Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

CÂU CHUYỆN TRÊN CHUYẾN XE: Con Nít Biết Gì Mà Đè Ra Rửa Tội?

 Một câu hỏi được đặt ra: “Bên đạo Công giáo các anh, khi đem trẻ sơ sinh Rửa tội (gia nhập Kitô giáo) thì vô tình cướp quyền tự do của một người và niềm Tin khi ấy bị áp đặt. Sao không để cháu bé đến tuổi trưởng thành và cháu được tự do chọn .?.”

CÂU CHUYỆN TRÊN CHUYẾN XE
Con Nít Biết Gì Mà Đè Ra Rửa Tội?
Chuyến xe ghép từ Hà Nội về quê chiều cuối tuần vừa đủ bốn người, cả bác tài. Thầy Huấn lên xe cùng một cặp vợ chồng trạc ngoài bốn mươi, ăn mặc lịch sự, dáng vẻ trí thức. Xe lăn bánh, mấy câu chào hỏi xã giao mở ra một cuộc chuyện trò.
Biết thầy là người đi tu, người chồng có vẻ hứng thú. Anh cởi mở:
"Thầy đi tu chắc am hiểu chuyện đạo. Vợ chồng tôi thì không theo đạo nào, nhưng đang có chuyện trong nhà, muốn nghe thầy cho ý kiến. Số là vợ chồng tôi có đứa em họ, mới cưới vợ năm ngoái, vừa sinh cháu đầu lòng. Cô vợ nó là người có đạo, nên bên nhà vợ cứ giục phải đem cháu đi rửa tội cho sớm. Cháu mới mấy tháng tuổi, biết gì đâu. Vợ chồng tôi thấy vậy không ổn, mới góp ý với chú em."
Người chồng ngừng một chút, rồi nói tiếp cái suy nghĩ của mình:
"Chúng tôi cho rằng, chuyện tôn giáo là chuyện hệ trọng của cả đời người. Cho nên phải để đứa trẻ tự do. Đợi đến năm mười tám tuổi, khi nó đã trưởng thành, nó tự quyết định có theo đạo hay không, có rửa tội, học giáo lý hay không. Lúc ấy nó đủ chín chắn để chọn cho mình. Chứ đem một đứa bé chưa biết gì đi rửa tội, áp đặt niềm tin lên nó, chúng tôi thấy không phải."
Người vợ gật đầu tán thành: "Đúng vậy đó thầy. Phải để cháu lớn lên tự lựa chọn mới công bằng. Nên vợ chồng tôi mới khuyên chú em cứ để thư thư, đừng vội nghe bên nhà vợ."
Thầy Huấn mỉm cười. Thầy không vội phản bác. Thầy chỉ hỏi lại, giọng nhẹ nhàng:
"Anh chị nói cũng có cái lý của mình. Nhưng cho tôi hỏi thăm chút, anh chị có mấy cháu rồi ạ?"
"Dạ, vợ chồng tôi có hai cháu. Một cháu lớp năm, một cháu lớp hai," người chồng đáp.
"Vậy tôi hỏi thật anh chị nhé," thầy nói. "Hồi hai cháu mới lọt lòng, có khi nào anh chị hỏi cháu: con thích uống loại sữa nào không? Con muốn mặc bộ đồ nào? Con muốn bố mẹ đặt cho con tên gì?"
Hai vợ chồng bật cười. "Trời, cháu mới đẻ thì biết gì mà hỏi, thầy."
"Vâng, đúng thế," thầy gật đầu. "Cháu chưa biết gì cả. Nhưng anh chị vẫn chọn sữa tốt nhất cho cháu, chọn quần áo ấm cho cháu, đặt cho cháu một cái tên đẹp mang bao hy vọng. Rồi khi cháu lớn hơn, anh chị chọn trường cho cháu học, chọn lớp học thêm, dạy cháu điều hay lẽ phải. Có phải anh chị hỏi ý cháu từng chuyện một, đợi cháu đồng ý rồi mới làm đâu."
Người chồng gật gù: "Ừ thì... đúng là vậy thật."
"Tại sao anh chị làm thế?" thầy hỏi tiếp. "Đâu phải vì anh chị muốn áp đặt. Mà vì anh chị là cha mẹ, anh chị biết điều gì tốt cho con, và anh chị có trách nhiệm chuẩn bị những điều tốt đẹp nhất cho con, ngay từ khi con chưa thể tự chọn. Pháp luật cũng nhìn nhận điều đó: trẻ dưới mười tám tuổi cần có người giám hộ, chính là cha mẹ, người thay con quyết định những điều hệ trọng cho đến khi con đủ khôn lớn."
