Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

các trung tâm hành hương kính Đức Mẹ tại Việt Nam.

 Có thể bạn chưa biết...

Lý giải vì sao các trung tâm hành hương kính Đức Mẹ lại không có ở miền Bắc.
Hiện nay, cả nước có hàng chục Trung tâm Hành hương kính Đức Mẹ nằm rải rác từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, như Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Lavang, Trung tâm Trà Kiệu, Đức Mẹ Măng Đen, Đức Mẹ Tà Pao….​
Nhiều người khi tìm hiểu về vị trí địa lý nơi các Trung tâm hành hương kính Đức Mẹ tọa lạc đã không khỏi ngạc nhiên và bật lên câu hỏi: "Tại sao miền Bắc không có Trung tâm Hành hương kính Đức mẹ?"
Dĩ nhiên, không phải giáo dân miền Bắc không yêu mến Đức Mẹ. Giáo dân Việt Nam ở đâu, dù hiện nay đang sống ở các quốc gia khác, thì họ luôn dành cho Đức Mẹ những tình cảm đặc biệt.
Có một điều chắc chắn, các Trung tâm Hành hương kính Đức Mẹ đều hình thành vào những giai đoạn lịch sử diễn ra các cuộc giao tranh huynh đệ, do ý thức hệ hoặc do bách hại đạo Công giáo.
Trong thực tế, Trung tâm Hành hương La Vang gắn liền với cuộc bách hại đạo dưới thời vua Cảnh Thịnh, thời Tây Sơn năm 1798 hay Trung tâm Hành hương Trà Kiệu, hình thành khi quân Văn Thân tấn công những người có đạo tại Trà Kiệu năm 1885. Tại các nơi này, các tín hữu trong cơn bách hại đã nhận được sự che chở nhiệm mầu của Đức Mẹ. Từ đó, với lòng biết ơn và sùng kính, các Trung tâm dần hình thành theo thời gian.
Các Trung tâm hành hương khác tại miền Nam, như Đức Mẹ Măng Đen (dựng năm 1971), Đức Mẹ Tà Pao (1959), Đức Mẹ Nghinh Phong (1961), Đức mẹ Thác Mơ và Giang Sơn (1960)… đều được xây dựng trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam lần thứ hai từ năm 1954-1975, diễn ra cao trào.
Việc hình thành các Trung tâm này, một phần do sáng kiến xuất phát từ lòng tin của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau đại hội Thánh Mẫu kỷ niệm 300 thành lập 2 giáo phận đầu tiên tại Việt Nam (1659-1959) và kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, nhưng trên hết là từ lòng sùng kính mến yêu và từ niềm cậy trông của người Công giáo miền Nam đang khẩn cầu Đức Mẹ, xin Mẹ "đoái thương xem nước Việt Nam, trời u ám chiến tranh điêu tàn".
Trong khi đó, tại miền Bắc, vào thời kỳ Tây Sơn bách hại đạo, nhất là vào thời Văn Thân, việc bắt bớ đạo lẻ tẻ, không diễn ra quyết liệt. Thời Nhà Nguyễn bách hại đạo, chắc chắn việc dựng tượng, xây Trung tâm là không thể. Sau năm 1954, phân nửa số giáo dân di cư vào Nam, miền Bắc một mình tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, tôn giáo bị coi là "thuốc phiện của nhân dân", người giáo dân buộc phải sống co cụm trong làng, có muốn xây tượng, dựng Trung tâm hành hương kính Đức Mẹ, thì càng không thể. Do đó, miền Bắc cho đến nay không có Trung tâm Hành hương kính Đức Mẹ nào, ngoại trừ một số Đền thánh như Phú Nhai, kính Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đền Đức Bà Hằng Cứu Giúp, Thái Hà, Hà Nội…
Đây là một lý giải, có thể có những lý giải khác. Tuy nhiên, điều quan trọng, đối với người Công giáo Việt Nam, trong kinh nghiệm đau khổ, họ luôn cảm nghiệm được tình mẫu tử của Mẹ. Vì thế, trong bất cứ gia đình nào, cũng đều có ít nhất là một bức tượng hoặc hình ảnh về Đức Mẹ.

