Thứ Hai, 6 tháng 6, 2022

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ QUỐC NGỮ

 SỰ RA ĐỜI CỦA CHỮ QUỐC NGỮ

VÀ TƯỞNG NHỚ NGUYỄN V VĨNH
Chữ Hán từng được dùng ở Việt Nam trong vòng MỘT NGÀN NĂM mãi đến tận đầu thế kỷ thứ 20.
ALEXANDRE de RHODES (sinh năm 1591 tại Avignon, Pháp; mất năm 1660 tại Ispahan, Ba Tư) đã sang Việt Nam truyền đạo trong vòng sáu năm (1624 -1630). Ông là người có công rất lớn trong việc LA MÃ hoá tiếng Việt.
(Nhiều tác giả gọi là La-tinh hóa. Thực ra mẫu tự chữ cái tiếng Việt hiện nay là mẫu tự chữ Roman chứ không phải là chữ La-tinh).
Kế tục công trình của những người đi trước là các tu sĩ Jesuit (DÒNG TÊN) người Bồ Đào Nha như
-Francisco de Pina
-Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa, v.v.
Trong việc La-mã hóa tiếng Việt, ALEXANDRE de RHODES
-đã xuất bản Bài giảng giáo lý Tám ngày đầu tiên bằng tiếng Việt
-Và cuốn TỰ ĐIỂN VIỆT-LA-BỒ đầu tiên vào năm 1651 tại Rome.
***
Hệ thống chữ viết tiếng Việt dùng CHỮ CÁI LA MÃ này được chúng ta ngày nay gọi là chữ quốc ngữ (chữ viết của quốc gia)
***
Nguyễn Văn Vĩnh sinh năm 1882 tại Hà Nội, cái năm thành Hà Nội thất thủ vào tay quân Pháp do đại tá Henri Rivière chỉ huy. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn.
Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh nghèo nên không có tiền cho con cái đi học. Lên tám tuổi, cậu Vĩnh đã phải đi làm để kiếm sống. Công việc của cậu lúc đó là làm thằng nhỏ kéo quạt để làm mát cho một lớp đào tạo thông ngôn do người Pháp mở ở đình Yên phụ - Hà Nội.
-Cậu vừa kéo quạt, vừa nghe lỏm bài giảng.
-Cậu ghi nhớ mọi thứ rất nhanh
-Và còn trả lời được các câu hỏi của thầy giáo
Trong khi các cậu con nhà giàu trong lớp còn đương lúng túng.
Thầy giáo người Pháp thấy vậy bèn nói với ông hiệu trưởng
-Giúp tiền cho cậu vào học chính thức.
NĂM 14 tuổi
-Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu khóa học
-Và trở thành một thông dịch viên xuất sắc.
-Sau đó ông được bổ làm trợ lý cho công sứ Pháp tỉnh Bắc Ninh.
NĂM 1906
-Ông 24 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh được Pháp gửi sang dự triển lãm tại Marseilles.
-Tại đây, ông được tiếp cận với kỹ nghệ in ấn và báo chí.
Ông còn là người Việt Nam đầu tiên gia nhập hội NHÂN QUYỀN Pháp.
Trở về Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh từ bỏ nghiệp quan chức và bắt đầu làm báo tự do.
NĂM 1907
-Ông mở nhà in đầu tiên ở Hà Nội và xuất bản tờ Đăng Cổ Tùng Báo - tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ở Bắc Kỳ.
NĂM 1913
Ông xuất bản tờ Đông dương Tạp chí ĐỂ DẠY dân Việt viết văn bằng quốc ngữ.
Ông là người đầu tiên dịch ra chữ quốc ngữ các tác phẩm của các đại văn hào Pháp như: -Balzac
-Victor Hugo
-Alexandre Dumas
-La Fontaine
-Molière, v.v.
-Và cũng là người đầu tiên dịch Truyện Kiều SANG TIẾNG PHÁP.
Bản dịch Truyện Kiều của ông Vĩnh rất đặc sắc, vì :
-Ông không chỉ dịch cả câu
-mà còn dịch nghĩa từng chữ
-và kể rõ các tích cổ gắn với nghĩa đó
- một điều chỉ có những ai am hiểu sâu sắc văn chương Việt Nam (bằng chữ Nôm),Trung Hoa (bằng chữ Nho), và Pháp mới có thể làm được.
