Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện kể.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện kể.. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 12, 2023

Tâm sự cuối năm

 Tâm sự cuối năm cũ- đầu năm mới !

Hôm nay ngày 31.12.2023, mấy tiếng đồng hồ nữa là cả thế giới bước vào năm mới 2024 ! Mỗi người lại có thêm một tuổi nữa cho đời mình. Vậy là mình bước vào tuổi 84 ! Cả thế giới đều được nghỉ ngày đầu năm ! Chỉ trừ bệnh tật là không chịu nghỉ và ăn uống cũng vậy !
Là linh mục ở nhà hưu dưỡng nên có trọn thời giờ lo cho người nghèo. Vì lo cho người nghèo nên có nhiều ân nhân trong nước và nước ngoài. Và hôm nay ngày cuối năm nên mình nói lời cảm ơn các ân nhân xa gần đã giúp đỡ người Thượng nghèo Kontum qua trung gian của mình. Không những là cảm ơn bằng lời mà còn cả tâm tình biết ơn sâu đậm. Các bạn lương có, giáo có, quen có, lạ có, gần có, xa có . . . đã gửi từ hiện vật đến tiền bạc đủ mọi loại đến tận nhà, hoặc đến tài khoản. . . Mình đã chuyển đến tận tay người nghèo. Đặc biệt cảm ơn bà Bạch Hố Nai, Sơ Thanh Bà Rịa, Dũng-Thủy Saigon, Vy-Vinh Mỹ, anh Phong Mỹ, cô Thanh Na Uy, gia đình Thụ Nhân cựu học viên Đại Học Đàlat ở Mỹ và Canada, cô Bùi Anh Thơ Mỹ cựu sinh viên Đại Học Đalat . . . Cảm ơn chúng con cựu Nội Trú giáo xứ Đức An xưa . . . Ôi ! Cảm ơn nhóm Thăm Viếng của 17 làng. Cảm ơn các người cộng tác trực tiếp với mình tại Kontum. Nhiều lắm , còn có thể kể nữa. . . Thật tình mà nói : Tiền vô nhà khó như gió vô nhà trống ! Nghèo thì hay bệnh mà bệnh thì phải uống thuốc, các tiệm bán thuốc đâu có phát không ?! Nghèo đói lại sinh nhiều, mẹ không sữa mà không có tiền mua sữa ! Phải giúp chứ ! Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ ! Thấy rồi sao không đổ lệ ?
Sang năm mới mong quý ân nhân xa gần tiếp tục giúp đỡ. Mình ở tuổi 84, quỹ thời gian còn ít lắm thôi. Qua được thế giới bên kia, mình sẽ không quên các bạn, mà giả như mình có quên thì Chúa không bao giờ quên được vì “ khi Ta đói các ngươi cho ăn . . . “ ! Chúng ta nên khắc ghi trong lòng những nguyên tắc này :
- Cho người nghèo là cho chính Chúa .( Mt 25,31-46).
- Cho người nghèo là tích trữ kho tàng trên trời . (Mt 19, 16-22).
- Cho người nghèo là cho chính mình mà lãi suất lại rất cao. ( Mt 25,40).
Lạy Chúa , chúng con sắp bước vào năm mới 2024, xin Chúa ban cho các ân nhân của người Thượng nghèo Kontum một năm mới An Khang, Thịnh Vượng; xin Chúa ban cho gia đình họ suốt năm Bình An và Hạnh Phúc ; xin Chúa cho công việc làm ăn của họ luôn được tốt đẹp.
Xin Chúa nhận lời con xin. Amen
Linh mục Phêro Nguyễn Vân Đông
Nhà hưu dưỡng gp Kontum.