Xe chạy qua một quãng đường vắng. Người vợ trầm ngâm nhìn ra cửa sổ. Thầy Huấn nói tiếp, chậm rãi:
"Anh chị lo cho con đủ mọi bề. Lo cái ăn, cái mặc, cái học, lo cho phần thân xác của con chu đáo. Đó là điều rất đáng quý. Nhưng với người có đạo chúng tôi, con người còn có một phần nữa, là phần hồn. Nếu anh chị đã tin rằng chuẩn bị cho con phần xác từ tấm bé là điều đúng đắn, thì tại sao lại nghĩ rằng phần hồn thì phải đợi đến mười tám tuổi mới lo? Cha mẹ có đạo, khi xin rửa tội cho con, dạy giáo lý cho con, cũng chính là đang chuẩn bị cho con điều mà họ tin là tốt đẹp nhất, y như khi họ chọn sữa, chọn trường cho con vậy."
Người chồng khẽ cau mày, vẫn còn băn khoăn: "Nhưng mà thầy ạ, tôi vẫn thấy nên để cháu tự quyết. Đến mười tám tuổi cháu tự chọn thì cháu mới thật sự tin, chứ ép từ nhỏ thì đâu phải cháu tự nguyện."
Thầy Huấn gật đầu, tỏ ra hiểu điều anh nói. Rồi thầy đưa ra một câu hỏi khiến cả hai vợ chồng lặng đi:
"Tôi đồng ý với anh rằng cuối cùng, đức tin phải là chọn lựa tự do của mỗi người. Không ai bị ép mà tin thật lòng được. Nhưng anh chị thử nghĩ giúp tôi điều này: liệu một đứa trẻ có thể tự ra một quyết định đúng đắn, nếu suốt bao nhiêu năm nó chưa từng được hướng dẫn, chưa từng được biết, chưa từng được tập ra quyết định? Nếu ta để mặc con mười tám năm không dạy dỗ gì về đời sống thiêng liêng, rồi đến năm mười tám tuổi bảo con: 'Đấy, giờ con tự chọn đi', thì con lấy gì mà chọn? Chọn giữa cái mình biết và cái mình hoàn toàn không biết, thì đâu còn là chọn lựa tự do nữa. Nó giống như bảo một người chưa từng được học chữ hãy tự quyết định có yêu thích văn chương hay không."
Cả xe im lặng một lúc, chỉ còn tiếng động cơ đều đều. Người vợ quay sang chồng, khẽ nói:
"Ừ nhỉ, cái này em chưa nghĩ tới."
Thầy Huấn nói thêm, giọng ôn hòa:
"Tôi không có ý bảo anh chị phải theo đạo, hay phải làm điều gì trái với lòng mình. Anh chị không theo đạo nào, đó là quyền của anh chị, tôi rất tôn trọng. Tôi chỉ muốn thưa lại rằng, chuyện cha mẹ có đạo hướng dẫn con về đức tin từ nhỏ, không phải là áp đặt hay tước đoạt tự do của con, mà là trao cho con một nền tảng, một hành trang. Cũng như anh chị dạy con biết yêu thương, biết trung thực, biết lễ phép, đâu phải anh chị đợi con mười tám tuổi mới dạy. Anh chị gieo từ nhỏ, để lớn lên con có cái mà sống. Đức tin cũng vậy. Cha mẹ gieo hạt giống, còn hạt ấy có nảy mầm, có đơm hoa hay không, thì đến tuổi trưởng thành, chính con sẽ là người quyết định. Nhưng ít ra, lúc ấy con quyết định trên một điều con đã biết, đã cảm, đã sống, chứ không phải trên một khoảng trống."
Người chồng gật đầu chậm rãi, nét mặt đã dịu lại nhiều. Anh cười hiền:
"Thầy nói phải. Vợ chồng tôi cứ tưởng để trống cho cháu là công bằng, hóa ra để trống thì cháu chẳng có gì mà chọn. Xem ra bên nhà vợ chú em tôi muốn rửa tội cho cháu sớm cũng là vì thương cháu, muốn lo cho cháu điều họ tin là tốt, chứ chẳng phải áp đặt gì. Cảm ơn thầy đã chỉ cho chúng tôi một góc nhìn khác. Về nhà chắc tôi phải nói lại với chú em, kẻo lại làm mất lòng bên thông gia."
Xe vẫn bon bon trên đường. Câu chuyện chuyển sang chuyện đồng áng, chuyện quê hương, rồi ba người cùng cười nói vui vẻ như đã quen nhau từ lâu. Đến điểm dừng đầu tiên, hai vợ chồng chào thầy Huấn, bắt tay thật chặt.
"Hôm nay may mắn được ngồi cạnh thầy," người vợ nói. "Về nhà vợ chồng tôi sẽ suy nghĩ thêm."
Thầy Huấn ngoái lại nhìn hai người rồi tiếp tục hành trình, lòng thầm cầu nguyện cho họ. Thầy không mong hôm nay đã thuyết phục được ai. Thầy chỉ vui vì đã gieo được một hạt giống nhỏ, một câu hỏi để người ta mang về mà ngẫm nghĩ. Còn hạt ấy có nảy mầm hay không, thầy xin phó thác cho Đấng làm cho mọi sự lớn lên.