Sự cố gắng và sức làm việc phi thường của ông Vĩnh đã góp phần rất quan trọng trong việc :
-Truyền bá kiến thức và văn hoá phương Tây trong dân Việt
-Và đẩy xã hội Việt Nam đi đến chỗ DẦN DẦN CHẤP NHẬN chữ quốc ngữ.
NĂM 1915
vua Duy Tân ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi (Hương - Hội - Đình) ở Bắc Kỳ.
NĂM 1918
vua Khải Định ra chỉ dụ bãi bỏ các khoa thi này ở Trung Kỳ
NĂM1919
bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp - Việt.
NĂM 1924 Ngày 18 tháng 9
Toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy ở ba năm đầu cấp tiểu học.
Như vậy là, sau gần BA THẾ KỶ kể từ khi cuốn từ điển Việt –La - Bồ của Alexandre de Rhodes ra đời, người Việt Nam mới THẬT SỰ ĐOẠN TUYỆT với chữ viết của Trung Hoa, chính thức chuyển sang dùng chữ quốc ngữ.
Đây quả thực là một CUỘC CHUYỂN HÓA vô cùng lớn lao, trong đó ông Nguyễn Văn Vĩnh đã vô hình chung đóng vai trò một nhà văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam.
Ông Nguyễn Văn Vĩnh, tuy nhiên, đã không thể kiếm sống bằng nghề báo của mình.
-Trên báo Ông là người luôn lên tiếng phản đối chính sách hà khắc của Pháp đối với thuộc địa
-Ông là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất đã HAI LẦN TỪ CHỐI huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng
-Và cũng là người đã cùng với bốn người Pháp viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh.
Vì thế chính quyền thuộc địa của Pháp ở Đông Dương chẳng ưa gì ông.
-Tòa báo của ông vỡ nợ.
-Gia sản của ông bị tịch biên.
-Ông bỏ đi đào vàng ở Lào
-và mất ở đó vì sốt rét.
NĂM 1936
Người ta tìm thấy xác ông nằm trong một chiếc thuyền độc mộc trên một dòng sông ở Sepole. Trong tay ông lúc đó vẫn còn nắm chặt một cây bút và một quyển sổ ghi chép: Ông đang viết dở thiên ký sự bằng tiếng Pháp Một tháng với những người tìm vàng.
Khi đoàn tàu chở chiếc quan tài mang thi hài ông Vĩnh về đến ga Hàng Cỏ
-Hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong một sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông
Con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi. Ông đã góp phần làm cho chữ quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt.
-Tôi đã vẽ bức tranh Sự ra đời của chữ quốc ngữ- Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh với lòng ngưỡng mộ sâu sắc đối với hai vĩ nhân nói trên của dân tộc Việt Nam - Alexandre de Rhodes và Nguyễn Văn Vĩnh.
LỜI CÁM ƠN
Tác giả bài viết này biết ơn thân sinh của mình – nhà giáo Nguyễn Đình Nam, người đầu tiên kể cho tác giả về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh từ khi tác giả còn là học sinh tiểu học
-khi sách giáo khoa chính thống còn gọi Alexandre Rhodes là gián điệp
-còn Nguyễn Văn Vĩnh là bồi bút của Pháp.
Tác giả xin chân thành cảm ơn
-ông Nguyễn Kỳ - con trai cụ Nguyễn Văn Vĩnh
-ông Nguyên Lân Bình - cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh
vì những câu chuyện xúc động về cuộc sống và sự nghiệp của cụ Nguyễn Văn Vĩnh cũng như của gia tộc cụ.
Tác giả xin cảm ơn
-Thầy Trí - cháu ngoại cụ Nguyễn Văn Vĩnh, đồng thời từng là thầy dạy toán của tác giả khi tác giả là học sinh trung học.
Nguyễn Đình Đăng