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2023

ĐỨC MẸ LA VANG CỨU SỐNG BA TÔI

 ĐỨC MẸ LA VANG CỨU SỐNG BA TÔI

(Chuyện có thật)
Qua lời kể của tiến sĩ Lê Tín Hương
Con gái của một Bác Sĩ Quân Y
"Gia đình tôi là một tri thức được thụ hưởng nền giáo dục vô thần, chúng tôi không tin có thần thánh, kiếp sau, nhưng Tôi và GĐ tôi ngàn lần tạ ơn Thiên Chúa và Đức Mẹ La Vang đã làm Phép Lạ cứu Ba tôi- đặc biệt là ban ơn Đức Tin cho GĐ Tôi, đây mới là món quà cao quý không kể xiết".
* Sau đây là tường thuật của cô Tín Hương:
Ngồi liên tưởng đến Thánh Lễ Đại Trào Khai mạc năm Toàn xá, kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La vang và kỷ niệm 10 năm Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam.
Tôi hồi tưởng về một khung trời ấu thơ xa xưa với một biến cố trọng đại đến với gia đình tôi cách đây 40 năm về trước, vào một ngày cũng mưa gió như hôm nay.
Năm 1958, ba tôi làm việc tại Bệnh viện Trung Ương thành phố Huế. Mỗi tháng ông cùng các bác sĩ đi thanh tra các Bệnh viện nhỏ trong vùng một lần.
Hôm ấy ông sửa soạn đi thăm bệnh viện Quảng Trị, cách thành phố Huế khoảng 65 cây số về phía Tây Bắc.
Tôi còn nhớ rõ hôm đó trời mưa lạnh, mưa rả rích suốt ngày. Ba tôi chuẩn bị lên đường. Ba tôi mặc chiếc Jacket bằng da và dặn dò mẹ tôi một vài điều gì đó rồi vội vã ra xe.
Bước xuống mấy bậc thềm, ông gặp ngay cha Cao văn Luận, người cùng quê quán với cha tôi. Ngài rất thương yêu gia đình tôi và niềm mong mỏi của ngài là được thấy gia đình tôi theo Đạo.
Điều mà đối với cha mẹ tôi là một trở ngại rất lớn, không thể nào thực hiện được. Họ hàng cả hai bên đều không có ai theo Đạo Công Giáo, vả mẹ tôi ĐÃ QUY Y pháp danh là Nguyên Kha. Mẹ tôi cũng ĐÃ XÂY CHÙA cho làng ngoại tôi ở Huế.
Cả một đời mẹ hy sinh cho hạnh phúc của chồng con, nhưng trong vấn đề tín ngường bà rất là cương quyết, vì thế ba tôi cũng rất tôn trọng mẹ tôi, mặc dù ông rất mến cha Luận.
Cha Luận gặp ba tôi, ngài đưa cho ông một tấm ảnh và bảo:
-"Tôi mới đi kiệu ngoài Lavang về. Đức Mẹ đã làm nhiều phép lạ và rất linh thiêng, ông hãy giữ lấy mà cầu nguyện”.
Ba tôi cười cười, nói cám ơn cha, rồi thuận tay ông nhét tấm ảnh vào túi trong của áo Jacket: -"Con phải đi ngay cha ạ, mọi người đang chờ con ở ngoài kia”.
Vừa nói ông vừa chào từ giã rồi đi ra xe.
Buổi chiều trong khi người làm dọn cơm, chúng tôi ngồi nghe mẹ kể chuyện. Mẹ đang kể một đoạn trong câu chuyện “những kẻ khốn cùng” của văn hào Victor Hugo, thì chúng tôi nhận được hung tin.
Chiếc xe chở ba tôi và bốn người nữa bị lật tại cầu Giồng Quảng Trị chìm xuống sông rồi. Tất cả đều tử nạn. Bệnh viện báo tin và yêu cầu gia đình đến ngay để nhận xác về mai táng. Trước biến cố bất ngờ, mẹ tôi như người bị sét đánh, sững sờ ôm lấy chị em chúng tôi. Làm sao tôi có thể diễn tả hết nỗi đau đớn trong lòng mẹ tôi lúc này…
Mẹ tôi và chị em tôi theo xe bệnh viện ra Quảng Trị lấy xác cha. Đến nơi, tại trạm gác nhỏ nằm cuối chân cầu, xác của ba ông : Bác sĩ và nhân viên bệnh viện đã được vớt lên, còn thi hài ba tôi chưa tìm thấy.
Người ta chưa vớt được, nhưng họ QUẢ QUYẾT rằng ông cũng cùng một số phận với những tử thi đang nằm đó, vì ông ở dưới nước quá lâu.
Thân nhân của các nạn nhân đã có mặt đông đủ, họ kêu gào khóc lóc rất não lòng. Em tôi còn nhỏ chưa hiểu lắm, nép trong vòng tay mẹ ngơ ngác nhìn quanh: “Ba đâu, ba đâu mẹ!”. Mẹ tôi chưa kịp dỗ dành thì bỗng có tiếng người la lớn: “Đây rồi, vớt được xác cuối cùng rồi”.
Là ba tôi đó. Mẹ tôi nhào tới. Người ta khiêng xác ba tôi đặt lên chiếc băng ca. Lại có tiếng la lên: -"Trời ơi, ông ta hình như chưa chết. Còn thở, hơi thở yếu lắm.Làm hô hấp cho ông ta ngay đi”.
Và ba tôi quả còn sống thật. Mẹ tôi quỳ xuống lạy trời, lạy đất.
Cám ơn Trời-Phật đã cứu sống ba tôi. Nước mắt mẹ tôi một lần nữa tuôn trào, nhưng lần này là dòng nước mặt hạnh phúc không ngờ. Chúng tôi quỳ xung quanh băng ca. Ba tôi tỉnh lại hẳn.
Ông nói bằng một giọng thật yếu ớt, câu nói đầu tiên tôi không bao giờ quên được: “
-"Hãy xin cha rửa tội, rửa tội cho cả nhà. Đức Mẹ Lavang đã cứu ba”.
Nói xong, ông đưa tay vào túi áo lục lọi kiếm tìm, ông rút ra một tấm ảnh Đức Mẹ Lavang, tấm ảnh mà Cha Luận đã cho ông trước chuyến đi định mệnh. Ba tôi nói tiếp:
-"Đây, chính Bà này đã cứu ba. Ba bị mắc kẹt trong gầm xa không sao ra được. Bà đã đến lôi ba ra. Ra khỏi cửa xe, Bà đẩy ba nổi lên mặt nước"
Bà nói:
-"Ta là Mẹ Lavang, Ta đến cứu con."
Tôi chợt nghĩ lại:
-Nếu ngày hôm ấy ba tôi không vội vàng ra đi và có thời giờ tiếp chuyện cha Luận, thì có lẽ bức ảnh Đức Mẹ Lavang đã bị bỏ quên trong ngăn kéo cùng với sự hững hờ của ba mẹ tôi rồi.
Sau biến cố đó, gia đình tôi gồm ba mẹ và 7 anh chị em được rửa tội trong SỰ TỰ NGUYỆN rất hoan hỉcủa mẹ tôi.
Ba vị Linh mục thân thiết nhất của gia đình là cha Cao văn Luận, cha Ngô văn Trọng, cha Vũ minh Nghiễm dạy giáo lý cho gia đình, đã dâng Thánh Lễ và ban phép Rửa Tội cho chúng tôi tại Thánh Đường Đức Mẹ Lavang Quảng Trị.
Mẹ tôi vui mừng hân hoan và tin tưởng, bà lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày. Cho đến ngày nhắm mắt, bà vẫn là một tín đồ sốt sắng, sùng kính Đức Mẹ tuyệt đối. Đây là hình ảnh cuối đời của mẹ tôi.
Tôi còn nhớ, sau ngày gia đình chịu PHÉP RỬA TỘI, Mẹ tôi đã phải chịu đựng biết bao lời ra tiếng vào của họ hàng và những người quen biết….
Mỗi lần than vãn với Mẹ thì mẹ tôi lại khuyên:
-"Ba là cột trụ, là nguồn sống của gia đình. Đức Mẹ đã cứu sống ba là cứu sống cả gia đình chúng ta. Vì thế dù cho phải chịu bao nhiêu thử thách, khó khăn cũng phải chấp nhận, để cảm tạ ân sủng đó. Tình yêu luôn luôn có cái giá phải trả, và cái giá đó có nghĩa gì đâu với ân huệ mà Đức Mẹ đã ban cho gia đình chúng ta."
Mẹ tôi nói đúng, ƠN LẠ mà Mẹ Lavang đã ban là một biến cố lớn trong đời sống tâm linh của gia đình, cùng là một biến cố trong lịch sử gia tộc. Ba tôi năm nay đã gần 90 tuổi.
Ông vẫn còn GIỮ VÀ KÍNH tấm ảnh năm xưa đã cứu mạng ông. Tấm ảnh ngày nay đã mờ nhạt theo thời gian, nhưng mỗi ngày ông vẫn ngồi bên Mẹ, đọc kinh, cầu nguyện, truyện vãn với Mẹ một cách thân tình.
Câu chuyện này, vẫn thường được tôi kể lại cho các cháu nghe, như một chuyện thần thoại nhưng có thực, chuyện xẩy đến từ một phép lạ của Đức Mẹ Lavang đối với gia đình tôi nói riêng và nhiều gia đình khác nói chung.
Ngày đại lễ khai mạc Năm Thánh hôm nay trời mưa nhiều. Tôi lái xe đi trong cơn mưa như trút, nhưng lòng tôi HẠNH PHÚC vô cùng vì tôi được có Chúa, có ánh sáng niềm tin của Ngài chiếu rọi tâm hồn tôi. Tôi có tình yêu bao la rộng mở của Đức Mẹ đã đến với gia đình tôi từ thuở tôi mới lên 10…
