang trên đường phố, nếu nghe tiếng Quốc ca vang lên đều đứng nghiêm trang chào cờ với lòng tự hào dân tộc.
5. Bạn có quyền mở đài phát thanh mở tòa soạn báo, có quyền đăng bất cứ thông tin gì và nhà nước không có quyền kiểm duyệt thông tin giống như những nước dân chủ hiện nay
6. Bạn được quyền bầu chọn người đứng đầu đất nước thông qua bầu cử Tổng Thống một cách dân chủ và công khai.giống y những nước tư bản lúc này.
7. Nếu không hài lòng về chính sách quản lý đất nước của chính phủ, bạn có quyền xuống đường biểu tình thể hiện chính kiến. Bạn có thể đứng trước Dinh Tổng Thống chửi rủa hay đốt hình tổng thống mà không gặp bất kỳ sự đàn áp hay bắt bớ gì của chính quyền.
8. Ra đường bạn có thể đeo bao nhiêu vàng, mang bao nhiêu tiền cũng không sợ cướp giật , bạn có quyền sở hữu đất chứ không phải quyền sử dụng đất, nhà nước không có quyền thu hồi giải tỏa khi chưa có sự đồng ý của bạn như bây giờ
9. Tiền VNCH được đổi hơn 60 quốc gia trên thế giới đến ngân hàng nước nào cũng được đổi và sử dụng được.
10. Bạn cầm Giấy thông hành VNCH có thể đi khắp thế giới và được nhập cảnh vào tất cả những quốc gia trực thuộc Liên Hiệp Quốc mà không cần xin visa , đặc biệt không bị coi thường, khinh rẻ. Ngược lại, được bạn bè quốc tế quý mến và tôn trọng.
Nguồn bài viết: Nguyễn Chi.