NGUỒN BÀI VIẾT: QUÍ NGUYỄN.

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2022

BÁC VẬT LƯU VĂN LANG KỸ SƯ ĐÔNG DƯƠNG

 BÁC VẬT LƯU VĂN LANG KỸ SƯ ĐÔNG DƯƠNG

Một trí thức uyên bác
Kỹ sư Lưu Văn Lang (1880-1969) là một bậc kỳ tài trong phát triển khoa học kỹ thuật Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20, ông nổi danh với những phát minh độc đáo khiến kỹ sư Pháp phải kính nể.
Bác vật Lang tên thật là Lưu Văn Lang, sinh ra tại làng Tân Phú Đông, hạt Sa Đéc (nay thuộc xã Tân Phú Đông, TP Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp), trong một gia đình nghèo làm nghề rèn có truyền thống hiếu học.
Cha ông vốn là một người xuất thân Nho học nên ngay từ nhỏ, ông đã được
-Học chữ Nho
-Học tiếng Pháp
-Và cả chữ Quốc ngữ.
Vốn có tư chất thông minh lại chăm chỉ, ông học xuất sắc và giành được học bổng đặc cách vào học trường Chasseloup-Laubat tại Sài Gòn.
-Năm 17 tuổi, ông thi đậu tú tài của Pháp với số điểm xuất sắc
-nhận được học bổng sang Pháp du học tại trường École Centrale de Paris, còn gọi là trường Bá Nghệ trung ương Pháp quốc – nơi đào tạo kỹ sư lớn nhất tại Pháp thời bấy giờ.
Năm 1904, ông tốt nghiệp loại ưu bằng Kỹ sư Bá nghệ với thứ hạng 8/250 sinh viên
Trở thành kỹ sư đầu tiên ở Đông Dương là người bản xứ. Trong ngày lễ vinh quy bái tổ của ông, đích thân Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer về tận làng đọc diễn văn khai mạc.
Tại buổi lễ, ông được bổ nhiệm chức vụ GIÁM LÝ CÔNG CHÁNH LỤC BỘ SỞ CÔNG CHÁNH ĐÔNG DƯƠNG.
Sau đó, ông được cử ngay sang Vân Nam (Trung Quốc) để tham gia thiết kế, xây dựng tuyến đường sắt nối liền Hải Phòng (Việt Nam) và Côn Minh (Vân Nam). Tuyến đường sắt này dài 885km, được đánh giá là kỳ công nhất thế giới lúc bấy giờ vì nó xuyên qua rất nhiều địa hình đồi núi hiểm trở, khiến hơn 12.000 nhân công thiệt mạng vì tai nạn và bệnh tật trong 10 năm thi công.
Năm 1909, sau khi tuyến đường sắt hoàn thành, ông trở về Sài Gòn và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Sở Công chánh Đông Dương.
Bác vật Lang rất giỏi về chuyên môn, có trình độ học thức sâu rộng nhiều lĩnh vực, lại là người đức độ nên -không chỉ được người dân Nam Bộ đương thời kính trọng gọi là “QUAN BÁC VẬT Lang”
-mà người Pháp cũng kính nể.
Ngoài thực hiện giám sát nhiều công trình cầu đường ở khu vực Tây Nam Bộ, ông còn đi khắp các nước Đông Dương để giám sát việc thi công các công trình giao thông. Những công trình nổi tiếng ông từng tham gia có thể kể đến như
-cầu Monivong
-tuyến đường xe lửa Phnom Penh – Battambang (Campuchia)
-cầu Long Biên…
Năm 1929, Bác vật Lang tham gia sáng lập
VIỆT NAM NGÂN HÀNG tại Sài Gòn – ngân hàng mang tên Việt Nam đầu tiên kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Ngoài ra, ông còn tham gia thành lập Hội Khai Trí Việt Đức ở Hà Nội