Ngày nay tôi cũng vẫn cảm thấy mình may mắn, đã được hưởng một ân huệ quá đặc biệt đến từ tình yêu bao la không bờ bến của Đức Mẹ….
Tôi lắng nghe những lời huấn từ của Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận. Bằng giọng nói rõ ràng trầm ấm, Ngài nhắc lại lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam từ những ngày đầu tiên. Qua biết bao nhiêu thăng trầm gian khổ có máu, có nước mắt và ngày nay đã được thăng hoa với 117 Vị Thánh Tử Ðạo.
Gia đình ngài cũng đã theo Chúa cách đây 300 năm, với những thử thách cùng với nhiều ân sủng của Chúa, của Ðức Mẹ, đặc biệt là Mẹ Lavang. Ngài cũng kể lại những phép lạ mà Ðức Mẹ đã ban, trong đó có phép lạ chữa lành bệnh cho cha cố Trọng, cha Linh Hướng của gia đình tôi.
Trong cái lạnh của mùa Ðông, lòng tôi bỗng nhiên ấm cúng. Tôi thấy tâm hồn như nở hoa. Ðóa hoa Yêu Thương trong vườn hoa rực rỡ của niềm Tin. Tôi hy vọng sẽ mãi mãi là đóa hoa đầy hương sắc, không bao giờ héo rũ úa tàn. Tôi thầm cám ơn Chúa, cám ơn Mẹ, cúi đầu để che dấu dòng lệ cảm xúc đang âm thầm rơi.
Dòng lệ của hơn bốn mươi năm trước kể từ khi gia đình tôi được ƠN LẠ của Ðức Mẹ Lavang, trải qua biết bao sóng gió bể dâu… Có lúc đã ngưng đọng, có lúc tưởng chừng bị lãng quên, hôm nay lại từng giọt chảy dài… Những giọt lệ vui mừng.
Những giọt lệ bồi hồi nhắc nhở tôi niềm hạnh phúc được nương náu trong Tình Yêu và Ân Sủng của Chúa, của Mẹ Maria.
Con gái nhỏ của Mẹ Maria Tín Hương
Đời đời tạ ơn Đức Mẹ La Vang.
California, Chúa Nhật ngày 22 tháng 2 năm 1998.
💚💚💚💚💚
Tình cờ đọc trên mạng về ÂN PHƯỚC của ĐỨC MẸ LAVANG, tôi nhớ lại cơ duyên của chính mình được làm con của ĐỨC MẸ; nay đã gần cuối đời (sinh năm 1934, Giáp Tuất; năm nay 2023, Quý Mão: 89 tuổi, tuổi ta là 90)
Chuyện Thật ghi lại, lưu cho con cháu và chia sẻ với bà con bạn bè thân hữu đôi điều về ĐỜI TÔI.
Hè năm 1947, khi học xong lớp Nhứt Trường Tỉnh Vĩnh Long, tôi không có phương tiện để lên Saigon tiếp tục vào Trung học, Ba Má tôi kẹt ở quê Tam Bình. Vùng này VC còn kiểm soát, nên không gởi tiền cho tôi được.Tôi chưa biết tính sao!!!
Một hôm có người quen đem thơ của Má tôi gởi cho tôi cho biết gia đình bình yên và kèm theo một lá thơ khác, dặn tôi đem đến giao tận tay Cha Tỏ : Viện Trưởng Chủng Viện Vĩnh Long.
Khi Cha Chủng Viện coi thơ xong, Ông bảo tôi:
-"Cha gởi con vào Chủng Viện, vậy ngày ...(quên rồi!) con đến đây, Cha sẽ sắp đặt cho con.
Thật hoàn toàn bất ngờ. Thì ra Cha Tỏ - Cha Sở Nhà Thờ Tam Bình gởi tôi vào Chủng Viện.
Cha Tỏ quen với Ba Má tôi, vì Ông Nội tôi hiến đất cất Nhà Thờ Tam Bình - mặc dầu Gia Đình tôi mấy đời thờ Phật. Ba má tôi có ruộng đất gần Nhà Thờ, thường đến thăm đất và tiếp tế cho Cha những lúc khó khăn.
Sau này Má tôi kể lại: khi nghe tôi không đi Saigon học được, Cha Tỏ nói với Ba tôi:
-"Tình hình không biết ra sao? Nhưng việc học hành của con cái không thể bỏ dở được. Ông sẽ giúp tôi vào Chủng Viện Vĩnh Long, tiếp tục việc học."
Ở Chủng Viện được vài tháng, Tam Bình được bình định, giao thông phục hồi, Má tôi lên tỉnh VL dắt tôi lên Saigon, trước là thăm Cô Dượng 5 của tôi là Bác Sĩ Trần Quang Diệu (Tổng Trưởng Y Tế thời Thủ Tướng Trần Văn Hương, ĐỆ Nhị Cộng Hòa), sau là lo việc học cho tôi.
Trưởng Nam của Cô Dượng tôi là em V... đang học 6eme ở Taberd, nên Ông dắt tôi vào Taberd gặp TCF Directeur VENANT, người Pháp, xin nhập học. Ông này nhìn Livret de notes của tôi, thấy học ở Chủng viện nên chỉ khảo thí sơ sơ Pháp Văn và Toán, rồi cho tôi vô Nội trú, học lớp 6eme C.
Vì học trễ gần 2~3 tháng, các môn khác tôi theo kịp, chỉ môn Anh Văn là không biết gì hết, cho nên mỗi ngày, sau giờ học, TCF Maximin, giáo sư Anh Văn nhờ một học sinh giỏi cùng lớp hướng dẫn tôi: "Anglais vivant".
Anh "Bông" dẫn tôi đến Phòng hợp Hội Thánh Mẫu, có chỗ ngồi học... lần lần tôi quen với nhiều bạn ở đây, xin và được nhập hội.
8 Dec.1948, Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Hội Thánh Mẫu chọn 3 học sinh hiến dâng trọn đời mình làm: "CON ĐỨC MẸ", Nguyện làm theo Thánh Ý của MẸ suốt đời.
Ba học sinh được chọn là:
- Anh Francois Trần Thái Trung.
- Anh Pierre Nguyễn Văn Tường
- và tôi: Antoine Lưu-Vĩnh-Lữ
Anh Trung và Anh Tường là Đạo Dòng, còn tôi lúc đó còn" ngoại đạo"
Nhưng vì sống trong Chủng viện nên thuộc hết các kinh, Giáo Lý và " theo thói quen" mỗi sáng đều dự Thánh Lễ. Sau Lễ, TCF Maximin cho tôi một tấm hình "ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP";
Tôi bọc plastic và giữ đến bây giờ .
Ngày thường tôi để Hình trên bàn viết.
Khi đi đâu thì để trong túi áo.
Lúc nào cũng có ĐỨC MẸ bên mình
Trong suốt cuộc đời.
Nhờ vậy mà tai qua nạn khỏi.
THOÁT NẠN KHI Ở TRONG QUÂN NGŨ
Tôi ở TRƯỜNG VÕ BỊ SĨ QUAN ĐÀ LẠT đi công vụ với Trung Úy Đát đến TRƯỜNG HẢI QUÂN NHA TRANG. Tôi đưa Nhà Tôi và con gái cùng đi cho biết Nha Trang.
Đến ngày về, tình cờ Cậu 11 của Nhà tôi đi du lịch miền Trung với chiếc xe DS 19, mới mua, ghé Nha Trang, nên chở Nhà Tôi và con tôi về Dalat.
Còn Tôi đi quân xa Dodge 4. Ba người ngồi băng trước: Tài xế, tôi, Trung Úy Đát. Xe chạy bon bon, gió hiu hiu, tôi lim dim ngủ lúc nào không hay...
Chợt giựt mình tỉnh giấc, trời đất âm u. Tôi mới biết mình đang nằm trong lòng xe lật úp. Đưa tay sờ đầu, sờ cổ, toàn thân, tay chân, không nghe đau đớn gì, liền bò ra thì nhận thấy xe đã bị lật úp dưới Hố. Tài xế văng ra nằm bất tỉnh, Trung Úy Đát bị kẹt bên hông xe. Tôi trèo lên sườn núi, đến mặt đường, đón xe ngừng lại, kêu cứu, nhờ người phụ giúp đẩy lật xe lại và khiêng Tr. Úy Đát ra, rồi nhờ xe đưa dùm 3 người chúng tôi đến Quân Y Viện. Trên xe, tôi sờ túi, lấy HÌNH ĐỨC MẸ ra hun :
💚"Tạ Ơn Mẹ che chở cho con."
Bác Sĩ Quân Y khám tới, khám lui, mấy lần , thật kỹ... Ông nhìn tôi nói:
-"Thiệt lạ, 3 người lật xe, 2 người bị thương nặng, trung úy không sao hết, một vết bầm nhỏ cũng không. Tôi chưa hề thấy, mừng cho trung úy."
Có phải là ĐỨC MẸ đã ân khiến cho Cậu 11 đến Nha Trang, chở Nhà tôi và con gái tôi, đi xe riêng về Dalat, thoát nạn... Còn nếu đi xe chung với tôi, chưa biết ra sao? và ĐỨC MẸ che chở cho tôi an toàn khi xe lật xuống hố.
-"CON TẠ ƠN MẸ !"
Vào năm đó, tôi hướng dẫn TRƯỜNG VÕ BỊ SINH VIÊN SĨ QUAN bài tập: " Dọn Bãi nhận thả Dù tiếp tế". Đại Tá Lâm Quang Thơ, Chỉ huy trưởng đến thăm lớp học. Sau khi trình bày xong, tôi mời Ông di chuyển sang mé rừng bên kia, để tiện quan sát hơn. Riêng Anh Sinh Viên mang máy Truyền Tin không đi theo...