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2025

Tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt - Tháp Chàm ngày xưa!

 Tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt - Tháp Chàm ngày xưa!

Nhắc đến tuyến đường sắt răng cưa Đà Lạt – Tháp Chàm là nhắc đến một trong những công trình độc đáo bậc nhất Đông Dương thời Pháp thuộc. Được khởi công từ năm 1908 và mất đến gần 24 năm mới hoàn thành, tuyến đường sắt dài hơn 80 km này nối liền vùng duyên hải Ninh Thuận với cao nguyên Lâm Viên, mở ra cánh cửa giao thương và du lịch cho thành phố Đà Lạt khi ấy còn rất hoang sơ.
Điểm đặc biệt nhất nằm ở đoạn đèo Sông Pha (còn gọi là đèo Ngoạn Mục) với độ dốc có nơi lên đến 120‰ – quá lớn so với tàu hỏa thông thường. Để vượt qua, người Pháp đã áp dụng công nghệ đường sắt răng cưa Thụy Sĩ: một thanh răng cưa đặt giữa hai thanh ray chính, đầu máy HG 4/4 có bánh răng đặc biệt ăn khớp với đường răng cưa này, giúp tàu vừa leo dốc vừa hãm tốc khi xuống đèo an toàn. Đây từng là tuyến đường sắt răng cưa duy nhất ở châu Á và hiếm hoi trên thế giới thời bấy giờ.
Không chỉ phục vụ vận tải hàng hóa và hành khách, tuyến đường này còn gắn liền với ký ức lãng mạn của nhiều thế hệ khi con tàu len lỏi qua rừng thông, thung lũng, suối thác rồi từ từ tiến vào “thành phố mờ sương” Đà Lạt. Đáng tiếc, tuyến đường sắt đã dừng hoạt động từ năm 1972, để lại biết bao tiếc nuối cho những người yêu di sản và mê tàu hỏa cổ điển.
Ngày nay, chỉ còn lại tuyến ngắn Đà Lạt – Trại Mát dài 7 km với đầu máy hơi nước phục chế, như một lát cắt hoài niệm cho du khách được sống lại thời vàng son của “nữ hoàng đường sắt” một thuở.
Nguồn: Fb Vang Vo.