và Hội SAMIPIC ở Sài Gòn, giúp nhiều sinh viên nghèo học giỏi được đi du học và trở thành nhà trí thức quan trọng.
Từ năm 1943-1944,ông tích cực truyền bá chữ quốc ngữ tại Nam Bộ.
TÀI TIÊN ĐOÁN chuyện cầu sập, đất lở
Bác vật Lang giỏi nghề đến mức khiến người Pháp bái phục, như khả năng có một không hai là chỉ với vài thao tác đơn giản có thể biết trước
-vùng đất nào sẽ sạt lở
-chiếc cầu sắt nào sẽ hư
-và núi nào sẽ nứt…
Chính vì khả năng này mà đương thời, người Nam Bộ thường đồn đại nhiều giai thoại về ông, như hiểu thấu “thiên cơ”, biết chuyện tương lai.
GIAI THOẠI
Có giai thoại kể rằng, trong một lần kiểm tra cây cầu Long Thạnh (huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu), ông lấy búa (có tài liệu cho là ông dùng gậy) gõ vào thành cầu và thông báo với viên tỉnh trưởng Bạc Liêu là
-1 tháng nữa cây cầu sẽ sập. Viên tỉnh trưởng hết sức bất ngờ bởi cây cầu này do kỹ sư Pháp thiết kế thi công và mới hoàn thành chỉ hơn 1 năm.
Viên tỉnh trưởng thắc mắc vì sao Bác vật Lang dám khẳng định như vậy. Đáp lại :
-Bác vật Lang giơ ra chiếc búa đồng thời khẳng định lại một lần nữa thời hạn để thực hiện được sửa chữa, khắc phục cây cầu.
Viên tỉnh trưởng không khỏi bật cười :
-cho là chuyện nhảm nhí.
Thế nhưng không ngờ chỉ 3 tuần sau cây cầu bỗng dưng sập. Bây giờ người dân địa phương vẫn còn gọi cầu Long Thạnh là CẦU SẬP.
Viên tỉnh trưởng vội vã :
-thỉnh Bác vật Lang đến dinh để xin lỗi, mong bỏ qua việc tắc trách và thái độ khinh khi lúc trước.
Vị Bác vật khi đó đã yêu cầu tỉnh trưởng xây dựng lại cây cầu mới đồng thời cho kiểm tra tất cả những cây cầu trong tỉnh. Sau đó, viên tỉnh trưởng mới biết rằng, Bác vật Lang chỉ cần
-DÙNG BÚA GÕ vào một số điểm trên công trình
-RỒI LẮNG NGHE là có thể biết cầu đang bị lỗi gì, hỏng nứt chỗ nào.
Nể phục tài năng, đức độ của Bác vật Lang, viên tỉnh trưởng đối đãi với ông hậu hĩ. Đáp lại những ân tình và cũng là cách nhắc nhở ông quan đầu tỉnh việc giờ giấc công vụ, Bác vật Lang :
-xây tặng viên quan này đồng hồ Thái Dương, đặt trước sân dinh tỉnh trưởng (nay tọa lạc tại đường 30/4, TP. Bạc Liêu).
Đồng hồ này xây bằng gạch tàu và xi măng nên dân gian thường gọi đồng hồ đá. Đồng hồ cao khoảng 1m, rộng 0,8m, mặt quay về hướng Bắc, gồm 3 phần. Phần giữa hình chữ nhật đứng, nhô ra phía trước; hai mặt hai bên xây hình vuông bằng gạch tàu, mỗi mặt khắc 6 chữ số La Mã theo hình vòng cung, biểu thị số giờ từ 1-6 và từ 7-12. Khi ánh nắng chiếu xuống phần hình chữ nhật tạo ra vệt sáng tối, con số nào nằm giữa hai vệt này là số giờ lúc ấy.
Mặt chiếc ĐỒNG HỒ THÁI DƯƠNG hướng ra đường nên lúc bấy giờ, viên chức, người dân muốn đi làm đúng giờ thì tạt ngang nhìn giờ trước khi đến nơi làm việc. Chiếc đồng hồ độc nhất vô nhị Đông Dương này đến nay đã hơn trăm tuổi nhưng vẫn hoạt động tốt, sai số chỉ tầm 5 phút.