Dù thả... có một dù không mở, rơi thẳng xuống, chỗ tôi đứng lúc nãy, trúng ngay anh SV, tử vong !
Nếu tôi không mời Đại Tá CHT sang bên kia, thì cả 3 người cùng đứng chỗ đó chắc đều sang bên kia thế giới rồi!
Tôi lấy hình ĐỨC MẸ ra hun:
💚"CON TẠ ƠN ĐỨC MẸ"
Có phải ĐỨC MẸ dạy tôi, mời Đại Tá CHỈ HUY TRƯỞNG đi qua bên kia, nên cả hai cùng thoát nạn?
Năm 1970, Tôi là Giám Đốc Nha Báo Chí, nên ngày nào khoảng 5~7 giờ chiều đều phải có mặt tại văn phòng để ký duyệt các ấn bản
-23 nhựt báo Việt văn
-13 báo Hoa Văn
-2 báo Pháp văn
-1 báo Anh Văn
Cho kịp in trong đêm, để phát hành vào sáng hôm sau.
5 giờ chiều mùng 3 TẾT, tôi ra xe với cả gia đình đi xuống Sở, cách nhà khoảng 20 phút, để duyệt ký xong là cùng nhau đi ăn cơm chiều. (Các con tôi cũng rất thích lên văn phòng tôi để xem sách báo nhi đồng, tuổi hoa... nên thường xuyên cả gia đình đều lên văn phòng tôi hết.)
Vừa lên xe, điện thoại reo, tôi phải trở vô nghe điện thoại, thì ra Ông Đại Sứ Đài Loan và Ông Tùy Viên Báo Chí muốn đến thăm tôi, chúc Tết.
Tôi trở vô chuẩn bị để tiếp khách, đến hơn 6 giờ khách về
Tôi mới tiếp tục đi xuống Sở. Khi đến đường Tự Do thì nghe một tiếng nổ rất lớn, tôi nói :
-"Chà chuyện gì ? ở đâu ? mà nổ lớn dữ vậy!"
Đến gần Nha Báo Chí, thấy cảnh sát đầy đường, và sau đó thì tôi được báo cáo là VC đặt chất nổ ở Nha Báo Chí. Văn Phòng của tôi, bàn ghế, tủ, nát như cám, chỉ có một việc mà không ai hiểu được: 2 bức hình
-Một chụp chung với Đức Giáo Hoàng khi Phái Đoàn ngoại giao thăm viếng Ý
-và chân dung Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ký tặng cho tôi, là còn nguyên vẹn, không bể kiếng, trầy truột gì hết.
💚Một ƠN PHƯỚC hết sức lớn
Nếu hôm đó, Ông Đại Sứ không đến thăm, thì giờ đó tôi và cả gia đình tôi cùng với khoảng 70~80 nhân viên kiểm báo đều có mặt ở đó, thì không biết bao nhiêu người bị thương hay tử vong?.
Vì là Tết, sau khi kiểm báo xong, không thấy tôi đến, anh chị em rủ nhau xuống các quán nhậu trong EDEN ăn Tết, kể cả anh tùy phái cũng đi theo luôn..., vì vậy mà tất cả thoát nạn.
Cả gia đình tôi, hôm đó nếu ở đó, chắc giờ này không có mặt trên đất Mỹ này?
Ông Đại Sứ Đài Loan giao hẹn với tôi:
-"Mỗi năm , chiều mùng 3 TẾT là cụng ly kỷ niệm ... "
Có phải ĐỨC MẸ khiến Ông Đại Sứ đến thăm tôi, để tôi đến trễ, cả gia đình tôi và nhân viên Nha Báo Chí thoát nạn.
💚"CON TẠ ƠN ĐỨC MẸ!"
Chạy giặc năm 75, tính đủ thứ: nào là sắp thuyền chạy ra Phú Quốc, nào là ghi danh ở Tòa Đại Sứ Mỹ, hẹn trực thăng, v. v...cuối cùng một Bạn học, ,mà tôi không hề tính trước, đưa gia đình tôi đi yên lành.
Có phải ĐỨC MẸ sắp xếp để Ông B M. giờ chót nhớ đến tôi và đưa Gia đình tôi đi tị nạn an toàn không?
💚"CON TẠ ƠN ĐỨC MẸ!"
Cuộc đời tị nạn của tôi đã viết trong " tị nạn, làm lại cuộc đời."
Giờ đây tôi lược qua ƠN PHƯỚC mà ĐỨC MẸ ban cho tôi quá rỏ ràng.
Năm đó vì xách vali nặng, nên trẹo vai tay mặt, không cử động được; mỗi lần thay áo phải có người giúp. Con tôi tìm thầy " Đông Y châm cứu, Võ thuật trị trật tay, gân ..." ở Hong Kong, China, nghe ở đâu có thầy giỏi là mời đến trị cho tôi. Đỡ một chút, thầy về vài hôm là đau lại. Cả hai năm khổ sở như vậy, tôi thôi, không tìm Thầy nữa, mà cam chịu số phận "trẹo vai".
Tháng 5 năm 2002 vợ chồng tôi sang Pháp dự Hôn Lễ của Nhã, con trai anh chị Trung. Anh Trung đề nghị:
-"Anh Em mình đã được ĐỨC MẸ ban ơn, vui buồn, khó khăn gì cũng chạy đến cầu xin MẸ, sao mình không cùng nhau đi Lourdes để TẠ ƠN MẸ"
Thế là mấy anh chị em cùng đi Lourdes.
Khi lễ rước kiệu đèn xong, xếp hàng vào viếng HANG ĐÁ, tôi thấy nhiều nạng gỗ treo ở đó, là của nhiều người được ĐỨC MẸ chữa cho lành bịnh, họ ra về, treo nạng lại TẠ ƠN.
Nhớ đến cánh tay của mình, tôi khấn:
-"Lạy MẸ, MẸ đã ban ơn cho con nhiều rồi, con không dám cầu xin gì hết, duy chỉ cái vai tay mặt của con đau quá, xin MẸ chửa cho con hết đau... mỗi năm con sẽ đến viếng Lourdes, con xin Tạ Ơn MẸ".
Khi về Hotel, tôi chợt nghĩ lại:
-" mình bận rộn quá, làm sao mỗi năm có thể đi Lourdes được ?. Hứa mà không làm được thì không nên; cho nên tôi xin anh chị em ở lại thêm một ngày nữa, để tôi cầu xin lại:" hai năm sẽ đến một lần".
Sáng hôm sau, chúng tôi đến bãi biển Biarritz, gần đó hưởng không khí trong lành, ấm áp của miền Nam Nước Pháp. Góp thêm phần vui, anh em đề nghị " massage".
Hotel Resort nào cũng có nhiều chuyên viên massage giỏi... tôi nhường cho quý anh chị chọn trước loại massage nào thích, như kiểu Thái, mô sâu, Thụy điển, v.v... , vì ở Hong kong đi massage đối với tôi quá thường.
Cuối cùng, anh massage cho tôi là một người thường thôi: massage thư giãn. Anh hỏi tôi
-"Muốn massage chỗ nào?
- Tôi trẹo vai và cánh tay mặt!
Anh bóp, nắn sơ sơ rồi sờ vào sườn tôi hỏi:
-Có nghe đau không?
- hơi hơi!
Bất thình lình anh nhấn mạnh vào sườn tôi, đau điếng, rồi nói:
-Ông giơ tay lên coi.
Tôi nghiêng người qua, giơ tay mặt lên... lạ quá... không đau gì hết, bình thường như chưa hề đau.
Tôi ngồi dậy, giơ tay thử quay vài vòng:
-Bình thường... không đau gì hết ! Hết trẹo vai rồi. Và tôi thưởng anh này rất hậu.
Mấy anh chị nghe chuyện, mừng cho tôi và xin phone của anh này, hầu sau này có ai bị trẹo cổ, trặt chân v.v.... cần sẽ đến.
Thời gian sau, có nhiều người trẹo cổ, trặt chân tìm đến anh thầy nầy nhờ chữa trị nhưng không hết. Các bạn tôi đồng ý:
Đây là PHÉP LÀNH, ÂN PHƯỚC ĐỨC MẸ ban cho tôi, chớ không phải tài giỏi gì của anh massager này.
💚"CON TẠ ƠN MẸ..."
Năm sau 2003, Anh Chị Trung, Anh Chị Tường, Chú Nam, vợ chồng tôi cùng nhau đi Fatima rồi về Lourdes mà anh Trung diễn tả:
Huy hoàng , tốt đẹp, vui sướng, không thể quên được. Sau đó hằng 2 năm tôi đều cùng anh Chị Trung, và các Gia Đình Bạn Taberd đến Lourdes; có khi đi luôn đến FATIMA để cùng nhau cầu nguyện:
💚"CON TẠ ƠN ĐỨC MẸ"
chỉ mấy năm gần đây vì COVID không đi THĂM MẸ được. Cầu xin MẸ thương xót... tha thứ...
Đến tháng 6 này - 6/2023 - , Anh TRUNG tổ chức Lễ "Mừng Cửu Tuần" ở Iles-sur la Sordes.
Tôi và con gái tôi sẽ qua Pháp tham dự; sau đó cùng Gia Đình anh chị Trung, anh chị Tường và nhiều Bạn Taberd cùng đi Lourdes:
💚"-CON TẠ ƠN ĐỨC MẸ."
Trọn đời tôi, được làm "CON CỦA ĐỨC MẸ", một ÂN PHƯỚC tuyệt vời, được MẸ che chở, phù hộ, cho nên chỉ biết: Vì MẸ... Luôn Luôn.
Lưu-Vĩnh-Lữ
Nguyên Hội Trưởng Hội Thánh Mẫu Taberd - 1950 ~ 1955.
Chủ Tịch Hội Phụ Huynh Học Sinh Taberd - 1970 ~ 1975.
Sáng Lập Viên Đại Học LASAN - 1973 ~ 1975.
Hình Dưới: ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP
Nguồn: Quí Nguyễn.
Có thể là hình ảnh về 1 người
Tất cả cảm xú