Thứ Năm, 20 tháng 3, 2025

Chúa Nhật 3 Mùa Chay năm C

 Chúa Nhật 3 Mùa Chay năm C

Xh 3,1-8.13-15: Ta là Đấng Hiện Hữu – “Ego eimi hoôn”
Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em. Đó là Danh Ta, các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu đến muôn đời
1Co 10,1-6.10-12: Đời sống của dân Israen trong sa mạc được chép lại để dạy ta
Phần đông họ sống không đẹp lòng Chúa, và họ đã quỵ ngã. Chúng ta đừng chiều theo dục vọng, đừng lẩm bẩm kêu ca. Ai tưởng mình đứng vũng, coi chừng kẻ ngã
Lc 13,1-9: Nếu các ông không chịu sám hối, các ông sẽ chết như vậy
Người kia có cây vả trong vườn nho. Ông tìm trái mà không thấy…và muốn chặt đi. Người làm vườn nói: Xin để một năm nữa, tôi vun xới, may ra có trái. Nếu không, ông sẽ chặt đi
1/ Báo chí, truyền thông đưa tin kinh hoàng:
+Sóng thần làm chết nhiều ngàn người: ngày 11.03.2011, sóng thần Nhật chết 15.892 người
+Động đất, lũ lụt chết cả ngàn người: ngày 27.12.2010, động đất ở Chile 700 người chết
+Covid chết cả mấy triệu người +Chiến tranh ở Ukraine chết cả chục ngàn người, nhà cửa đổ nát
2/ Một câu hỏi đặt ra: Vì sao Chúa để cho như vậy? Hoặc do Chúa phạt? Tai họa bởi đâu? Luật nhân quả?
+Hôm nay, có 2 bản tin trong Tin Mừng: Philato hạ sát nhóm người Galile nổi loạn; tháp Siloe đổ, chôn sống 18 người. Có người bảo: họa đâu tội đó. Kẻ khác bảo: Chúa phạt. Dân chúng qui tội cho nạn nhân.
+Nhân dịp này, Chúa nói với chúng ta: “Nếu chúng ta không ăn năn trở lại thì chúng ta cũng sẽ chết tất cả, không phải chết đất đè, không phải chết đụng xe…nhưng chết đời đời.
3/ Việc HOÁN CẢI, việc trở lại là vấn đề sinh tử của mỗi người. Chúa còn nhấn mạnh trong dụ ngôn cây vả: lá nhiều đẹp mắt mà không quả. Thánh Phaolo cũng kêu gọi sự hoán cải và sống gương mẫu. Ngài còn cảnh báo: “Ai tưởng mình đứng vững, hãy ý tứ kẻo ngã…đừng chiều theo dục vọng, đừng lẩm bẩm kêu ca”(1Co10,6). Và “luôn lấy Danh Chúa mà kêu cầu từ đời nọ đến đời kia” (Xh 3,15)
+Ba năm rồi, thậm chí nhiều năm có đạo rồi mà ta chẳng có quả sự sống, quả bác ái, quả yêu thương!
+Ba năm rồi, nhiều năm rồi…cuộc đời vẫn chỉ toàn có lá, chỉ có bề ngoài mà không có bề trong
+Lẽ thường là bị chặt đi, quăng vào lửa…nhưng lòng khoan dung của Chúa trì hoãn… may ra có trái
+Chúa cho chúng ta sống thêm chuỗi ngày năm tháng…để MAY RA có trái, nếu không thì ném vào lửa
4/ Bạn và tôi thường có suy nghĩ như thế này: Tai họa, tai nạn, xui xẻo là hình phạt do tội mà ra…và nếu tôi “may mắn” như thế này là vì tôi không phạm tội gì ghê gớm, thậm chí tôi “vô tội”.Kẻ gặp tai họa là do trời phạt. Nếu “họa đâu tội đó” thì giải thích thế nào khi một em bé trong trắng lại gặp nạn, hoặc “ở hiền ra cóc, ở độc ra tiên”? Chúa nói: “KHÔNG PHẢI NHƯ THẾ ĐÂU”. Không phải ại bị chết vì tháp đè, xe cán, động đất, sóng thần...là “họ mắc tội đâu”, NHƯNG nếu các ông, các bà KHÔNG CHỊU SÁM HỐI thì cũng chết như vây. Không phải cái chết đời này, mà cái CHẾT ĐỜI ĐỜI. Chuyện mình không lo, lo chuyện người!
5/ Quan niệm một Thiên Chúa “báo thù”, nguyên nhân sự dữ, là một sai lầm nghiêm trọng về thần học. Thiên Chúa không trừng phạt ai, vì Thiên Chúa là Tình Yêu, Thiên Chúa là Sự Sống. Tội không phải đơn thuần là phạm một quy định về luân lý, nhưng tội là chống lại sự sống, chống lại tình yêu, tức là chống lại chính Thiên Chúa. Đừng thấy một người chết vì điện giật rồi nguyền rủa người phát minh ra điện. Mọi sự tốt lành đều bởi Chúa. Chúa bao dung và chờ đợi ta hoán cải “cứ để nó lại năm nay nữa...may ra sang năm có trái”
+Thiên Chúa là “Đấng Tự Hữu”, tự mình hiện hữu và làm cho muôn vật hiện hữu (Xh 3,14)
6/ Nếu cây vả là chính tôi, thì cây vả đó có trái không? Hay chỉ toàn có lá? “Cây vả đời ta” chỉ toàn có lá, tức là có đạo mà không sống đạo; đọc kinh nhiều, đi lễ nhiều mà không có “thánh lễ nối dài” trong đời thường. Cây vả phải có lá xanh “đẹp mã” và phải có trái thơm ngon là ĐỨC TIN KÈM VIỆC LÀM (Gc 2,22)
+Là thực hành Lời Chúa, không nghe suông (Gc 1,22)
+Là kiềm chế miệng lưỡi (Gc 1,26)
+Là đạo đức tinh tuyền (Gc 1,27)
+Là thăm viếng và giữ mình khởi vết nhơ của thế gian (1,27)
+Là kính trọng người nghèo, không khinh dể họ (Gc 2,6)
+Là hối cải sinh trái tốt (Lc 3,8-9). Không sinh quả tốt đều bị chặt đi, quăng vào lửa
+Là sinh trái nhiều (Ga 15,2.5.😎, tức là gắn liến với Thầy Giesu, là ở lại trong Thầy, là thành môn đệ Thầy
+Và bền vững, tồn tại (Ga 15,16), hoa trái yêu thương yêu nhau
7/ Cuộc đời ta không những được chủ vườn là Cha trên Trời chăm sóc “vun xới, bón phân” với bao ân huệ để ta sinh hoa trái
+Hoa trái ở đây là tình thương vợ chồng dành cho nhau
+Là tình thương và lòng hiếu thảo của con cái dành cho cha mẹ
+Là sự kính trọng của học trò dành cho thầy cô, sự thân thương dành cho bạn bè
+Là lòng tốt, sự cống hiến cho Giáo Hội, cho xã hội
+Là sự nhẫn nại, bao dung dành cho người xấu với hy vọng “sang năm” họ sẽ tốt hơn
8/ KẾT: Hoán cải, métanoia, là vấn đề sinh hoặc tử. Mùa Chay là mùa thay lòng đổi dạ. Hoán cải cần phải kèm theo việc tin vào Tin Mừng. Tin và sống theo Tin Mừng là “có lá đẹp và có quả ngọt”
+Câu chuyện: Ma quỷ có lần phàn nàn với Chúa. Sao Ngài ăn ở bất công. Tôi phạm tội một lần mà Ngài phạt cả đời. Loài người phạm đi phạm lại thì Ngài tha hoài. Chúa nói: Nhưng nhà ngươi có bao giờ sám hối hoán cải đâu!
+ “Cây vả của tôi ơi
Sao chỉ toàn có lá
Trái ngọt yêu thương đâu?
Đức tin chưa thấm sâu” tqt31
Nguồn bài viết: Lm. Trần Truyền Quang.