Năm 2006, đồng hồ Thái Dương được xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh.
NGƯỜI NẮM GIỮ BÍ ẨN hang sâu nhất vùng Thất Sơn
Bác vật Lang gắn liền với giai thoại ly kỳ liên quan đến núi Cấm (An Giang), ngọn núi cao nhất vùng : Bảy Núi (Thất Sơn), nơi núi non trùng điệp với bao điều huyền bí, linh thiêng. Một trong những bí ẩn của vùng núi này -là những hang động sâu hun hút
-nhiều khe ngang lối dọc như mê cung.
Chuyện kể rằng, một lần nọ đoàn người Pháp tổ chức thám sát các hang trên núi Cấm và Bác vật Lang đi cùng. Đến một hang sâu gần đỉnh núi, mọi người cột dây thừng vào con khỉ rồi thả xuống. Một lúc sau, khi dây đã được thả rất dài thì nhẹ hẳn. Mọi người kéo dây lên thì con khỉ biến mất, dấu vết để lại giống như có ai đó đã cởi dây trói.
Đoàn thám sát tiếp tục cột con chó vào đầu dây thả xuống hang sâu. Được một lúc sợi dây cũng nhẹ tênh, kéo lên con chó biến mất và dấu vết để lại cũng giống như lần trước. Mọi người hoang mang lo lắng không biết dưới hang sâu có ác thú hay điều gì kỳ bí nhưng không ai dám xuống.
Bác vật Lang khi đó tự nguyện cho mọi người cột dây vào người mình để thả xuống hang. Bác vật xuống được một lúc, mọi người cũng giật thót người khi sợi dây bị tháo bỏ mà người không thấy trở lại. Cả đêm hôm ấy, mọi người hồi hộp chờ đợi nhưng không thấy nhà khoa học trở lên, hi vọng mỗi lúc một mong manh.
Trời gần sáng, bất ngờ Bác vật Lang từ dưới hang sâu bò lên, người lành lặn nhưng ai hỏi gì cũng chỉ ú ớ, lắc đầu, không nói lời nào. Ông được đưa về Sài Gòn chữa trị, sức khỏe có phần bình phục nhưng cũng chẳng nói năng. Có một lần, trả lời câu hỏi đã thấy gì trong hang? ông nói rằng: “Ở dưới núi là một mâm cơm dọn sẵn. Trên núi là một cái lồng bàn, giở ra là ăn…”. Đó là những câu nói cuối cùng trong đời của ông. Về sau người ta lấy tên ông đặt cho hang.
Bác vật Lang mất năm 1969, mang theo những bí ẩn dưới hang sâu mà bao nhiêu năm qua người ta tìm kiếm nhưng vô vọng. Nhiều tài liệu cho rằng, hang Bác vật Lang sâu đến nỗi đi cả ngày không giáp, cũng là hang sâu và bí ẩn nhất trên núi Cấm. Nhiều người gan dạ đã từng xuống khám phá hang nhưng vẫn chưa có ai đi hết được hang để biết nó sâu bao nhiêu, có những gì.
Bác vật Lang cũng nổi tiếng là người nhiều năm làm việc cho Pháp nhưng giàu tinh thần kháng Pháp. Ông có câu nói để đời: “Je suis trop vieux pour servir de valet!” (Tôi đã quá già để làm đầy tớ!).
Đây là câu trả lời của ông khi người Pháp tái chiếm Nam Bộ và mời ông tham gia Hội đồng tư vấn Nam Kỳ. Tên ông được dùng đặt tên đường ở quận 1, Saigon
Ở quê hương Sa Đéc, cũng có một ngôi trường, một con đường mang tên ông.