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2023

Chỉ có một câu trong “Diễm xưa” mà Trịnh Công Sơn trở thành … “Đại ca!”

 Chỉ có một câu trong “Diễm xưa” mà Trịnh Công Sơn trở thành … “Đại ca!”

Ca khúc “Diễm xưa” được Trịnh Công Sơn viết vào năm 1960 như một hoài niệm về một mối tình vu vơ và đơn phương với cô nàng Ngô Vũ Bích Diễm thời còn là học trò Trung học ở Huế với bối cảnh là những con đường với những hàng cây Long não, là những tòa tháp cổ với những tà áo tím, áo trắng đi về hằng ngày trong từng tháng ngày qua của những mùa mưa nắng…
Trịnh Công Sơn sau đó vào Sài Gòn học, hỏng Tú tài II còn Ngô Vũ Bích Diễm thong dong bước vào Văn khoa ở Sài Gòn.
Mối tình ở Huế mặc dù tan vỡ nhưng vẫn còn ghi dấu ấn về người con gái mang tên Diễm để Trịnh Công Sơn viết thành một ca khúc trở nên bất hủ - Diễm xưa… Diễm của những ngày xưa!
Do hoàn cảnh gia đình lúc đó khó khăn và cũng không muốn bước chân vào cuộc đời lính, được bạn bè khuyến khích và giúp đỡ nên sẵn năm 1962, Trường Sư phạm Qui Nhơn mới thành lập và tuyển Khóa I (1962-1964) điều kiện chỉ cần có Tú tài I nên Trịnh Công Sơn từ Huế đã vào học và làm quen với môi trường của Thị xã miền biển tỉnh lẻ Qui Nhơn…
Trong thời gian ở phố biển Qui Nhơn này, Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca “Tiếng hát Dã Tràng” hay gọi ngắn hơn là “Dã Tràng ca”, Biển nhớ, Nhìn những mùa thu đi, Nắng Thủy tinh và một số nhạc thiếu nhi …
Thuở ấy Qui Nhơn còn nghèo lắm! Cả Thị xã có mỗi một quán bar duy nhất, vừa bán kem, vừa bán cà phê thuốc lá, bia, trà. Đó là bar Phi Điệp, nằm trên đường Phan Bội Châu, đối diện với hội trường Qui Nhơn, nơi Trường Sư phạm Qui Nhơn thường trình diễn văn nghệ. Mỗi buổi chiều hoặc tối, các giáo sinh trong đó có Trịnh Công Sơn hay vào quán kêu một bình trà ngồi với nhau nhâm nhi nghe nhạc.
Khách thường xuyên đến đây không chỉ là các giáo sinh sư phạm, giới ăn chơi mà cả những người lính trận thường chọn làm điểm xả hơi sau những chuyến hành quân…
Thời ấy (và cả thời bây giờ) ở những thành phố lớn cũng thị xã tỉnh lẻ luôn tồn tại một thành phần chuyên bảo kê cho giới làm ăn buôn bán, các nhà hàng vũ trường, kể cả thành phần trẻ em bụi đời đánh giày!
Thành phần này gọi chung là giới “giang hồ” mà ngày nay gọi là “xã hội đen” và những tay trong giới này được gọi là “du đảng”… Tay đứng đầu có “máu mặt” nhất thì được đám đàn em xưng tụng và gọi bằng cái tên rất Tàu là “Đại ca”. Ở Sài Gòn có những tay “du đảng” cộm cán và có tiếng đã từng được nhà văn Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long… đưa vào tiểu thuyết của mình như Đại Cathay, Hoàng Guitar, Loan mắt nhung …
Bar Phi Điệp ở Qui Nhơn mà Trịnh Công Sơn hay lui tới lúc ấy cũng không ngoại lệ trong việc có các tay du đảng “bảo kê” và Phi Điệp có “Đại ca” Thành “đầu bò”, thủ lĩnh của một đám du đảng làm việc bảo kê này!
Với tính cách “bất cần đời” của một nghệ sĩ, Trịnh Công Sơn đâu có biết ở bar Phi Điệp “tồn tại” một băng nhóm du đảng, xã hội đen chỉ sử dụng “luật hè phố”, “luật giang hồ” … nên anh cứ cà tửng lui tới chắc cũng chỉ để ngắm biển tìm nguồn cảm hứng cho các nhạc phẩm tương lai sau này!
Một hôm “Đại ca” Thành bất chợt bắt gặp Trịnh Công Sơn trong dáng vẻ gầy gò như học trò, với cặp mắt kính ngồi lơ đãng trong bar chỉ nhìn trời mây non nước mà “chẳng thèm” nhìn ai xung quanh kể cả đám du đảng dữ dằn đang nhìn anh!
Thành “đầu bò” nhìn cái kiểu cách thư sinh, nghệ sĩ “đáng ghét” có vẻ coi đám du đảng của mình “không ra gì” nên “ngứa mắt” liền nổi máu anh chị, muốn thị uy anh chàng giáo sinh sư phạm này nên “lệnh” cho một tên đàn em có vẻ mặt “bặm trợn” tới trước chỗ Trịnh Công Sơn rồi lừ lừ mắt, gằn giọng: “Thằng kia! Tháo kính ra! Đưa đây và… cút!”
Trịnh Công Sơn đang lơ đãng, mơ mộng với cảnh trời biển, nghe thằng du đảng quát thì “mặt xanh như đít nhái”, không còn giọt máu, run lập cập vào tháo cặp kính trắng “giả cận” của mình đưa cho thằng du đãng rồi lật đật… cút!
Nghe bạn bè Trịnh Công Sơn kể lại rằng, sau đó mấy hôm thì thằng du đảng đàn em có báo lại với “Đại ca” Thành là cái “thằng” mình “lột” cặp kính hôm trước chính là nhạc sĩ và đã sáng tác cái bản nhạc gì mà nghe có cái câu “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…”!
Ở Qui Nhơn – Bình Định có những di tích tháp cổ của người Chiêm Thành xưa kia để lại như Tháp Đôi (trong Qui Nhơn), Tháp Bánh Ít (ngoài Chợ Huyện)… nên những người dân Bình Định rất yêu thích, tự hào về những ngôi tháp cổ này…
Có lẽ “Đại ca” Thành “đầu bò” quê đâu ngoài Chợ Huyện (Tuy Phước) vào trong Thị xã Qui Nhơn xưng hùng với đám du đảng, nghe thằng đàn em nói thế nên… giật mình: “Chết thật! Bài hát này viết về cái Tháp Bánh Ít của quê mình đây mà! Rõ ràng là… mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ, không nói về cái Tháp Bánh Ít thì là cái tháp nào nữa! Bài này thì tao … thuộc nằm lòng!”
Thằng du đảng với trái tim tưởng chừng chai sạn, sỏi đá, dòng máu tưởng đã lạnh tanh như băng giá, một ngày chợt nghe “Diễm xưa” với khúc mở đầu “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ…” đã khơi lại cái “tri giác” nhỏ nhoi và cái “máu cục bộ” nổi lên với niềm tự hào về quê hương khi có một nhạc sĩ mà mình dùng bạo lực đe nẹt đã viết về cái… Tháp Bánh Ít và… tôn vinh nó!
Nghe nói, sau đó “Đại ca” Thành “đầu bò” lại sai đàn em đi tìm và gặp được Trịnh Công Sơn trao cho mảnh giấy viết vài chữ nguệch ngoạc: “Mời nhạc sĩ tới bar Phi Điệp nói chuyện”.
Lần này Trịnh Công Sơn đoán biết là… tin lành, nên tuy cũng hơi ơn ớn khi phải đối diện với đám du đảng nhưng anh cũng tới bar Phi Điệp như y hẹn.
Tại bar Phi Điệp, “Đại ca” Thành “đầu bò” tập hợp đàn em du đảng của mình trước Trịnh Công Sơn, ân cần xin lỗi Trịnh Công Sơn về sự hiểu lầm của mình đối với người nhạc sĩ là viết bài hát về cái … Tháp Bánh Ít – Qui Nhơn của mình, rồi trịnh trọng tuyên bố với đám đàn em “ Từ nay, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là … “đại ca” của giới giang hồ Qui Nhơn”!
Không ai kể lại lúc đó mặt của “Đại ca” Sơn dài thuỗn như thế nào, hay anh chàng nhạc sĩ viết về những ngôi tháp cổ của đền đài lăng tẩm xưa của Huế bỗng dưng được quàng luôn vô cho cái Tháp Bánh Ít ở Qui Nhơn!
Không biết nhạc sĩ họ Trịnh “dở khóc dở cười” như thế nào chứ “văn chương, chữ nghĩa, nghệ thuật” quả là “lợi hại” thật …
Hoài Nguyễn - 22/3/2019
(Viết lại theo nội dung một giai thoại về Trịnh Công Sơn của Hà Đình Nguyên)