Xe lại chuyển bánh, đưa thầy về với ngôi làng thân thuộc, nơi có tiếng chuông nhà thờ đang ngân lên trong ráng chiều.
Nguồn bài viết: Trần Triết Nhân.


Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

Trường Thánh Giuse Phương Nghĩa qua các giai đoạn lịch sử

 Trường Thánh Giuse Phương Nghĩa qua các giai đoạn lịch sử

Trường Tiểu học Thánh Giuse Phương Nghĩa được xây dựng năm 1928 dưới thời Cha sở François Louison (Cố Lui). Trường do các thầy dòng Giuse phụ trách giảng dạy, tọa lạc tại khu vực Dòng Nữ tu Ảnh Phép Lạ (Ảnh Vảy) ngày nay.
Theo tư liệu Giáo phận Kon Tum, tháng 3 năm 1928, Cha Cố Lui đã họp Ban chức việc để chuẩn bị xây dựng một trường tiểu học dành cho con em trong giáo xứ. Công trình do ông Molini, một cựu sĩ quan người Pháp, nhận thầu xây dựng.
Về sau, khi khu vực này được dành cho Dòng Ảnh Phép Lạ, trường được chuyển về khu vực Nhà thờ Gỗ Kon Tum.
Đến năm 1963, dưới thời Cha sở Giuse Nguyễn Hữu Nghị, một ngôi trường mới mang tên Thánh Giuse Phương Nghĩa được xây dựng (như trong hình).
Năm 1967, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng, Cha Giuse Nguyễn Hữu Nghị cho tháo dỡ ngôi trường này để xây dựng một cơ sở mới quy mô hơn mang tên Trường Lê Hữu Từ. Công trình hoàn thành và được khánh thành vào giữa năm 1968, đưa vào sử dụng từ năm học 1968–1969.
Một chi tiết đáng chú ý là ông Molini, người nhận thầu xây dựng trường năm 1928, cũng là người thi công cây cầu bê tông bắc qua sông Đăk Bla vào đầu thập niên 1930. Cây cầu bị trận lũ lớn năm 1932 cuốn trôi trước khi khánh thành. Dấu tích còn lại là trụ cầu xi măng, thường được người dân Kon Tum gọi là "Hòn Bi", nằm gần vị trí cầu Đăk Bla ngày nay.
📷 Ảnh tư liệu: Trường Thánh Giuse Phương Nghĩa, khoảng thập niên 1960. nguồn Visit Kon tum.


Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

LỄ PHONG CHỨC ĐỨC CHA JANNIN TẠI ĐỊA PHẬN MỚI KON TUM

 "Địa phận Kontum, nay chẳng phải là con tôm, bèn đã nên một con cá lớn" (Lm Dom. Hồ Ngọc Cẩn (1876–1948) - Năm 1935 là Giám mục Giáo phận Bùi Chu.

_____________________
LỄ PHONG CHỨC ĐỨC CHA JANNIN
TẠI ĐỊA PHẬN MỚI KON TUM
(Ngày 23 Juin 1933)
(Trích: Báo “Nam Kỳ Địa Phận”, số tháng 7 năm 1935, trang 434-448)
Kontum rày gặp ngày đại hội,
Nhớ lúc xưa lắm nỗi tân toan,
Rày đã đến lúc hỉ hoan,
Vui xem đạo thánh vẻ vang sum vầy.
Kể từ ngày Đức Cha Chơn Phước Thể (Mgr Cuénot) khởi công tìm đường mở lối để lên gieo hột giống Evang cho dân mường rợ dân này đã hơn 90 năm, ai kể cho xiết những nỗi lao đao, những cơn khốn cực các Đấng đã chịu cho đáng làm nên việc. Đã phải tốn hao tiền muôn bạc vạn, đã phải thị liêu nhiều mạng hy sinh mới gieo được giống, mới trổ nên hoa, mới sinh ra quả. Nay kết một quả rất lớn rất to. Lại xuống mùi thơm tho dịu ngọt, bay ra khắp xứ, làm cho đâu đó đều nghe tiếng Địa phận Kon Tum, nhiều kẻ xa xuôi cùng tìm tới nơi cho đặng thấy.
Vậy quả to lớn thơm tho ấy là đi gì? Là đang Tòa thánh ban cho lập một Địa phận có Giám mục riêng, Giám mục tiên khai ấy là Đức Cha Phước (Mgr Martial Jannin) đã đặng sắc Tòa Thánh chọn làm Giám mục Kontum trong tháng Janvier đến ngày 23 tháng Juin nay mới hành lễ truyền chức.
Vậy Đức cha đã có thơ mời Đức Cha Khâm sứ Tòa Thánh và một ít Đức Cha cùng nhiều cha Tây Nam khác đến chung lời cầu nguyện cùng chung vui với Đức Cha trong ngày trọng nầy.
Tôi đã đặng phước dự vào cuộc nầy, nên tôi xin tường thuật tự sự lại đây, cho chư tôn nhàn lãm mà vui mầng với địa phận Kontum, nay chẳng phải là con tôm, bèn đã nên một con cá lớn.