NGUỒN BÀI VIẾT: QUÍ NGUYỄN.

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2022

Bài Suy Niệm 162. CN lễ CTT Hiện Xuống.

 Bài Suy Niệm 162. CN lễ CTT Hiện Xuống.

05.6.2022
“CHUYÊN MÔN” CỦA CHÚA THÁNH THẦN.
Bài Tin Mừng : Ga 20, 19-23
1. Chúa TT là “Sức Mạnh”, là “Sức Khoẻ” của Đức Tin ! Ta lấy câu chuyện Thánh Phêro làm thí dụ : Không có sức mạnh của Thần Khí thì Phêro đã “khẳng khái” chối Thầy mình trước mặt một đứa đầy tớ mà nó là con gái nữa ! Sau lễ Ngũ Tuần với sức mạnh của Chúa TT là Phêro mở tung cửa làm một bài hùng hồn trước một đám rất đông người và mạnh mẽ nói : Cái sai mà người Do Thái đã làm là đã giết chết Giêsu và đồng thời mạnh mẽ kêu gọi điều người Do Thái phải làm là tin vào Giêsu Kito. Hôm đó đã có ba ngàn con người ô kê với Phêro ! Mẻ lưới đầu tiên quá ngon lành.
Mẻ lưới đó là nhờ “Sức Mạnh” của CTT !
Sau này, Phêro còn hiên ngang trước Hội Đồng Do Thái đầy quyền lực và cũng đầy lòng căm ghét những ai nói về Chúa Giêsu đã bị giết chết và đã sống lại. Phêro dõng dạc : Không lẽ chúng tôi nghe lời các ông hơn là nghe lời Thiên Chúa hay sao chớ ? Càng bị đánh đòn càng mạnh mẽ lên tiếng, mà rồi lại vui mừng vì chịu khổ lụy vì Thầy Giêsu của mình. Thiệt là ngon lành hết sức luôn nhé.
(Cv 4,13-21)
2. Ảnh “đại diện” của Chúa TT là ảnh nào ?
Bây giờ mỗi người đều có “ảnh đại diện” trên mạng Internet. Nhìn ảnh đại diện thì nhận ra người ấy là ai liền. Chúa TT là Đấng thiêng liêng mà cũng có ảnh đại diện đàng hoàng :
* Thứ nhất là chim bồ câu : Sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa thì trời mở ra, có chim bồ câu đậu trên đầu Chúa Giêsu và có tiếng Chúa Cha từ trời phán đây là CON Ta yêu dấu. Vậy tiếng từ trời là Chúa Cha, Giêsu là Chúa Con, chim Bồ Câu là CTT.
* Thứ hai là lưỡi lửa : Lễ Ngũ Tuần năm ấy, nơi các Tông Đồ đang ở, có Đức Mẹ nữa, gió lớn, bỗng nhiên trên đầu mỗi người có lưỡi lửa : Chúa TT ngự đến. Họ thành một con người mới hoàn toàn. Phêro mạnh bạo mở toang cửa, và phép lạ vĩ đại như chúng ta thấy hôm đó.
* Thứ ba : Một hiện hữu vô hình được gọi là Thần Khí. “Nói xong, Người (Chúa Giêsu) thổi HƠI vào các ông và bảo: anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ.” (Ga 20,22)
Ai cũng biết là có không khí nhưng không ai nhìn thấy được không khí ! Mọi vật, mọi loài sống là nhờ không khí. Mọi sự sẽ chết nếu không có không khí ! Chúa Thánh Thần là cần thiết cho đời sống Đức Tin của mỗi người chúng ta như sự sống cần không khí để được sống vậy.
3. Bảy Ơn Chúa TT :
Khi còn bé ai cũng được học 7 Ơn Chúa TT
- Thứ nhất là Ơn Khôn Ngoan : Giúp ta phân biệt điều phải, điều trái.
- Thứ hai là Ơn Hiểu Biết : Giúp ta hiểu sâu xa hơn những điều Chúa và Giáo Hội dạy.
- Thứ ba là Ơn Biết Lo Liệu: Giúp ta giải quyết mọi khó khăn trong đời sống.
- Thứ bốn là Ơn Sức Mạnh : Giúp ta chu toàn việc bổn phận và vượt qua mọi khó khăn.
- Thứ năm là Ơn Thông Minh : Giúp ta nhận ra Thánh Ý Chúa.
- Thứ sáu là Ơn Đạo Đức: Giúp ta tin yêu Chúa và giúp đỡ anh em.
- Thứ bảy Ơn Kính Sợ Thiên Chúa : Giúp ta tôn kính sự công bằng và quyền phép Chúa và sợ làm phiền lòng Ngài.
Đời sống ta có thể thừa tiền của mà lại thiếu thốn Ơn Chúa. Hãy xin cùng Chúa TT.
4. Thánh Phaolo lại kể cho chúng ta tới 9 Hoa Trái (Ơn) của Chúa TT. Phải là bậc siêu nhân mới thấy được. “ Còn hoa quả của Thần Khí là : Bác Ái, Hoan Lạc, Bình An, Nhẫn Nhục, Nhân Hậu, Từ Tâm, Trung Tín, Hiền Hoà, Tiết Độ” Rồi Thánh Phaolo còn nói thêm: “ Không có luật nào chống lại những điều như thế.”
(Gl 5, 22-23)
Có chỗ còn kể tới 12 Hoa Trái luôn, chẳng hạn như có thêm : Vui Vẻ , Tin Tưởng, Trong Sạch !
Toàn là những thứ tốt lành. Ai mà có được những Hoa Trái này thì thật sự là con cái của Chúa Trời, dù người đó là giàu hay nghèo, sang hay hèn, da đen hay da trắng hay da màu, hay thuộc bất cứ tôn giáo nào, vì tất cả mọi người đều là con cái của Chúa và Chúa yêu thương từng người. Cha mẹ nào cũng thương con cái kể cả khi con cái không chịu thương cha mẹ mình !
5. Trong Giáo Hội xưa nay khi bắt đầu làm việc gì, dù nhỏ hay lớn, cũng luôn xin Ơn Chúa TT trước hết. Có khá nhiều bài hát cầu xin Ơn Chúa TT. Kinh Chúa TT được đọc trước mỗi khi bắt đầu buổi cầu nguyện, và khắp mọi nơi trên thế giới đều như thế. Chúa TT đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống Giáo Hội và trong đời sống của mỗi người chúng ta.
Lạy Chúa, xin ban xuống trên chúng con Thần Khí tác tạo của Chúa, Người đổi mới tâm can, đổi mới muôn lòng. AMEN
Nguồn: Lm.Phê Rô Nguyễn Văn Đông.