Nguyen Van Ly
Trong quá trình xây dựng và khai thác Thiết lộ Lâm Viên, Công ty Hỏa xa nhà nước CFI nhập cảng vào Việt Nam các đầu máy chạy được trên đường ray răng cưa theo bốn đợt như bảng bên. Các đầu máy HG 4/4 được xem là vật hiếm không thể tìm đâu ra ngoài Việt Nam vì công ty SLM ở Winterthur của Thụy Sĩ (Schweizerische Lokomotiv und Maschinenfabrik) chỉ chế tạo 7 chiếc đầu máy kiểu HG 4/4 và công ty MFE (Maschinenfabrik Esslingen) của Đức chế tạo thêm 2 đầu máy HG 4/4 dựa trên giấy phép nhượng quyền của SLM trong chương trình bồi thường chiến tranh cho Pháp khi Đức bại trận trong Đệ nhứt Thế chiến theo hoà ước Versailles. Tất cả 9 đầu máy nầy đều được đem xử dụng ở Việt Nam và không có ở nơi nào khác trên thế giới. Tất cả cũng đều là những đầu máy hơi nước mạnh nhứt thế giới chạy được trên hệ thống răng cưa Abt.
* Đây không phải chỉ là một sai lầm lớn mà còn thể hiện sự ngu xuẩn tột độ của một sự dốt nát bẩm sinh của một chế độ . Bởi vì đường ray xe lửa đoạn Sông Pha-Đà Lạt được chế tạo đặc biệt cho đường xe lửa răng cưa với tính toán kỹ lưỡng về thiết kế cho địa thế dốc. Để có thể chịu được lực kéo rất nặng khi xe lửa leo núi trong một khoảng thời gian dài nên bản thân các tà - vẹt đỡ phải được làm bằng thép có chất lượng cao nhứt. Ngay cả đến những con ốc và bù lon cũng khác với loại dùng cho đường ray xe lửa thông thường.
Do sự không hiểu biết về kỹ thuật cơ khí đường sắt của xe lửa, mặc dù có sự phản đối của các nhân viên hoả xa miền Nam cũ, Cục Đường Sắt vẫn ra lệnh tháo gỡ toàn bộ tuyến đường để đưa vào việc phục hồi tuyến đường sắt Xuyên Việt. Thời kỳ nầy tiếng nói của những nhân viên làm việc cho chánh quyền cũ không được xem xét. Ngay cả phản ứng của chánh quyền cấp tỉnh mới ở sở tại cũng không mang lại hiệu quả, họ đành nhìn địa phương mình mất đứt đi một báu vật mà ngay trong thời điểm khó khăn về kinh tế, đây là một tuyến giao thông kinh tế huyết mạch mang tính sinh tồn.
Và có thể đoán chuyện gì xảy ra tiếp theo sau đó. Đường ray đặc biệt này không thể ăn khớp khi kết nối với loại đường ray ở nơi bằng phẳng. Họ quyết định biến chúng thành sắt phế thải, chất đống tại các kho chứa, nơi lũ kẻ cắp cưa vụn ra và các quan tham bán chúng đi với giá sắt vụn rẻ như bèo. Đúng là một thảm họa của lịch sử hỏa xa Đông Dương! Nếu đường xe lửa này không bị tháo gỡ, thì giờ đây đã có thể dễ dàng khôi phục để có những chuyến xe lửa du lịch kỳ thú từ các khu nghỉ dưỡng vùng duyên hải Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né đi lên cao nguyên Lâm Viên.




Thứ Tư, 24 tháng 9, 2025

“Tại sao cha tin có Chúa ? “

 “Tại sao cha tin có Chúa ? “