Thứ Hai, 14 tháng 11, 2022

Một Mẩu Chuyện Đời: BỨC MÀN BĂNG GIÁ

 Một Mẩu Chuyện Đời: BỨC MÀN BĂNG GIÁ ( Đào Ngọc Phong )

Tôi sắp kể chuyện đời tôi, một câu chuyện nhạt-nhẽo về một phụ nữ bình thường, và tầm thường; vì tôi chẳng có một tài năng gì đặc biệt, chẳng có một ước vọng gì cao cả, xa vời.
Năm nay tôi 80 tuổi, tức là sinh năm 1942, tuổi ngọ. Nhiều người nói nữ tuổi ngọ giỏi giang, nhưng bươn-chải, bôn- ba đường đời. Tôi chẳng bôn-ba đây đó, chẳng mạo hiểm kinh doanh làm giàu, chỉ yên phận với một ít tiền hưu. Ấy vậy mà suốt đời tôi cứ ray-rứt, không trọn vẹn được những việc bình thường, như một người con, một người vợ, một người mẹ, một người bạn, nói chi đến những bổn phận đối với dân tộc, với nhân loại. Đời tôi giống như một con thuyền nhỏ-nhoi giữa biển lớn, mà cha tôi là vì sao Bắc Đẩu, mẹ tôi là cái la-bàn, hai con tôi là thùng nước ngọt, bạn Johnny người Mỹ là tài công, còn chồng tôi lại là một loài thủy ngư đục thủng đáy thuyền. Tâm hồn tôi như một giải lụa trắng; chồng tôi như một vệt mực đen quệt ngang.
Khi tôi sinh ra năm 1942 tại Hà Nội, quân Nhật đã chiếm đóng toàn cõi Đông Dương, như lời mẹ tôi kể. Mẹ tôi lúc ấy mới hai mươi tuổi, bố tôi 22. Sau này đọc hồi ký của bố, tôi mới biết hồi đó bố mẹ tôi cùng hoạt động bí mật trong một tổ chức thanh niên chống cả Pháp, Nhật lẫn cộng sản. Hai người yêu nhau giữa những hiểm nguy của công tác. Ngoài đời, mẹ tôi đang học nghề y tá; bố tôi đã đậu tú tài Pháp, có năng khiếu hội họa, sinh sống bằng cách đi dạy học trường tư, viết và vẽ cho mấy tờ báo.
Đối với tôi, cuốn hồi ký của bố là một bảo vật vô giá, mà hơn mười năm nay tôi đã nâng niu, cẩn mật dịch ra tiếng Anh từng chữ từng câu, theo di nguyện của bố. Tôi đang đặt nó trên bàn trước cửa sổ, từ lầu hai một chung cư, nhìn xuống phố chợ đông đúc của Little Sài Gòn.
Căn hộ này, hai con tôi, một trai, một gái đã chung tiền mua cho mẹ ở một mình, dọn từ tiểu bang Pennsylvania về được ba năm rồi. Từ nơi ít người Việt, về đây tôi như được hồi sinh. Tôi cám ơn cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đã cho tôi sống những năm cuối đời giữa đồng hương, với sinh hoạt giống như vùng chợ Bàn Cờ của Sài Gòn xưa. Rẽ bên phải có phở, bún bò; quẹo bên trái có hủ tiếu, bánh cuốn; trước mặt có đậu hũ chiên hành, bắp nướng xối mỡ, sau lưng có bánh xèo, mì Quảng…Đến Mỹ từ tháng tư 75, tôi không thể tưởng tượng tôi đã sống gần nửa thế kỷ ở miền Đông vắng- vẻ giá lạnh.
Mặc dù ở tuổi tám mươi, tôi cảm thấy sức khỏe còn tốt, đi đứng vững- vàng, mắt vẫn còn đọc rõ chữ trên Internet. Tôi đang dịch chương cuối cùng cuốn hồi ký của bố. Cả một thời đen tối nhiễu nhương đầy thảm kịch, như một trích đoạn phim diễn ra trước mắt. Nhớ thương bố mẹ mà nước mắt chảy ròng- ròng, tôi khóc thoải mái như đứa trẻ lên ba giữa căn phòng xinh xắn, một mình.
Khi nạn đói 45, 46 xảy ra ở miền Bắc, tôi mới 4 tuổi, nhưng ký ức về những chuyến xe chở xác chết trên đường phố vẫn còn rõ nét mỗi khi nhớ lại.
Cuối năm 46, kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Bố đem hai mẹ con rời thành ra khu. Mẹ sung vào ban quân y, bố vào ban văn hóa, báo chí. Vì được đọc nhiều tài liệu sách báo cập nhật hàng ngày, nên bố hiểu rõ tình hình trong ngoài. Ngay từ những năm 48, 49, bố đã tinh tế nhận ra lý tưởng chiến đấu của bố trái ngược hẳn với ban lãnh đạo. Khi Mao Trạch Đông chiếm trọn Hoa Lục vào tháng 10- 1949, thì chiều hướng cách mạng kiểu Mao càng rõ nét.
Năm 1953, bố mẹ quyết định rời chiến khu, bỏ về thành. Nhưng chưa kịp ra đi cùng nhau, thì mẹ chết trong một trận bỏ bom. Bố chôn cất mẹ xong, dắt con gái 11 tuổi bí mật rong- ruổi trốn khỏi mạng lưới công an về lại Hà Nội, nhờ dân các làng đi qua che-chở. Các chiến hữu của bố vẫn hoạt động nội thành, sắp xếp cho bố đổi tên họ và đưa ngay vào Sài Gòn. Bố vốn họ Lý, bây giờ đổi thành Nguyễn.
Vào tới Sài Gòn, nhờ tổ chức hỗ trợ, bố mua một căn nhà nhỏ ở ngoại ô, lại đi dạy tư, viết và vẽ dưới những bút hiệu khác nhau. Căn nhà cốt cho tôi ở, còn bố di động ngủ nhiều nơi khác nhau.
Khi mẹ mất, bố mới có 33 tuổi, thế mà bố ở vậy suốt đời, nuôi con học hành đến nơi đến chốn. Tôi tốt nghiệp ban Anh ngữ Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, năm 1965, vào lúc mà người Mỹ bắt đầu đổ quân vào miền Nam; các cơ sở văn hóa Mỹ được thiết lập dưới nhiều dạng. Tôi dễ dàng xin được vào dạy tại Hội Việt Mỹ, tự túc sinh kế.
Bây giờ, tôi đã tự lập, nghĩ rằng bố sẽ nhẹ nhàng xong bổn phận, có thể lập gia đình với một cô bạn cùng làm trong tòa báo rất quý bố. Nhưng bố từ chối; đêm nào trước khi ngủ, bố cũng ngồi yên lặng trước bàn thờ mẹ cả tiếng đồng hồ. Tôi cũng rón- rén ngồi sau bố, nhìn ảnh mẹ mà nước mắt chảy dài.
Hồi học Văn Khoa, hình như có một định nghiệp gì mà tôi gặp một sinh viên ban Việt Hán; anh hơn tôi hai tuổi, viết chữ Nho rất đẹp, vì anh có năng khiếu hội họa. Có lẽ bố tôi là họa sĩ, nên khi gặp anh, tôi mến ngay và hai đứa đi đến tình yêu lúc nào không hay. Khi học xong cử nhân, anh cũng đi dạy tư như bố tôi. Hai năm sau chúng tôi thành hôn, và chúng tôi có hai đứa con sinh hai năm liên tiếp 70,71. Bố tôi vui lắm, hầu như các cháu ngoại làm vơi đi nỗi sầu muộn u uất mấy chục năm.