Thứ Tư, 1 tháng 6, 2022

TỤNG KINH ĐÁM CHẾT (int)

 TỤNG KINH ĐÁM CHẾT (int)

Là một thầy tu đôi khi tôi được mời đến tụng kinh đám chết.
Tôi thấy thương xót cho những người có tang nhưng đôi khi tôi cảm thấy vô vọng vì có quá nhiều ngộ nhận về vai trò của người thầy tu trong việc tụng kinh đám chết.
Hôm nọ có một cô gái đến gặp tôi.
Cha cô vừa chết sáng hôm đó.
Cô van nài tôi: "Xin thầy đến tụng kinh cầu nguyện. Xin mở con đường cho cha con."
Tôi nhìn cô với tất cả từ tâm mà tôi có thể có được.
Tôi có thể cảm nhận được sự hoang mang và đau khổ của cô.
Tôi nghĩ cô chừng khoảng 20 tuổi, và là một người con hiếu thảo.
Trong tim tôi tôi tự nhủ: "Chao ôi, làm sao mà mình có thể mở đường cho ai đây.
Mình phải vẽ trên không cái lộ trình tưởng tượng nào cho cái trí tưởng tượng của cô ấy đi theo đây?
Làm sao mình có thể nói với cô gái tội nghiệp đang trong tình trạng tang chế bối rối này biết rằng không có cách nào giống như cô nghĩ ra như vậy."
Đức Phật đã từng bị đặt trong trạng huống này một lần, và ngài đã trả lời như thế nào?
Môt ngày nọ một thanh niên đến hỏi đức Phật: "Kính bạch Tôn giả, cha con vừa chết.
Xin đến cầu nguyện cho ông.
Vực hồn ông lên để ông có thể lên thiên đàng.
Các thầy đạo Bà la môn có làm những nghi thức như vậy nhưng ngài là Phật có nhiều quyền năng hơn họ.
Nếu ngài chịu làm thì chắc chắn linh hồn cha con sẽ bay thẳng lên thiên đàng."
Đức Phật trả lời: "Được rồi.
Con đi đến chợ mua dùm ta hai chậu đất nung và ít bơ."
Chàng thanh niên mừng rỡ vì đức Phật đã chịu làm bùa phép để cứu linh hồn cha mình.
Anh lật đật xuống phố mua những vật được yêu cầu.
Rồi đức Phật chỉ dẫn: "Bỏ bơ vào một chậu và bỏ đá vào chậu kia.
Xong ném cả hai chậu xuống nước."
Chàng thanh niên làm theo, và cả hai chậu đều chìm xuồng đáy hồ.
Rồi đức Phật nói tiếp: "Bây giờ lấy một cây gậy và chọc vào hai chậu ở đáy hồ."
Chàng thanh niên làm theo.
Hai cái chậu bị vỡ và chất bơ vì nhẹ nên nổi lên mặt nước trong khi đá nặng nên vẫn nằm dưới đáy hồ.
Đức Phật lúc đó nói: "Giờ lẹ lên, đi mời hết các thầy tu đi.
Nói với họ đến đây tụng sao cho bơ chìm xuống đáy và đá nổi lên trên."
Chàng thanh niên nhìn đức Phật sửng sốt.
Anh nói: "Kính bạch Tôn giả, bộ ngài dỡn sao.
Dĩ nhiên không ai tin bơ nhẹ thì chìm mà đá nặng lại nổi.
Điều đó trái ngược với luật tạo hóa."
Đức Phật cười và đáp: "Vậy con không thấy sao, nếu cha con sống một cuộc đời tốt lành, thì các việc làm của ông sẽ nhẹ như bơ, do đó bất kể tình huống nào cha con cũng sẽ thăng lên thiên đàng.
Không ai có thể ngăn cản được điều đó, ngay cả chính ta.
Vì không ai có thể cưỡng lại luật nghiệp báo.
Nhưng nếu cha con sống một cuộc đời xấu xa, thì cũng như những hòn đá nặng kia, ông sẽ chìm xuống địa ngục.
Không có số lượng cầu nguyện nào của mọi giáo sĩ quyền năng trên thế gian này có thể làm ngược điều đó."
Chàng thanh niên bấy giờ đã hiểu.
Anh ta sửa đổi cái quan niệm sai lầm của mình và không còn đi xin xỏ một việc không thể được.
Câu chuyện ví von của đức Phật đã làm sáng tỏ một điều:
Không ai có thể cứu chúng ta, nhất là sau khi chúng ta đã chết.
Theo luật nghiệp, chúng ta là sở hữu chủ của mọi việc làm của chúng ta, là người thừa kế mọi việc làm của chúng ta.
Hành động của chúng ta là vật sở hữu thật sự của chúng ta.
Chúng là chỗ nương tựa và quyến thuộc thật sự của chúng ta.
Chúng là nơi sinh trưởng chúng ta.
Khi chết chúng ta không đem theo đuợc một xu con nào hay một của cải vật chất gì.
Ngay cả một trong những người thân yêu nhất của chúng ta cũng không thể đi theo.
Cũng như chúng ta đã đến một mình do nghiệp của mình, chúng ta phải ra đi một mình.
Nếu chúng ta hiểu rõ luật nghiệp thì chúng ta sẽ cảm nhận được tầm quan trọng phải sống một cuộc đời cao đẹp khi chúng ta còn sống.
Vì nếu chờ đến khi chết thì quá trễ, không có gì có thể thay đổi được nữa.
Có thể là hình ảnh về 2 người và mọi người đang đứng
Nguồn bài viết: Trí Bùi Trọng