Trước tiên là tại vì mình được sinh ra (1941) trong một gia đình công giáo tại Bình Định. Xứ đạo mình là một làng quê làm nông nghiệp và chăn nuôi bò. Vì chiến tranh bom đạn hằng ngày không thề mở trường, nên từ nhỏ mình chăn bò và cũng phụ làm nông trong gia đình. Năm 1955, hết chiến tranh, cha Nên thuộc địa phận Kontum về xứ đạo Nhà Đá mình dâng lễ Tạ Ơn Linh Mục rủ mình đi tu Kontum. Mặc dù chả hiểu đi tu là gì và Kontum là ở đâu nhưng vì rất muốn đi ô-tô nên mình ô-kê ngay !
Từ bé sống và lớn lên như vậy, giả dụ hồi đó có ai hỏi mình tại sao mày tin có Chúa thì mình cũng chịu thua chứ không biết làm sao trả lời được ! Bây giờ 85 tuổi rồi, nếu được hỏi tại sao lại tin có Chúa thì mình thích hỏi lại : Lý do làm sao mà bạn không tin là có Chúa ?
Làm chứng có Chúa thì cũng khó nhưng chưa hề có ai dù cá nhân, dù tập thể có thể làm chứng được là không có Chúa ! Các chế độ vô thần, nổi bật nhất là Liên Bang Xô Viết, cũng không thể làm chứng là không có Chúa để bảo vệ cho ý thức hệ vô thần của mình. Và rồi dù lực lượng quân sự của họ vào bậc nhất trên thế giới thế mà từ từ sụp đổ hết nước này đến nước khác ! Tư tưởng hướng dẫn hành động: L’Idee mene le monde ! Ý thức hệ là tư tưởng.
Có rất nhiều tôn giáo khác nhau trên thế giới. Khác nhau nhiều điều nhưng lại có 3 điều giống nhau : Thứ nhứt là tin có một Đấng Siêu Linh, thứ hai là tin có kiếp sau, thứ ba là tin có nhân quả. Giáo lý đạo Công giáo cũng tin như vậy. Và mình là người Công giáo!
Người Việt mình khi chưa có tôn giáo nào được rao giảng thì cũng tin 3 điều như vậy. Lạy Trời mưa xuống; chết là “qua đời”, là bước từ đời này qua đời khác, con vật chết là hết, không ai nói con heo qua đời; ở hiền gặp lành là tin có nhân quả. Và mình là người Việt !
Mình được học Triết 4 năm. Học Triết là tìm cho đến lý sự cuối cùng (Ultima Ratio) của sự vật và cái Ultima Ratio đó là Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng. Nhưng không ai biết Thiên Chúa là Đấng như thế nào cả. Kính Nhi Viễn Chi thôi.
Khi học 4 năm Thần Học thì mới học biết Thiên Chúa là Cha giàu lòng yêu thương nhờ mặc khải của Chúa Giêsu Kitô : Lạy Cha chúng con ở trên trời . . Vậy mình được học triết học và thần học cho nên mình tin !
Trong kinh thánh có câu này : Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: Chẳng có Đức Chúa Trời !” ( Thi Thiên 14,1).
Cũng có người nghiên cứu về thiên văn thấy trăng sao trên bầu trời quá vĩ đại hoặc có người chỉ ngắm nhìn những bông hoa đẹp mà đem lòng tin Chúa.
Tóm lại Đức Tin của mình là như vậy thôi. Mình hằng xin Chúa ban thêm đức tin cho mình. Kontum ngày 24.9.2025
Nguồn bài viết: Lm. Phê rô Nguyễn Văn Đông.
Tất cả cảm xúc:
Bạn, Nguyen Van Ly, Lê Thị Liêu và 168 người khác

