Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI - Nguyễn Quang Lập

 SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI

Nguyễn Quang Lập
LTS: Nguyễn Quang Lập (Bọ Lập) sinh ngày 30.4.1956 tại Quảng Bình, còn có các bút danh Hồng Nhật, Hồng Đức, Quang Quang.
Dưới đây là bài chia sẻ về cảm xúc của ông khi lần đầu tiên vào Sài Gòn trong bài viết với tên là "Sài Gòn Giải Phóng Tôi”.
————
Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kỳ chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.
Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kỳ.
Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.
Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.
Thằng Minh khoe cái cassete ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassete là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassete của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thất vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casete, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca số 7. Kết thúc Sơn ca số 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!
Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kỷ nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.
Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.
Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lý.
Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.
Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.
Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Capstan, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.
Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác. Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác - Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác - Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.
Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.
Nguyễn Quang Lập
Nguồn bài viết : Thu Hương.

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

HỌC TRÒ TIỂU HỌC MIỀN NAM XƯA: VÌ SAO LỚP NĂM LẠI LÀ LỚP NHỨT ?

 HỌC TRÒ TIỂU HỌC MIỀN NAM XƯA: VÌ SAO LỚP NĂM LẠI LÀ LỚP NHỨT ?

Có những chuyện tưởng như rất nhỏ, nhưng chỉ cần nhắc lại thôi là cả một thời tuổi thơ bỗng nhiên quay về.
Ngày trước, nếu hỏi một người miền Nam:
“Ngày xưa anh học lớp mấy?”
Có khi họ sẽ trả lời:
“Lớp Nhứt.”
Người trẻ nghe vậy dễ hiểu lầm: “Ủa, lớp Một chớ lớp Nhứt gì?”
Nhưng không phải!
“Lớp Nhứt” của ngày xưa chính là lớp 5 ngày nay.
Còn đứa trẻ mới bước chân vào bậc tiểu học lại bắt đầu từ… lớp Năm.
Nghe có vẻ ngược đời, nhưng đó là cách gọi chính thức trong hệ thống giáo dục miền Nam trước năm 1975.
TỪ LỚP NĂM ĐẾN LỚP NHỨT
Theo Chương trình Tiểu học năm 1949, được ban hành bằng Nghị định số 4-NĐ/GD ngày 27-8-1949 của Bộ Quốc gia Giáo dục, bậc Tiểu học gồm 5 năm, xếp theo thứ tự từ thấp lên cao:
Lớp Năm → Lớp Tư → Lớp Ba → Lớp Nhì → Lớp Nhứt.
Tức là:
Lớp Năm = lớp 1 ngày nay
Lớp Tư = lớp 2
Lớp Ba = lớp 3
Lớp Nhì = lớp 4
Lớp Nhứt = lớp 5.
Đây không phải là cách gọi truyền miệng của người Sài Gòn, cũng không phải ký ức bị nhớ sai.
Nó nằm trong chính chương trình giáo dục chính thức. (AnyFlip⁠)
Đến năm 1959, Bộ Quốc gia Giáo dục tiếp tục ban hành Chương trình Tiểu học 1959–1960 theo Nghị định 1005-GD/NĐ ngày 16-7-1959. Văn bản này vẫn giữ nguyên hệ thống 5 lớp:
Năm, Tư, Ba, Nhì, Nhứt.
Chương trình được áp dụng từ niên khóa 1959–1960 và về cơ bản được sử dụng ổn định trong nhiều năm sau đó. (Báo Quốc Dân⁠)
Cho nên một người Sài Gòn xưa nói:
“Hồi đó tui học lớp Nhứt.”
thì phải hiểu là:
“Hồi đó tui học năm cuối bậc tiểu học.”
Chớ không phải mới vô lớp Một!
TẠI SAO LẠI GỌI “NGƯỢC” NHƯ VẬY?
Cái “ngược” này thật ra nằm ở cách đánh thứ bậc của hệ thống cũ.
Ngày nay chúng ta quen với cách đánh số:
1 → 2 → 3 → 4 → 5
nên cứ nghe “Nhứt” là nghĩ ngay đến số một, lớp đầu tiên.
Nhưng trong cách gọi cũ, “Nhứt” không có nghĩa là lớp bắt đầu, mà là tên của bậc cao nhất trong chuỗi lớp tiểu học.
Vì vậy:
Năm là lớp thấp nhứt,
rồi lên Tư,
rồi Ba,
rồi Nhì,
và cuối cùng là Nhứt.