CÁI GIÁ CỦA SỰ TRUNG THỰC

 CÁI GIÁ CỦA SỰ TRUNG THỰC

Đây là câu chuyện xảy ra vào buổi trưa tháng 8/2010 tại thành phố New York, Hoa Kỳ. Harris và một đồng nghiệp trong công ty quảng cáo cùng đi ăn trưa tại nhà hàng. Cả hai đã gặp một người ăn xin khiến họ không thể nào quên…
Khi hai người đang đứng bên cạnh đường thì một người ăn xin tiến về phía của Harris. Người ăn xin ấp úng nói: “Tên tôi là Valentine, tôi đã thất nghiệp 3 năm rồi, và chỉ dựa vào ăn xin sống qua ngày. Tôi nói ra hoàn cảnh thật của mình mong cô có nguyện ý giúp đỡ. Cô có thể cho tôi một ít tiền lẻ để mua chút đồ ăn và nước uống không?”
Sau khi nói xong, Valentine đưa ánh mắt nhìn Harris như đang đợi câu trả lời.
Nhìn Valentine, Harris đã động lòng trắc ẩn. Cô mỉm cười nói với Valentine: “Không vấn đề gì, tôi hoàn toàn nguyện ý giúp cậu”. Nói rồi Harris đưa tay vào túi để lấy tiền cho Valentine, nhưng tiếc là cô không còn chút tiền mặt nào, mà chỉ có một thẻ tín dụng. Cô thấy băn khoăn, cầm thẻ tín dụng mà không biết phải làm sao.
Nhìn thấy Harris đang tỏ vẻ ái ngại, Valentine nhỏ giọng nói: “Nếu như quý cô tin tưởng, có thể đưa thẻ tín dụng cho tôi mượn.” Harris vốn có tấm lòng lương thiện nên cô không một chút nghi ngờ đã đưa thẻ cho Valentine.
Cầm thẻ tín dụng xong, Valentine chưa vội rời đi mà còn nói với Harris: “Ngoài việc mua đồ ăn, tôi còn có thể mua thêm ít nước không?”
Harris không suy nghĩ gì thêm, cô nói: “Hoàn toàn có thể, nếu như cậu còn cần mua thứ gì thì cứ mua đi nhé!”
Valentine cầm thẻ tín dụng rồi rời đi. Harris và bạn cùng nhau bước vào nhà hàng. Ngồi xuống không lâu, cô bắt đầu thấy hối hận. Harris có vẻ buồn buồn rồi nói chuyện với bạn: “Thẻ tín dụng của mình không có mật mã, trong thẻ có tới 100.000 USD, cậu kia chắc sẽ cầm mà bỏ trốn, phần lớn là không trả lại cho mình rồi.”
Người bạn lại nói thêm vào: “Bạn quá dễ tin tưởng người xa lạ. Bạn thật quá lương thiện lại ngây thơ nữa!”
Harris giờ nghĩ lại, cô không còn tâm trạng để ăn cơm nữa. Đợi bạn ăn xong rồi hai người rời khỏi nhà hàng.
Điều ngạc nhiên mà họ không ngờ tới là Valentine đã đợi ở bên ngoài từ lâu. Anh dùng hai tay đưa thẻ tín dụng và chi phiếu thanh toán cho Harris. Rồi anh nói: “Tôi đã tiêu hết 25 USD để mua một ít đồ dùng rửa mặt, hai bình nước. Quý cô có thể kiểm tra đối chiếu ngay bây giờ.”
Nhìn người ăn xin biết giữ chữ tín, Harris cùng với bạn của mình đã vô cùng kinh ngạc và cảm động. Cô không thể làm chủ được mà nắm tay Valentine rồi liên tục nói: “Cảm ơn cậu, cảm ơn cậu!”
Valentine làm bộ mặt khó hiểu về tình huống này: “Cô giúp tôi, tôi phải cảm ơn cô mới đúng chứ. Tại sao cô lại phải cảm ơn tôi?”
Sau đó Harris đã đem câu chuyện này kể cho một tòa soạn báo ở New York. Sự thành thật của Valentine khiến tòa soạn cảm động, giúp tờ báo hướng con người đến với chuẩn mực đạo đức cao hơn. Bài viết do đó cũng được nhiều người đón nhận. Nhiều độc giả đã gửi thư đến tòa soạn nguyện ý giúp đỡ Valentine.
Một thương nhân ở bang Texas sau khi xem báo, ông đã gửi cho Valentine hơn 6000 USD kèm theo lời khen tặng về sự thành thật.
Điều làm cho Valentine vui mừng hơn nữa đó là chỉ vài ngày sau anh đã nhận được cuộc điện thoại từ hãng hàng không Wisconsin Airlines. Hãng mời anh về làm nhân viên phục vụ, đồng thời thông báo rằng anh có thể ký hợp đồng đi làm ngay.
Trong một khoảng thời gian ngắn Valentine đã nhận được niềm vui quá lớn.
Anh cho biết :"Từ nhỏ mẹ tôi đã dạy rằng : làm người nhất định phải thành thật và giữ chữ Tín.
Valentine giờ đã hiểu: làm một người thành thật nhất định sẽ nhận được phúc báo!
(Dennie Lam st)
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang ngồi và ngoài trời
Nguồn bài viết: Thu Hương.