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

chuyện về cây si có hình gương mặt Chúa Giêsu.

 Chỉ là tâm sự cá nhân thôi. (Lm Phê rô Nguyễn Văn Đông. Gp KonTum.)

Lại nói chuyện về cây si có hình gương mặt Chúa Giêsu.
Chiều nay, ngày 19.9.23, sẵn có việc đi Pleiku, mình ghé lại cây si đã được chính quyền địa phương tặng cho nhà thờ người Sé-đăng làng Ea Luh.
Rõ ràng là gương mặt khả ái của Chúa Giêsu, không có chút dấu vết nào về sự can thiệp của bàn tay con người.
Cây khi còn trong sân chợ, người ta có thể xóa bỏ gương mặt này rất dễ dàng, hoặc chặt bỏ và lôi cây đi chỗ khác để trả lại bình yên cho khu chợ là rảnh tay ngay. Tại sao người ta không làm như vậy mà lại rất trân trọng, chịu mọi chi phí chuyển đến nhà thờ. Nghe nói có người còn muốn lấy vải che khuôn mặt Chúa để khỏi tội vô phép.
Thông thường khi mình đứng trước di ảnh của cha mẹ, mình nghĩ đến công ơn của cha của mẹ. Trước khung ảnh của các vị thánh, như thánh nữ Têrexa Calcutta, mình nhớ lại lời Mẹ nói: “Nếu bạn không thể giúp 100 người, thì bạn hãy giúp cho 1 người thôi “.
Chiều nay đứng trước cây si có gương mặt Chúa Giêsu, mình nghĩ đến công ơn cứu chuộc của Người cho cả nhân loại, mình nghĩ đến những điều Người dạy. . . Cho dù bức hình đó là do bàn tay con người làm ra hay là ngẫu nhiên mà có. Chẳng phải là tất cả các bức ảnh thánh mà ta cung kính trong gia đình đều do bàn tay con người làm ra hay sao ?
Do đồn thổi trên mạng, đã có nhiều người bây giờ mới biết được gương mặt của Chúa Giêsu. Thấy có người viết là Chúa “dây su” ! Có người còn bảo là sắp đi Đức Mẹ “ măng tre” !
Khi cây si còn ở sân chợ Nghĩa Hưng thì ồn ào, rất lộn xộn. Khi cây được đưa đến nhà thờ thì thuộc quyền quản lý của nhà thờ. Rất trật tự và trang nghiêm . Bên cạnh cây có tượng đài Đức Mẹ ban ơn nên mọi sự đều khác.
Nhiều người đến đây nhưng chưa biết nhiều về Chúa Giêsu, vậy cho nên mình xin giới thiệu một ít nét “độc đáo” của nhân vật mang tên GIÊSU mà mình cung kính và yêu mến hết lòng :
* Ngài “bị” sinh ra và cất tiếng khóc chào đời trong một chuồng súc vật vì bố mẹ không có tiền thuê nhà trọ. Sinh ra trong cảnh nghèo khó tột bực, vô cùng thiếu thốn vì xa nhà và không có người thân bên cạnh. Vậy mà ngày nay lễ mừng sinh nhật của Chúa Giêsu là lễ mừng lớn bậc nhất trên hành tinh của chúng ta ! Ngày 25.12 hằng năm. Và không rõ từ lúc nào, loài người đã lấy năm sinh của Chúa là năm 1, tạo ra một kỷ nguyên mới, năm nay là năm 2023 kể từ năm Ngài được sinh ra. Hầu hết nhân loại đều nghỉ mừng ngày sinh nhật của Giêsu. Không độc đáo sao chứ ?
* Ngài bị kết án tử hình như một tên tội phạm tày đình. Chết nhục nhã trên cây thập ác, chết trần truồng. Chết giữa những tên tội phạm trộm cướp giết người bị pháp luật kết án tử. Vậy mà giáo lý, tức là lời dạy của Ngài được ghi trong các sách Phúc Âm lại trở thành kim chỉ nam cho loài người được sống tốt. Phúc Âm là cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất trên thế giới, gần 3.000 thứ tiếng. Phúc Âm là cuốn sách được nhiều người đọc nhất xưa nay, được in ra nhiều nhất trên thế giới, mỗi năm có đến 78 triệu ấn bản được in ra. Độc đáo chứ ?
* Chỉ có Chúa Giêsu dạy cho chúng ta Thiên Chúa là Cha . Là Cha của mọi người không trừ ai. “Cha của Thầy và cũng là Cha của anh em. Nhà Cha Thầy có nhiều chỗ. . . Thầy dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu , anh em cũng ở đó với Thầy “. ( Ga 14, 1-6). “Nước tôi không thuộc thế gian này “. (Ga 18,33-37). “Quê hương chúng ta là ở trên trời “. (Pl 3,20). Các tôn giáo đều tin có cuộc sống sau khi chết, nhưng Chúa Giêsu là dạy rõ ràng nhất.
* Mỗi tôn giáo đều có một vị sáng lập, Chúa Giêsu là đấng sáng lập Kito giáo, hiện có hơn 2 tỷ người tin theo. Chỉ có Chúa Giêsu là có “khả năng” làm phép lạ. Bốn tác giả Phúc Âm ghi lại vô số phép lạ. Mọi bệnh tật đều được Ngài chữa lành tức khắc, thậm chí chết chôn trong mộ đã 4 ngày, thúi rồi mà Chúa Giêsu bảo: Lazaro hãy ra , thì anh sống lại và đi ra khỏi mộ ! Trước mặt đông người nhé, kể cả hai người chị ruột là cô Macta và cô Maria ! Tin hay không là quyền của bạn !
* Chỉ có Chúa Giêsu nói rõ cho chúng ta biết rằng làm việc tốt là tích trữ kho tàng trên trời. Chúa Giêsu còn khuyên là đừng có tích trữ thứ hay hư nát, mối mọt gặm nhấm được, ten sét làm hư được, kẻ trộm lấy mất được. . . (Mt 6,19-23)
* Chúa Giêsu nói trước về sự đau khổ và sự chết của Ngài, nói trước về sự sống lại của Ngài. Và y chang như vậy. Tin hay không là quyền của mỗi người.
Và còn rất nhiều chuyện “độc đáo” của Chúa Giêsu, không kể xiết !
Chuyện gương mặt Chúa Giêsu trên gốc cây si cũng là chuyện “độc đáo”. Dù sao thì chúng ta nên chờ thời gian. Thời gian sẽ giúp ta nhận định.
Chúc mọi người ngủ ngon.
Xin Chúa Giêsu chúc phúc lành cho chúng con.
Nguồn bài viết: Lm Phê rô Nguyễn Văn Đông. Gp KonTum.



Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2025

LƯỢC SỬ CA ĐOÀN MARIA GORETTI PHƯƠNG NGHĨA KONTUM.

 

LƯỢC SỬ CA ĐOÀN MARIA GORETTI PHƯƠNG NGHĨA KONTUM.

06/07

Được cha phó Giuse Phạm Minh Công thành lập năm 1970.

Đời cha sở Giuse Maria Nguyễn Hữu Nghị.

Tên đầu tiên khi thành lập là ca đoàn Hùng Dũng.

- Các ca viên đầu tiên là chị Lân, chị Tâm, chị Trúc ...

- Cuối năm 1971,  thầy Hieronimo Nguyễn Bá Xứng thay thế cha Giuse Phạm Minh Công lúc này là cha tuyên úy, phụ trách  ca đoàn.

- Năm 1974,  Sr Anphongsin phụ trách và đỗi tên ca đoàn là Maria Goretti.

- Năm 1994, Sr Tĩnh phụ trách ca đoàn

- Năm 2015, Sr Mỹ Anh phụ trách ca đoàn.(xin đổi tên ca đoàn là Cêcilia)

- Năm 2017, Chị Maria Vũ Thị Thu Hà phụ trách ca đoàn.


Ca đoàn B ngày 10/07/2023.

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2025

10 CÂU NÓI NỔI TIÊNG CỦA ĐTC PHANXICÔ

 

🎉10 CÂU NÓI NỔI TIÊNG CỦA ĐTC PHANXICÔ
1. “Tương lai có một cái tên, và cái tên ấy là Hy vọng.”
2. “Thiên Chúa không mệt mỏi khi tha thứ cho chúng ta. Chính chúng ta mới mệt mỏi khi xin ơn tha thứ.”
3. “Đức tin không phải là ánh sáng xua tan hết mọi bóng tối, nhưng là ngọn đèn soi đường trong đêm tối.”
4. “Không ai có thể được cứu một mình.”
5. “Chúng ta không nên chỉ tìm kiếm người nghèo để giúp họ, mà còn phải để cho họ giúp chúng ta khám phá lại Tin Mừng.”
6. “Hạnh phúc không phải là sở hữu nhiều, mà là yêu thương nhiều.”
7. “Sự cầu nguyện không làm cho chúng ta thoát khỏi thực tế, nhưng giúp chúng ta đối diện với thực tế bằng sức mạnh từ Thiên Chúa.”
8. “Hãy để lòng thương xót trở thành phong cách sống của bạn.”
9. “Giáo hội không phải là một pháo đài khép kín, mà là một lều trại mở rộng cho tất cả mọi người.”
10. “Bạn có thể có tất cả các quyền trong thế giới này, nhưng nếu không có tình yêu, bạn chẳng là gì cả.”
Nguồn bài viết : Van Dong Nguyen