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2025

ĐÂY LÀ BÀI HỌC THUỘC LÒNG CỦA LỚP NHÌ NGÀY XƯA ĐÃ HỌC.

 ĐÂY LÀ BÀI HỌC THUỘC LÒNG

CỦA LỚP NHÌ NGÀY XƯA ĐÃ HỌC.
Bài Học thuộc lòng: TÔI YÊU của Bàng Bá Lân. (Trích trong sách Việt Văn Tân Tập lớp Nhì của Đặng Duy Chiểu, nhóm Tiến Văn xuất bản năm 1964).
TÔI YÊU
Tôi yêu tiếng Việt Miền Nam
Yêu con sông rộng, yêu hàng dừa cao
Yêu xe thổ mộ xôn xao
Trên đường khúc khuỷu đi vào miền quê.
Tôi yêu đồng cỏ nắng se
Nhà rơm trống trải, chiếc ghe dập dềnh
Tôi yêu nắng lóa châu thành
Trận mưa ngắn ngủi, gió lành hiu hiu.
Nơi đây tôi mến thương nhiều
Miền Nam nước Việt mỹ miều làm sao
Đồng bào Nam Việt ta ơi
Ta yêu cặp mắt, làn môi thiệt thà.
Nước non vẫn nước non nhà
Bắc Nam xa mấy vẫn là anh em.
NGÀY TỰU TRƯỜNG
Nô nức hôm nay buổi tựu trường
Như chim ríu rít sáng tinh sương
Các em tấp nập ra trường học
Lê guốc giày vang khắp phố phường.
Nét mặt ngây thơ miệng mĩm cười
Áo quần mới mẻ dáng xinh tươi
Tay cầm cặp sách đi chân sáo
Lòng vẫn lâng lâng, mặt sáng ngời.
Giữa đám mây xanh hiện mái trường
Một hồi trống giục đã ngân vang
Cổng trường mở rộng như chào đón
Những đám trò em bước vội vàng.
Bạn cũ gặp nhau lại nghịch tinh
Vui đùa, cười nói chuyện tâm tình
Trời thu mây kéo như thông cảm
Với nỗi niềm vui của học sinh.
(Võ Tiến Thu - Tiểu học Nguyệt san, tháng 9-10/1959). Nguồn: Sài Gòn Xưa & Nay)