Cách gọi này không phải đến thời Việt Nam Cộng hòa mới xuất hiện. Tài liệu cho thấy hệ thống Năm – Tư – Ba – Nhì – Nhất đã có từ Chương trình Tiểu học năm 1949, rồi được kế thừa trong chương trình 1959–1960. (AnyFlip⁠)
Nói cách khác, đây là một di sản của hệ thống giáo dục Việt Nam trước đó, chứ không phải một cách đặt tên riêng của Sài Gòn sau năm 1954.
MỘT NỀN GIÁO DỤC KHÔNG CHỈ CÓ “HỌC CHỮ”
Điều đáng chú ý là nhìn vào chương trình tiểu học miền Nam thời ấy, chúng ta sẽ thấy nội dung giáo dục khá rộng.
Chương trình 1959–1960 có các môn như Việt ngữ, Đức dục và Công dân giáo dục, Sử ký, Địa lý, Thường thức, Toán, Vẽ, Thủ công, Hoạt động thanh niên, Trò chơi, Thể dục… (Báo Quốc Dân⁠)
Đặc biệt, môn Việt ngữ được dành một thời lượng rất đáng kể.
Tài liệu nghiên cứu về chương trình tiểu học miền Nam cho biết ở lớp Năm — tức lớp 1 theo cách gọi ngày nay — trong 25 giờ học mỗi tuần có tới khoảng 9 giờ rưỡi dành cho Việt ngữ. (Văn Hóa Học⁠)
Học sinh không chỉ học đọc, học viết mà còn học tập đọc, học thuộc lòng, chính tả, văn phạm, tập làm văn, tập viết, cùng những bài ca dao, phương ngôn và những nội dung hướng tới việc hình thành cách ứng xử, đạo đức và đời sống. (Nam Kỳ Lục Tỉnh⁠)
Nhìn vào đó mới thấy: trường học ngày ấy không đơn thuần là nơi nhồi kiến thức.
Người ta còn muốn dạy cho một đứa trẻ biết đọc, biết viết, biết suy nghĩ, biết cư xử và biết sống với gia đình, với cộng đồng.
RỒI CÁCH GỌI NÀY CŨNG DẦN THAY ĐỔI
Đến cuối thập niên 1960, hệ thống giáo dục miền Nam bắt đầu có một cuộc cải tổ lớn.
Sắc lệnh 660/TT/SL ngày 1-12-1969 quy định hệ thống giáo dục phổ thông mới gồm 12 năm, trong đó bậc Tiểu học là lớp 1 đến lớp 5.
Từ niên khóa 1970–1971, chương trình trung học đã được cập nhật theo hệ thống tên lớp mới; cách gọi các lớp được đổi theo hệ thống 1–12. (AnyFlip⁠)
Bởi vậy, trong ký ức của những người đi học vào những thời điểm khác nhau trước 1975, chúng ta có thể gặp cả hai cách gọi.
Người lớn tuổi hơn vẫn nói:
“Lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, lớp Nhất.”
Còn thế hệ đi học về sau bắt đầu quen với:
“Lớp Một, lớp Hai, lớp Ba, lớp Bốn, lớp Năm.”
VÀ CÓ LẼ ĐẸP NHẤT VẪN LÀ KÝ ỨC
Nhưng suy cho cùng, điều làm người ta nhớ về trường học ngày xưa có lẽ chẳng phải là cái tên lớp.
Mà là con đường đi học.
Một buổi sáng Sài Gòn.
Đứa nhỏ mang chiếc cặp còn thơm mùi da mới, mặc bộ đồ đi học, lon ton theo mấy đứa bạn trong xóm.
Ngoài đường là những chiếc xe đạp, Vespa, Lambretta, xích lô; trong lớp là bàn ghế gỗ, bảng đen, phấn trắng.
Thầy giáo bước vào.
Cả lớp đứng lên:
“Chúng em kính chào thầy.”
Rồi một ngày học bắt đầu.
Không điện thoại.
Không máy ảnh.
Không có Facebook để lưu lại một tấm hình.
Những gì còn lại chỉ nằm trong trí nhớ.
Một tiếng trống trường.
Một trang vở cũ.
Mùi phấn trắng.
Chiếc cặp đã sờn quai.
Một người bạn ngày xưa.
Và một tiếng gọi:
“Lớp Nhứt"
Ngày nay nghe lại, có thể chúng ta bật cười vì thấy nó sao mà “ngược” quá.
Nhưng với những người từng đi qua thời ấy, hai chữ “lớp Nhứt” có khi lại là cả một trời tuổi thơ.
Bởi vì họ biết rất rõ:
Lớp Nhứt không phải là lúc bắt đầu đi học.
Lớp Nhứt là lúc một đứa trẻ sắp sửa rời khỏi ngôi trường tiểu học thân thương để bước sang một chặng đời khác.
Và có những chặng đời…
đi qua rồi, không bao giờ trở lại ❤️
Tư liệu tham khảo: Chương trình Tiểu học 1949, ban hành theo Nghị định 4-NĐ/GD ngày 27-8-1949; Chương trình Tiểu học 1959–1960, ban hành theo Nghị định 1005-GD/NĐ ngày 16-7-1959 của Bộ Quốc gia Giáo dục; các nghiên cứu của Trần Văn Chánh về chương trình và sách giáo khoa miền Nam trước 1975. Các tài liệu này xác nhận hệ thống Năm – Tư – Ba – Nhì – Nhứt và quá trình chuyển sang hệ thống lớp 1–5 vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. (Nam Kỳ Lục Tỉnh⁠).
HÙNG CA SỬ VIỆT.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'BỘ QUỐC-GIA GIÁO-DỤC CỤC GIÁO-DỤC TIẾU-HỌC ĂN-BẢN 1963 VIÊT-NGỮ SÁCH ĐỌC LỚP NHỨT க NHÀ XUẤT-BẢN NHÀXUẤT-BẢNGIÁO-DUC GIÁO DNHÀ_XUÁT-BÀNGIÁO-DỤC GIÁO-DỤC DỤC 66-68, 66-68,DAI-LOLE-LI-SAIGON ĐẠI LO LÊ LỢI SAIGON'
Nguồn bài viết : Thu Hương.