Thứ Sáu, 1 tháng 8, 2025

NGƯỜI QUẢNG NAM KHƠI DÒNG CHO NHẠC BOLERO VIỆT NAM

 NGƯỜI QUẢNG NAM KHƠI DÒNG CHO NHẠC BOLERO VIỆT NAM

Nhạc Bolero du nhập Việt Nam khoảng đầu thập niên 1950, điệu nhạc này xuất phát từ Tây Ban Nha nhưng con đường đến với Việt Nam lại khá vòng vèo, từ Tây Ban Nha sang các nước Mỹ La tinh, rồi từ đây mới đến Việt Nam. Khi đến Việt Nam, điệu Bolero đã được Việt hóa hoàn toàn. Chính nhờ vào sự sáng tạo độc đáo của các nhạc sĩ tiền bối, Bolero được phát triển thành một nhánh riêng biệt đặc sắc mang đậm hồn cốt dân tộc được gọi nhạc "Bolero Việt Nam". Trong lịch sử hơn một trăm năm nền tân nhạc Việt Nam, nhạc Bolero đã tự khẳng định giá trị của mình khi tìm được một chỗ đứng vững bền trong lòng công chúng. Bolero trở thành một dòng nhạc lớn của Việt Nam chinh phục rất nhiều đối tượng người nghe nhạc từ bình dân cho đến trí thức, Bolero có mặt trong mọi góc cạnh đời sống ở miền Nam từ thập niên 60-70.
Cũng như bất cứ trào lưu âm nhạc nào trên thế giới, Bolero có lúc thăng lúc trầm lúc thịnh lúc suy theo thời cuộc. Có một giai đoạn nhạc Bolero bị xếp vào thể loại "nhạc vàng", "nhạc sến", "văn hoá phẩm của chế độ cũ". Thậm chí bị xếp vô loại "nhạc phản động uỷ mị" nên hàng ngàn bản nhạc Bolero không được phép lưu hành.
Suốt thời gian này, dù bị chê, dù bị cấm, nhưng Bolero vẫn không chết. Bằng cách này cách khác Bolero vẫn âm thầm tồn tại trong đời trong sống âm nhạc của người Việt. Người ta có thể nghe Bolero từ một anh hát rong với cây đàn ghi ta hay trong phòng kín từ chiếc máy chạy băng cassette, thậm chí bolero hát "chui" trong các tiệc đám cưới thôi nôi đầy tháng..
Mãi đến năm 1989, sau đổi mới vài năm, Cục Âm Nhạc Và Múa (nay là Cục Nghệ thuật và Biểu diễn) mới bắt đầu cấp phép cho các bài hát trước 1975 được phổ biến dần dần trở lại. Cũng từ thời điểm đó những ca khúc Bolero sáng tác trước năm 1975 ở miền Nam đã được nhìn nhận lại và cấp phép phát hành một cách từ từ...Nhờ vào đó trong hai thập niên gần đây Bolero được hồi sinh và trở thành dòng nhạc có nhiều người thích nghe nhất. Bolero được hát khắp nơi từ đường phố cho đến các chương trình âm nhạc trên sóng truyền hình quốc gia.
BẢN BOLERO ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM RA ĐỜI TRÊN CẦU VĨNH ĐIỆN, ĐIỆN BÀN, QUẢNG NAM
Người ta nói rất nhiều về Bolero nhưng có một chi tiết rất hiếm khi nhắc đến đó là bản nhạc Bolero đầu tiên của Việt Nam được sáng tác bởi một người người quê ở Điện Bàn - Quảng Nam tên là Lê Trọng Nguyễn.
Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn tên thật là Lê Trọng, sinh tháng 5 năm 1926 tại Điện Bàn, Quảng Nam. Ông là hội viên của Hội Tác giả, nhạc tác gia và nhà xuất bản âm nhạc Pháp (Société des Auteurs, Compositeurs et Editeurs de Musique - SACEM).
Cha mất sớm, mẹ ông nuôi hai con đến tuổi trưởng thành. Em gái lập gia đình và sớm qua đời, Lê Trọng Nguyễn và mẹ nuôi ba đứa cháu nhỏ. Ông từng học ở Hà Nội trong khoảng 1942 đến 1945 và là bạn của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Trước năm 1954, ông phụ trách âm nhạc cho toàn bộ Liên khu Năm (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên), sau đó ông về Hội An sinh sống và sáng tác.