Vậy tối ngày 20 và 21 Juin, các Đấng đàng xa đã có lòng đến dự lễ, thì đã tề tựu tại Qui Nhơn, hoặc Làng Sông. Sớm 21 thì Đức Cha Khâm sứ với cha ký lục và Đức Cha Cao Mên (Mgr Herrgott) ở Qui Nhơn lên thẳng Kon Tum. Sớm 22 lại có bốn xe hơi đưa các Đấng ở Qui Nhơn mà lên. Là xe Đức Cha Qui Nhơn (Mgr Tardieu với Đức Cha Saigon (Mgr Dumortier). Rồi thì xe Đức Cha Huế (Mgr Chabanon) có cha Bề trên Dòng Cứu Thế (R.P.Dionne) và cha bề trên Dòng ông thánh Phanxicô (R.P.Maurice Bertin) đi với nữa. Đoạn lại có xe cha giữ việc địa phận Qui Nhơn (R.P.Alexandre) lên đến Bình Định thì rước cha Sion, Bề trên Dòng thầy Giảng ông thánh Giuse với 3 thầy thuộc về dòng ấy rồi tới một xe đại, là xe Cam Nhung rộng lớn, chỗ ngồi hẳn hoi, có sức chứa được 20 người lớn ngồi thong thả. Ở Qui Nhơn mà đi thì mới có cha Bề trên địa phận Qui Nhơn là cha Labiausse, cha Bề Trên địa phận Vinh (R.P.Dalaine) cha Bề trên địa phận Huế (R.P.Lemasle) và cha Lambest (Sài Gòn) cha Vallet, cha Lalanne (Qui Nhơn và ba cha Huế nữa là cha Darbon, Cha Thuận và tôi, Huế cũng có Cha Candiere đi ngày trước rồi. Lên tới đàng trẻ Làng Sông. Thì lại rước cha David, Bề trên nhà trường Latinh với ba cha giáo sư là cha Châu, cha Huy và cha Tín, lại có cha sở Gò thị là cha Solvignon cũng lên xe đó nữa. Lên tới Bình Định lại rước cha Escalere. Vậy xe ấy cả thảy 15 cha, thật là vui. Đi một đỗi lại thấy một xe tiếp theo là xe 3 cha Hà Nội, ở Làng Sông mà lên, là cha Lebourdais, chủ báo Trung Hòa, cha Vuillard, bề trên trường Lý đoán Kẻ Sở và cha Tardy. Sau hết thấy xe cha Tourte và cha Valour ở ngã Làng sông mà chạy tiếp theo. Và còn có một xe Cam nhung đưa 20 học trò Latinh ở Làng Sông lên Kon Tum, ấy là những trò Mọi Kontum hoặc Annam mà cha mẹ ở tại Kontum.
Chúng tôi ở Qui Nhơn mà đi đã gần giờ thứ 6, lên tới Pleiku quá giờ thứ 11. Các xe đều đình lại đó cho các cha dùng cơm trưa, ở đó có gặp cha Louison, là cha giữ việc nhà Hội tại Sài gòn và cha Corompt, là cha sở Hà bàu, kiêm họ Pleiku, cho nên cha đã đến Pleiku và dọn nhà cửa ghế bàn chén đĩa sẵn sàng, phần thì hai cha đã truyền nấu dọn, phần thì có của cha Alexandre chở lên, nên đã dọn một bữa thật là sung túc mĩ vị, có cả thảy là 21 cha và 3 thầy giảng ngồi bàn, hỏi nhau dọc đàng như vậy thật là vui, Đức cha Chabanon và 2 cha theo người và quan Hội nghị thì dùng cơm trưa tại quan Quân đạo Pleiku, là người Huế, đã có quen với Đức cha và quan Hội. Còn xe Đức cha Tardieu và Đức cha Dumortier đã đi thẳng lên Kon tum.