Nhưng cảnh đời bất trắc, như cơn giông ùa tới phá tan bầu trời trong xanh. Sau thảm họa Mậu Thân, chồng tôi bỗng có những lần vắng mặt cả tuần, nói với tôi, anh đang muốn tìm việc kinh doanh để có thêm tiền nuôi gia đình, chứ dạy học nghèo quá. Tôi mừng là anh biết lo gia đình, không hỏi han gì thêm.
Đầu năm 75, bố tôi gọi tôi ra phòng khách nói chuyện. Ông bảo tôi, con phải tính kế đi khỏi nước để cứu hai đứa trẻ; tình hình nguy cấp lắm, không thể để hai đứa sống trong cảnh khốn khổ sắp đến; phần bố đã có tính toán riêng với tổ chức của bố; bố theo dõi tin tức quốc tế rất sát, nên phải quyết định ngay. Tôi cũng thấy viễn tượng đen tối đang tới gần, nhưng chưa biết tính sao, vì chồng tôi cứ đi vắng hoài, không ngó ngàng gì đến nhà cửa, con cái. Kinh doanh gì nữa, lúc này.
Trong một buổi dạy tại Hội Việt Mỹ, giờ nghỉ tại phòng giáo sư, Johnny bỗng cầm ly cà phê đến mời tôi và xin được nói chuyện. Johnny tốt nghiệp cao học ban văn chương, theo phái bộ văn hoá Mỹ đến Việt Nam, làm trong ban giám học Hội Việt Mỹ. Tôi và anh, giờ nghỉ thường nói chuyện với nhau như bạn đồng nghiệp; anh rất đứng đắn, có tư cách trí thức, cũng hơn tôi hai tuổi. Chúng tôi bàn luận về văn chương Anh Mỹ rất tương đắc.
Hôm nay, vẻ mặt anh có vẻ nghiêm nghị, khác hẳn những ngày trước. Johnny dè dặt hỏi tôi, tình hình căng thẳng lắm, chị có tính rời khỏi Việt Nam không? Y như câu hỏi của bố tôi; anh ta ở trong ban giám học, chắc chắn anh ta hiểu rõ sự việc. Anh nói, chị nên quyết định sớm; khi chị nghĩ kỹ rồi, anh sẽ giúp cả gia đình đi ngay bằng máy bay.
Quả thật, đến đầu tháng tư thì sinh hoạt Hội Việt Mỹ có vẻ khác thường; hình như có dấu hiệu đóng cửa rồi; tâm trí tôi rối bời, gọi cho Johnny và nói đã quyết định cho gia đình tôi đi, hai vợ chồng, hai đứa con. Johnny sốt sắng lo giấy tờ ngay. Chồng tôi về với vẻ mặt căng thẳng, hỏi em sửa soạn đồ đạc đi đâu? Tôi báo anh tin mừng, đã nhờ Johnny lo máy bay sẵn sàng cho cả gia đình đi tuần sau. Chồng tôi ậm ừ vài tiếng rồi lại biến đi. Chiến trận tiến gần Sài Gòn; Trong lúc hỗn loạn, Johnny lái xe đến đón, thì chồng tôi không có mặt như lời hẹn. Vì hai con, như bố tôi nói, tôi phải quyết định dứt khoát không thể chần chờ, phải gạt nước mắt theo Johnny lên xe ra phi trường.
Thế là ba mẹ con đến Mỹ được một tuần thì tin Sài Gòn đã sụp đổ. Không một tin gì từ chồng tôi và bố tôi . Johnny tận tụy giúp ba mẹ con chỗ ăn ở đàng hoàng; lại giới thiệu tôi vào làm phụ giáo trong một trường trung học, vì vốn tiếng Anh có sẵn.
Tuy lương giáo chức khiêm tốn, nhưng sinh kế vững vàng giúp tôi nuôi hai con dần khôn lớn, mặc dù tâm hồn tôi gần như rã- rượi vì chờ trông bố và chồng vô vọng. Johnny chính là cứu tinh giúp tôi vượt qua bao gian- nan trong đời sống mới. Ròng- rã 15 năm khắc- khoải, có lần tôi tưởng đã ngã vào vòng tay Johnny khi anh bất ngờ tỏ tình; anh nói đã yêu tôi từ những ngày ở Hội Việt Mỹ.
Trong phút giây yếu đuối, bỗng hình ảnh bố tôi ngồi yên lặng mỗi đêm trước bàn thờ mẹ làm tôi hoảng sợ. Tôi quỳ xuống tạ ơn Johnny bao năm cưu mang mẹ con tôi, nhưng tôi chưa thể chấp nhận, mặc dù hình như hai con tôi, nay đã vào đại học, tỏ ra thương quý anh và đồng ý. Đó là vào năm 1990.
Một lần tôi đi siêu thị, bất ngờ nhìn thấy một phụ nữ trông quen quen. Tôi tiến đến nhìn mặt cô ta cho rõ; vừa thấy tôi, cô có ý lẩn tránh, rẽ qua lối khác, lẫn vào đám đông. Tôi cứ tiến đến chặn đầu, quả nhiên đó là người em họ chú bác của chồng tôi.
Cô ta đành phải dừng lại. Rồi bất ngờ cô ôm chầm lấy tôi khóc nức nở.
-Chị ơi, em qua theo diện kinh doanh vài tuần lễ. Chúng mình vô góc quán vắng này, em kể hết mọi chuyện cho chị nghe.
Số là, sau thảm họa Mậu Thân, chồng tôi trốn quân dịch, nhưng lại sa vào mạng lưới của cộng sản. Trong thời gian sinh hoạt bí mật, anh quen với một nữ đồng chí; hai người tằng tịu với nhau có một đứa con. Đó là thời gian chồng tôi nói dối tôi là làm kinh doanh. Khoảng năm 1974, cô ta có lệnh về Bắc, mang theo đứa con trai. Vào những ngày tháng tư 1975, anh được tin cô ta sẽ theo đoàn quân chính quy vào xâm chiếm miền Nam; vì thế anh cố ý ở lại chờ cô ta, không theo tôi đi Mỹ. Nhưng vài năm sau, cô ta bỏ anh, cả đứa con cũng không nhận anh là cha; về mặt chính trị, anh không được chế độ mới tin dùng; hiện giờ anh ấy sống vất- vưởng, thân tàn ma dại.
-Khi em sắp đi Mỹ, anh ấy gặp em, nói em cố tìm gặp chị, nói với chị là anh ấy xin quỳ xuống tạ tội cùng chị và hai con.
Cô ta vừa kể xong, tôi bỗng cảm thấy người tôi rũ xuống như không còn xương sống, tim tôi lạnh cứng như cục đá, một bức màn băng giá quây tròn quanh tôi, ngăn tôi với cuộc đời, với loài người. Tôi mơ hồ nghe cô ấy thét lên, nhiều người ùa tới; người ta khiêng tôi lên xe cứu thương. Không biết thời gian bao lâu, tôi mở mắt lờ- mờ thấy Johnny và hai con ngồi cạnh giường bệnh viện.
-Mẹ tỉnh rồi anh ơi, chú Johnny ơi!
Con gái tôi vui mừng reo lên. Tôi nằm bệnh viện vài bữa, được bác sĩ cho về nhà tĩnh dưỡng. Hai con đi học, một mình Johnny chăm sóc tôi. Anh chăm sóc tôi như một người chồng chung thủy; không…. , hơn một người chồng. Nhưng trong lòng tôi chỉ dâng lên một tình cảm kính ngưỡng anh như một vị thánh, mà không hề là một tình yêu nam nữ. Cái bức màn băng giá xuất hiện hôm trước trong siêu thị đã làm tê liệt mọi xúc cảm nam nữ trong tôi rồi. “Tha thứ cho em, Johnny. Em không thể nào trở thành một người vợ bình thường nữa”.