Lê Trọng Nguyễn không chỉ là nhạc sĩ mà còn là doanh nhân. Ông từng làm Giám đốc công ty Centra Co. và Giám đốc điều hành của công ty Sealand tại Đà Nẵng. Sau khi lập gia đình, ông sống tại Sài Gòn và làm Giám đốc nhà máy Dầu hỏa Cửu Long. Ông đến Mỹ vào năm 1983 và định cư tại Rosemead cùng vợ và bốn người con.
Chữ “Nguyễn” trong bút danh của ông là họ của người mẹ. Nhà ông gần Trường tư thục Hoàng Hồ nằm trên đường Nhật Bản (cũ), sau này đổi tên là đường Cường Để và nay là đường Trần Phú trong khu phố cổ Hội An (Quảng Nam).
"Nắng chiều" được nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn viết vào năm 1952 giữa thời điểm quê hương ly loạn và chiến tranh. Có tài liệu nói rằng "Nắng chiều" ra đời trong một lần hứng tác của Lê Trọng Nguyễn khi ông đứng trên cầu Vĩnh Điện nhìn chiều xuống bến sông Thu Bồn.
Trong một cuộc phỏng vấn của báo chí đương thời nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cho biết: "Tâm sự tôi trong bài Nắng chiều nó như thế này, kể anh nghe cho vui. Sau cuộc đảo chính của Nhật vào đêm 9 tháng 5 năm 45, có một gia đình công chức Nam triều từ Quy Nhơn chạy ra tạm trú ở Hội An, mà tôi cũng ở Hội An lúc đó. Gia đình đó có một người con gái. Tôi yêu người con gái ấy!"
AI LÀ CA SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM HÁT NHẠC BOLERO
Người thâu tiếng hát đầu tiên bản Nắng Chiều vào dĩa nhựa là ca sĩ Minh Trang vào khoảng giữa năm 1955. Đó cũng là năm người em gái duy nhất của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn qua đời, ông đau buồn và đem bản Nắng Chiều ra ký giao kèo tái bản để có một món tiền tác quyền khiêm nhường đưa về quê cùng mẹ lo liệu cho em gái và chuẩn bị nuôi nấng cháu.
BOLERO VIỆT NAM ĐI RA THẾ GIỚI
Năm 1957, Lê Trọng Nguyễn vào Sài Gòn. Ðúng dịp đoàn ca nhạc Nhật Bản sang thăm, ban nhạc Toho Geino có nhờ người chọn ra 12 bản nhạc Việt Nam đang nổi tiếng thời đó để chuẩn bị tập dượt và trình diễn tại Sài Gòn lẫn Nhật Bản, trong đó có bản "Nắng Chiều" và bản này đã được cô ca sĩ nhật Midori Satsuki hát.
Năm 1960 Ki Lo Ha, một ca sĩ người Hoa, cô yêu mến bản "Nắng chiều" nên viết sang lời Hoa ngữ và phổ biến bản này sang Ðài Loan và Hồng Kông. "Nắng chiều" đã vượt ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Bản nhạc "Nắng chiều" cũng là nguồn cảm hứng cho đạo diễn Lê Mộng Hoàng dựng thành bộ phim cùng tên. Phim phát hành tại miền Nam từ năm 1971 -1975.
Năm 1994, đạo diễn Việt Kiều, Trần Anh Hùng làm phim "Xích lô" có đưa bài hát "Nắng chiều" vào làm nền cho một phân cảnh không lời thoại, bài hát được hát bằng giọng Quảng Nam do hai người lính cụt chân thể hiện trong quán ăn:
Qua bến nước xưa lá hoa về chiều
Lạnh lùng mềm đưa trong nắng lưa thưa
Khi đến cuối thôn chân bước không hồn
Nhớ sao là nhớ đến người ngày thơ...
Lê Trọng Nguyễn sáng Nắng chiều trong giai đoạn đất nước chiến tranh và chia cắt. "Nắng chiều" trở thành một biểu tượng của tình yêu quê hương và hy vọng hoà bình thống nhất. "Nắng chiều" không chỉ là âm nhạc mà còn mang theo nhiều ý nghĩa và câu chuyện đáng nhớ của người nhạc sĩ tài hoa. “Lê Trọng Nguyễn không chỉ là một nhạc sĩ, ông còn là một học giả uyên bác về âm nhạc", như lời nhận xét của nhạc sĩ Phạm Đình Chương - người bạn thân thiết của ông.
---
Theo Tiểu Vũ
(Từ Fb Cao Thanh Cẩm)