Cơm trưa xong rồi một hồi, ai xe nào cứ xe nấy, thẳng lên Kon Tum, còn 55 kilométres nữa. Gần tới nhà thờ độ non 1 cây số phải qua đò ngang, vì cầu bị lụt năm kia hư đi một nửa rồi. Qua đó rồi đi bộ một đỗi liền thấy cuộc trần thiết ngày lễ, xem cũng đẹp, nó là cờ Annam, cờ tam sắc, nọ là vòng bán nguyệt, tòa thế lâu, có thứ trau giồi của mọi làm coi cũng ngộ, là lóng tre chuốt từng chùm nhuộm ngũ sắc, xâu treo từng dây. Nhà thờ Chánh Tòa cũng khá rộng lớn, làm bằng cây, vách khai nhật bổn tô vôi mà cũng chắc chắn. Tháp nhà thờ cao hơn 30 thước tây, xem xa tưởng xây bằng gạch, lại gần thấy rõ làm toàn bằng cây, kiểu coi cũng khéo. Trong nhà thờ thay vì lót ca rô, thì làm bằng ván, xem cũng sạch sẽ, cung thánh ngó cũng uy nghi, xứng nhà thờ chính tòa. Ngày ấy trần thiết coi cũng trang hoàng, cũng xứng cuộc lễ truyền chức Giám mục. Không ngờ chốn mọi rợ mà đã tác thành ra thế. Nhà thờ ấy không xa nhà trường bao nhiêu, nhà trường ấy là nhà trường Kẻ giảng, hiệu là trường Cuenot, ấy là nơi Đức cha ở đó. Vậy các Đấng lên cũng cư trú ăn uống tại nhà đó hết. Nhà nầy cũng trước sân đều trang hoàng rực rỡ. Trước sau có làm hai cái rạp: một cái thì dọn riêng một gian trau giồi đặc biệt, để Đức cha ra cho con chiên đến chúc mừng, mấy gian kia thì đặc bàn ghế để đãi tiệc cho bổn đạo Annam. Còn một rạp khác thì ở trông bện vạt tre, để đãi tiệc cho mọi. vì nó ăn rồi, thì nằm ngã nghiêng như ý. Lại đãi tiệc cho nó, thì chẳng cần phải có mâm bàn đĩa bát gì: giao cho nó 5 con trâu và mấy lương nếp, nó làm thịt, chia nhau ăn uống nấu kho cách nào mặc ý nó.
Chúng tôi tới nơi gần 4 giờ chiều, thì thấy bổn đạo Annam và Mọi đã tề tựu đầy sân, lại có bọn học trò Mọi trường Cuenot đông tưởng quá 100, cách ăn mặc đồng một kiểu: quần trắng, áo vắn xanh có viền đỏ thắt lung, có màng tràng hạt trắng, tay cằm lá cờ vàng, đang sắp hàng chục vào mừng Đức cha Khâm sứ và các Đức cha. Vừa đúng 4 giờ thì đội ngũ kéo vào, có hai trò thổi kèn Cleron, bốn trò đánh trống, rước Đức cha Khâm sứ và các Đấng ra nơi cái rạp đã nói khi nảy. Khi các đấng đã an tọa, thì cha Châu là người Mọi Bahnar đứng đầu mà đọc mừng Đức Cha Khâm sứ một bài bằng tiếng Pháp, rồi bọn học trò cũng hát một bài chúc bằng tiếng Bahnar. Các bài ấy đăng và dịch nghĩa ra cho chư vị xem cho vui. Đức cha Khâm sứ đáp lại mấy lời giã ơn cùng mầng cho địa phận Kon Tum, rày đã sum vầy đạo thánh và có lòng nhiệt thành cùng Tòa thánh, cùng Đấng thay mặt ĐCG, bởi đó đã đáng Tòa Thánh ban cho một Giám mục, mà biệt lập một địa phận riêng. Người lại chúc cho càng ngày càng hưng thạnh. Các lời đó Người nói bằng tiếng Pháp, rồi cha Châu làm thông ngôn lại tiếng Bahnar cho người Mọi hiểu. Lễ tất học trò đánh nhạc đưa các Đức Cha vào nhà như trước, rồi các Đấng đi xem nhà nọ đi viếng chỗ kia.
Tối lại đúng 7 giờ vào nhà cơm, tôi liếc xem có ý đếm được bao nhiêu, thì thấy cả thảy nam mọi mường là 59 đấng, là 6 Đức cha, 24 cha Kontum, 18 Cha Qui Nhơn, 2 cha Sàigòn, 5 cha Huế, 1 cha Vinh và 3 cha Hà Nội.
Cơm tối rồi các Đấng ra ngoài sân tức thì các đèn điện vặn sáng cả sân, từ khám Đức Mẹ ở trên mái nhà mà sáng chiếu xuống. Điện khí ấy là một lò riêng của Đức Cha đã sắm mà dùng trong trường.
Bây giờ học trò Mọi bắt một kinh bằng tiếng Bahnar, cũng như Ave Maria Lộ Đức, thay vì Ave Maria thì chúng tôi nghe hát đi hát lại rằng: Ma-ta-y, Ma-ta-y, Ma-ta-y Maria. Mà câu ấy thì Mọi lớn, mọi nhỏ gì cũng hát hết. Ấy là tối ngày 22.
Sáng ngày 23, đúng 7 giờ 1 khắc thì dàn đội ngũ, y phục đoan trang, hai hàng cờ xi, đưa Đức cha từ trường Saint-Joseph vào nhà thờ Chính tòa. Vừa 7 giờ rưởi thì khỉ sự hành lễ phong chức Đức Cha. Đức cha Khâm sứ Tòa Thánh làm chánh lễ. Đức Cha Herrgott và Đức cha Tardieu làm phó tế, còn Đức cha Dumortier và Đức cha Chabanon thì chầu lễ. Ba cha bề trên là cha Labiausse, cha Dalaine và cha Lemasle thì áp tác lễ nhạc, hai cha Annam làm thầy năm thầy sáu. Các cha và học trò trường Cuénot hát lễ.