Khi thân xác tôi khỏe trở lại, tôi tự hứa sẽ không để cho tâm mình suy sụp như thế nữa. Tôi quyết định cho Johnny và hai con biết tất cả sự thực. Chúng tôi hẹn nhau cùng đi ăn tối tại một nhà hàng thanh lịch.
Tôi kể lại mọi sự, rồi nói thêm ngay :
-Bây giờ, người đàn ông đó không còn là gì đối với mẹ. Nhưng ông ta vẫn là bố ruột của hai con. Ông ta sống rất khổ cực; tùy các con xử sự.
Hai con tôi quyết định ngay, chỉ gởi một món tiền thích hợp để nuôi bố, mà sẽ không thư từ liên lạc. Lòng tôi thư thái nhẹ nhàng, đi dạy học trở lại với niềm tin vững mạnh vào cuộc sống. Tôi dùng nhiều cách để tìm bố tôi, nhưng tôi biết ông làm việc cẩn mật lắm. Tôi cho đăng trên nhiều báo một thứ mật hiệu mà chỉ hai bố con biết. Quả nhiên, vào năm 1993, khi hệ thống Liên Xô đã sụp đổ, tôi nhận được một cú điện thoại với số lạ :
-Hello, tôi muốn nói chuyện với bé…..
-Vâng tôi là bé…Xin lỗi ông là…
-Tôi là đàn em của cụ X….Cụ nói là cụ mừng lắm khi biết tin bé…Cụ đang sống ở một nơi an toàn. Khi nào bé cần gì, thì cứ gọi số này.
Tôi sung sướng như được hồi sinh. Tôi đã tìm được người cha kính yêu của tôi. Nhưng theo cách sống của bố, tôi không cho Johnny và hai con biết việc này.
Gần hai tháng, tôi không thấy Johnny gọi, tôi cảm thấy lòng tôi dậy lên một tình cảm nhớ nhung. Nguy quá, tôi phải tự trấn áp. Không, không thể bước vào sai lầm một lần nữa. Mỗi lần như vậy, tôi lại ngồi trước bàn thờ mẹ tôi, và nhìn vào bức tranh của họa sĩ Toulouse-Lautrec mà bố tôi rất thích, bức họa quảng cáo cho ca sĩ quán rượu Aristide Bruant năm 1892. Bức tranh này thay cho hình ảnh của bố, vì khi rời Việt Nam gấp quá tôi không kịp mang gì hết.
Mới đây, con gái tôi cho tôi biết chú Johnny tâm sự, đời chú chỉ có mẹ là người chú yêu, không lấy được mẹ, chú cũng không lấy ai; hai tháng nay chú đang dự một khóa thiền trong rừng. Tôi xúc động muốn khóc, nhưng nói với con gái rằng mẹ không thể nào sai lầm lần nữa; mai sau chú già, có việc gì các con phải đền ơn chú.
Năm 2000, tôi báo tin cho bố tôi biết hai cháu lập gia đình năm ngoái, năm nay đều sanh hai đứa chắt cho ông ngoại. Bố tôi cười sung sướng. Giọng cười của bố vẫn sang sảng. Nhưng không bao giờ tôi dám hỏi bố đang ở đâu. Được nói chuyện với bố là tôi hạnh phúc rồi.
Niềm vui lớn của tôi bây giờ là sau khi ở trường về, tôi săn sóc chơi đùa với hai cháu nội ngoại. Mùa hè năm 2005, tôi nhận một cú điện thoại vào nửa đêm:
-Hello, bé…tôi là đàn em của ông cụ. Cụ đã mất cách đây một tuần, chúng tôi đã lo tang lễ cho cụ hoàn toàn trang nghiêm với di huấn hỏa thiêu. Trước khi mất, cụ trao cho tôi một hộp, dặn dò sau đám tang mới gởi cho bé. Ngày mai bé sẽ nhận bằng bưu điện khẩn cấp, nhớ ở nhà đón nhận.Chúng tôi chỉ biết chia buồn cùng bé. Xin chào.
Tôi buông điện thoại, khóc òa. Các con cháu chạy ùa vào phòng, hoảng hốt. Tôi chỉ tay lên bức tranh của Toulouse Lautrec treo trên tường:
-Ông ngoại các con đã mất rồi, cách đây một tuần.
Các con tôi báo cho Johnny biết. Anh cư xử như một người con rể Việt Nam. Anh phân công ngay, sắp xếp các con đi mua sắm thức ăn đồ uống, để ngày mai làm một tang lễ đơn giản trong vòng gia đình.
Tôi hoàn toàn tê liệt, thụ động, chỉ ôm cái hộp di sản của bố nhận được sáng nay.
* ****
85 năm đời bố nằm trong cuốn hồi ký. Bố dặn dò tôi phải dịch ra tiếng Anh cho các con cháu đọc hiểu được, nhớ về cội nguồn dân tộc, nhưng trước hết là cội nguồn gia tộc họ Lý. Bố viết và vẽ bản đồ thôn làng, nơi mà bố đã chôn mẹ, dặn con cháu về tìm và bốc mộ cho mẹ, rồi hỏa thiêu. Bố cũng viết kỹ về quê nội, quê ngoại, dặn con cháu phải về trùng tu nhà thờ tổ. Đó là di chúc về những việc cụ thể; còn những chương sách phê phán những lý thuyết chính trị, xã hội, nhân sinh, tôi không mấy quan tâm, mặc dầu tôi cố gắng dịch thật sát.
Năm 2007, tôi chính thức về hưu. Tôi dành nửa thời gian chăm sóc hai cháu nội ngoại, nửa thời gian dịch cuốn hồi ký của bố, chỉ lo ngã bệnh hay qua đời giữa đường đứt gánh thì không chu toàn được di ngôn của bố.
Tôi nhận được một lá thư của Johnny gởi từ một thiền viện, chúc mừng tôi đã về hưu hưởng tuổi già. Anh nói lúc này anh mới yên tâm hoàn toàn, khi mẹ con tôi đã ổn định mọi mặt.
Kể từ năm này, anh sẽ ở luôn trong thiền viện như một tu sĩ. Anh viết, những việc anh làm cho ba mẹ con mấy chục năm nay, chỉ như hạt muối bỏ biển so với cả triệu sinh mạng người Việt chết trong tù cải tạo, trong rừng sâu, dưới biển mà “chúng tôi” có trách nhiệm.
Tôi không hiểu tại sao tôi đa cảm quá; đọc thư Johnny mà lòng thổn thức không nguôi.
"Johnny ơi, dù anh nói thế nào, em vẫn nợ anh một món nợ. Nếu kiếp này em chưa trả anh được món nợ phu thê, thì em nguyền hẹn anh vào một kiếp khác”.
Năm 2019, hai cháu nội ngoại của tôi đã vào đại học, hai con tôi bàn đưa mẹ về vùng Little Sài Gòn, California ấm áp, vui hưởng tuổi già trong cộng đồng đông đảo người Việt.
Bây giờ tôi đang ngồi trước bàn laptop, đánh máy những trang cuối cùng bản dịch hồi ký của bố. Sáng nay, tôi thấy nhẹ-nhõm, đã hoàn thành một phần di chúc; phần còn lại đành phải để cho con cháu tiếp tay thực hiện.
Điện thoại reo, con trai tôi báo cuối tuần tất cả con cháu sẽ bay về Cali làm lễ mừng mẹ thọ tám mươi.
Đào Ngọc Phong
LeVanQuy share từ FB chị MaiLan Hà
❤ ❤
Có thể là hình ảnh về chim cao cẳng, thiên nhiên và thủy vực
Nguồn bài viết : Thu Hương.