Có hai thầy dòng trường Gagelin ở Qui Nhơn, hai bà dòng thánh Phanxicô ở Qui Nhơn, bà bề trên nhà Phước trắng ở nhà thương Bình Định và năm bảy chị nhà phước Gò Thị chầu lễ nữa. Phần đời thì có quí quan Công sứ Kontum. Pleiku, Banmêthuột và mấy quan võ cùng các bà Đầm lại có 2 quan Quản đạo Kon tum và Pleiku.
Xưa nay chưa từng thấy một sự dường ấy ở đất Kontum, nên thiên hạ, nọ là Annam, nọ là Mường mọi, kẻ giáo người lương, chen nhau dập dìu, trong ngoài đầy đặc.
Lễ tắt, lại dàn đội ngũ đưa Đức cha về trường Saint-Joseph, ở đó có dọn một phòng cho Đức cha tiếp quý khách.
Bấy giờ các Đấng cùng các quan Tây Nam đến chúc mừng Đức cha Mới cùng chúc cùng chén rượu bồ đào lấy thảo.
Đoạn lại đưa Đức cha về trường Cuenot, rồi thì các cha thuộc về Địa Phận Kontum vào mầng riêng Đức cha, khi ấy các Đấng tránh ra hết, khép cữa lại, nghe trầm trồ cũng không chi bí mật, chỉ là lời Đức cha khuyên các cha hãy đồng tâm hiệp lực mà lo việc bậc mình như trước, mà lại hơn nữa, vì rày ta đã thành địa phận riêng, thì phải tự lo ấy. Thật là gánh nặng cho Giám mục, song trông các cha sốt sáng ân cần thì cũng có đều an ủi… Đoạn thầy trò trường kẻ giảng rước Đức cha ra nơi cái rạp đã mầng Đức Khâm sứ ngày trước và đọc bài chúc mầng Người bằng tiếng Bahnar. Cùng hát một bài cũng bằng tiếng ấy Đức cha nghe, rồi cũng đáp lại bằng tiếng Bahnar, nghe xuôi trơn lắm, song chúng tôi nghe như vịt nghe sấm.
Bọn nầy lui ra, thì học trò Annam trường Saint-Joseph lại vào hát chúc mừng một bài bằng tiếng Annam.
Sau hết thì bổn đạo Annam vào dâng lễ và chúc mầng Đức cha, rồi ngồi dự yến đã dọn sẵn nơi rạp ấy.
Đến giờ 12 thì các Đấng vào tiệc, có đủ số như hôm trước, lại thêm 3 quí Quan công sứ và hai quan Quân đạo. Mãn tiệc thì Đức cha Khâm sứ nói mấy lời chúc mừng Đức cha mới và Địa phận Kontum, Người khen công lao các đấng đã chịu khó mà mở đạo Chúa ra giữa dân Mường rợ, Người lại khuyên cứ bền chí mà mở đạo Chúa ra cho rộng hơn nữa.
Kế rồi Đức Cha Tardieu đọc một bài, ý kiến nghe vui, làm cho ai nấy chăm nghe hớn hở. Người sánh cuộc lễ nầy như lễ cưới con út địa phận Qui nhơn, có bà con họ hàng đồng dự lễ: Có bà, có mẹ. Có chị cả, chị hai, có cháu, lại có chị em thúc bá. Bà mẹ là địa phận Qui Nhơn, chị cả là địa phận Sài gòn vì địa phận Qui nhơn xuất ra địa phận Sàigòn, cháu là địa phận Cao mên, vì Sài gòn lại xuất ra địa phận Cao mên. Chị hai là địa phận Huế, vì Qui nhơn xuất ra địa phận Huế sau địa phận Sài gòn. Chị em thúc bá là địa phận Hà Nội và địa phận Vinh. Nay Qui Nhơn sinh ra con út là địa phận Kontum. Ấy Sài gòn, Huế vì Kontum là như con của Qui Nhơn: song người lại nói khiêm rằng: con cả, con thứ và cháu rày ngó to lớn phương cương hơn mẹ, nên xin cũng thương đến mẹ già ốm yếu và em út còn thơ. Đức cha đọc vừa dứt. Mọi người vỗ tay, rồi cha Cadiere cũng đứng dậy đọc một bài ý kiến là khen Kontum đã được nền Văn minh phần đời phần đạo. Đoạn Quí quan công sứ Kontum cũng nói ít lời tỏ tình đạo đời như dây liên lạc. Sau hết cha Louison là cha sở nhà thờ chính tòa Kontum hát một bài mừng, sau mỗi câu các cha đều đồng thanh hát rằng Sursum Corda, Sursum Corda. Câu Sursum Corda là câu hiệu đề trong ấn Đức cha mới. Bài nầy sau cũng sẽ đăng cho chư vị xem. Khi đã xong các bài thì Đức cha mới đứng dậy đọc một bài thiệt dài, đại ý là cám ơn Đức cha Khâm sứ cùng các đấng các bậc thay thảy, người chẳng bỏ sót ai. Lại người khuyên các cha trong địa phận người cứ noi gót theo các đấng tiên nhơn mà mở nước Chúa trị ở giữa dân Mường rợ, Người đọc vừa hết bài. Mọi người đều vỗ tay, dâng chén sâm-banh, chúc mầng vạn tuế. Truyện trò một hồi, rồi tựu lại trước sân nhà thờ Chính tòa mà chụp hình. Chiều lại độ 3 giờ các Đại biểu mỗi xứ Mọi vào dâng lễ và chúc mầng Đức cha, có cha Ban và cha Châu đứng đầu tổ chức.
Đến 4 giờ một khắc thì Đức cha làm phép lành trọng thể, xong rồi thì về trước sân nhà trường xem Mọi mầng lễ hạ trâu và uống rượu. Tưởng là lẽ gì vui, hay đâu thật là Mọi: Nó đã trồng sân một trụ cao coi trang hoàng phải thế, nó cột con trâu vào trụ ấy, rồi có một tốp mọi cầm thanh la, đi vòng xung quanh mà đánh chừng mười vòng chi đó thì nó reo lên một tiếng. Nó cứ làm như vậy một hồi lâu, rồi có năm ba lão cầm giáo mác mà đâm con trâu bị nhiều dấu, nó đâm đặng mũi nào thì nó mừng mà reo lên, trâu thì vùng vảy mà rống tiếng. Nó cứ làm vậy, cho đến khi trâu lụy mà chết mới thôi. Bởi vậy, cuộc hạ trâu thể ấy các đấng đi lơ, không thể đứng xem được. Còn rượu nó, thì nó sương đến những ghè đầy, ở trong có cơm rượu, nó lấy lá mà gói lại cho kỹ, rồi đổ nước vào cho cơm rượu thấm ra làm rượu. Xung quanh ghè thì có vài ba cái ống xỏ vào như thông ống điếu bình, nó ngậm đầu ống ấy mà nút rượu, hễ lưng ghè thì nó đổ nước thêm, cho đến khi hết mùi rượu mới thôi. Nó mời các đấng uống rượu với nó cho vui, cho được vui lòng nó thì đấng nào cũng ngậm ống ấy giả đò nút một chút. Còn việc nấu ăn của nó thì còn tự nhiên lắm, chưa cải cách theo lối thường mình được. Trâu đã hạ xuống rồi, họ muốn để vậy cho được vài ngày đã mới sẽ thịt. Cái ruột non nó để cả vậy mà nướng hay là kho ăn lấy làm thích lắm … Song mọi có một đều lạ, là trong khi hội hà làm vậy thì đờn bà không ra mặt, cho nên bữa đó chỉ thấy Mọi trai thôi. Mỗi tên choàng một cái mền vãi, ấy khi ra việc lễ như vậy là khá lắm rồi. Tối ngày ấy khi cơm hôm xong các đấng đi xem diễn tuồng Thương Khó cha Louison đã tập cho mấy người Annam ở trên, không ngờ mà đã tập được khéo léo làm vậy. Y phục thật hẵn hiên xứng mỗi vai tuồng. Vai nào vai nấy làm cũng đúng cách điệu, mà nhứt là vai Chúa Giêsu và vai Giuđa làm thật là tự nhiên. Song tiếc! Kẻ làm vai Chúa tướng mạo chưa được khôi ngô oai nghi. Lại tiếc một đều nữa là làm chưa hết tuồng, vì đã khuya lắm, phải bải đi, cho các đấng về nghỉ kéo mệt. Mới làm đến hồi hạ xác Chúa khỏi cây thánh giá. Phải chi làm rán thêm chút nữa cho ai nấy thấy Chúa sống lại thì hơn, vì từ đầu đến rày chỉ thấy sự nhục, mà chưa thấy sự vinh.
Ai nấy xem diễn tuồng đó thì lấy làm động lòng lắm, nhiều người không thể cầm nước mắt.
Ấy đã qua ngày thứ sáu, là chính ngày phong chức Đức cha, sáng ngày thứ bảy thì lần lần tản ra về hết. Đức cha Jannin thấy các đấng kế tiếp đến từ giã ra về, thì coi bộ động tình cám cảnh lắm, phần thì thấy các đấng đàng xa dặm thẳm đã chiếu cố đến nơi, phần thì thấy mình rồi đây quạnh hiu vắng khách, một mình với 25 cha, đàng xa rừng thẳm trót đời vất vã với lũ Mọi dân Mường, biết mấy đều tai ương tàn khổ. Nếu không nhắc trí nhắc lòng lên cho cao, tính xác thịt tự nhiên chịu sao cho nỗi! Vì vậy mà Đức cha lấy câu Sursum Corda làm khẩu hiệu, làm như hoa thiêng liêng, để nhắc lòng trí lên trời mà ủi an mình vui lòng chịu khó.
Bao lâu giữa chốn Kontum,
Dặn lòng phải nhớ Sursum corda,
Nhắc lòng lên chốn thiên gia,
Nhớ nơi Vinh phước Chúa đà sắm cho
Khi lâm khổ não âu lo,
Hãy đem câu ấy dặn dò mới yên.
D. Hồ Ngọc Cẩn
_____________________
BÀI MỪNG ĐỨC CHA KHÂM SỨ
N.B – Nguyên văn bài nầy bằng tiếng Pháp, cha Châu Bahnar đọc, đặt để nghe xuôi trơn, song đây xin miễn đăng bài tiếng Pháp, chỉ đăng bài tiếng Annam của cha D.H. Ngọc Cẩn đã dịch mà thôi.
“Thân lạy Đức Khâm Sứ
Cúi lạy Đức Cha.
Chúc mừng Đấng lấy tên Chúa mà đến.
Hỉ hoan thay! Phúc lộc thay chúng tôi hôm nay thấy đều phỉ dạ. Biết nói sao mà đội ơn Chúa cho xứng, vì Người đã ban cho chúng con gặp được ngày nầy là ngày bấy lâu đã ước ao, khát khao chờ đợi, từ dân Nam Việt cho đến mấy phái Mọi mường Nọ là Bahnar, Frai, Sédang, nọ là Rơngao, Jơlơng, thảy đều lóng nhóng trông chờ. Ấy là ngày làm cho chúng tôi hỉ hoan phước lộc.
Trước hết vui là vì gặp thấy Đấng thay mặt Đức Giáo Hoàng và thấy các Đức cha, đã chẳng nê dời gót ngọc đạp đến đất mường rợ chúng con. Hẳn thật mọi người thảy mừng vui, mà cũng là thậm phải, vì là phen đầu đặng phước gặp thấy những đấng quyền cao tiếng trọng mà đã khấng đến tạn xứ núi đổ rừng xanh.
Bổn đạo chúng con đây, van tất dạ khâm sùng, tận tâm kính phục Đức Giáo Hoàng Piô XI, đang vinh vang thống trị khắp cả thế gian thay mặt Chúa, ngày hôm nay được thấy nhản tiền chính Đấng khâm mạng Giáo Hoàng đến truyền chức Giám mục cho cha rất đáng kính của chúng con, thì ai nấy đều hưng tâm cảm động và hết lòng khép nép xin Đức Khâm mạng cùng các Đức Cha khấng nhậm tình giáo nhơn đều chúc mừng các Ngài mới đến.
Lưỡi nào nói cho xiết, huống lựa là lưỡi mọi Bahnar nói sao cho cùng? Bút nào tỏ cho kham, lưỡi nào nói cho xiết lòng ai nấy chí thiết cảm tình trong cơ hội nầy. Thật vì Đức Khâm mạng muốn đem cho chúng tôi một phúc lớn, là nhơn danh Đức Giáo Hoàng mà ban cho chúng tôi một Đức Giám Mục đẹp lòng ưng ý Đ.C.T, cho nên đã chẳng ngại lên con đường xa xuôi khó nhọc.
Ấy ơn Đức Khâm mạng và các Đấng làm cho cha đáng kính của chúng tôi, lại cũng thông tràn ra cả địa phận Kontum mới mẽ nầy, thì chúng tôi biết ơn là chừng nào!
Vậy thân lạy Đức Khâm sứ, kính lạy các Đức Cha chúng con hết dạ cám ơn vì các Ngài đã có lòng ân hậu với chúng con dường ấy.
Ngày mai là ngày lễ R.T.Trái tim Đ.C.G là ngày trọng, vì là ngày cha đáng kính của chúng con sẽ thọ phong quyền Giám mục, Người đã chuyên hành thánh vụ ở đây đã bốn mươi năm dư, cho đặng mở mang nước Chúa trị trong linh hồn người ta.
Sursum corda. Hãy nhắc lòng lên, ấy là câu ân hiệu của Đức Cha chúng con cũng là cha yêu dấu chúng con, nhưng mà lòng chúng con chưa hề nhắc lên cao cho đủ cho được xứng đáng mà tỏ cũng R.T.Tim Đ.C.G hết tình hỉ lạc, hết dạ mến yêu hết lòng biết ngãi.
Vạn tuế cho Đức Giáo Hoàng Piô XI!
Vạn tuế Đức Khâm sứ cõi Đông Dương là Đức Cha Dreyer
Vạn tuế cho các Đấng Hộ vệ người!”
Saigon, die 17 Julii 1935
Imprimatur:
+ I. DUMORTIER
Vic. Apost
(Báo Nam Kỳ Địa Phận, số tháng 7 năm 1935, trang 434-448.)
Nguồn bài viết: LMSơn
16/06/2026
Kỷ niệm 93 năm Đức Giám mục tiên khởi GP Kon Tum Martial Jannin Phước (23/6/1933 - 23/6/2026).
Ẩn bớt
Yêu thích
12
2