Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

HỌC TRÒ TIỂU HỌC MIỀN NAM XƯA: VÌ SAO LỚP NĂM LẠI LÀ LỚP NHỨT ?

 HỌC TRÒ TIỂU HỌC MIỀN NAM XƯA: VÌ SAO LỚP NĂM LẠI LÀ LỚP NHỨT ?

Có những chuyện tưởng như rất nhỏ, nhưng chỉ cần nhắc lại thôi là cả một thời tuổi thơ bỗng nhiên quay về.
Ngày trước, nếu hỏi một người miền Nam:
“Ngày xưa anh học lớp mấy?”
Có khi họ sẽ trả lời:
“Lớp Nhứt.”
Người trẻ nghe vậy dễ hiểu lầm: “Ủa, lớp Một chớ lớp Nhứt gì?”
Nhưng không phải!
“Lớp Nhứt” của ngày xưa chính là lớp 5 ngày nay.
Còn đứa trẻ mới bước chân vào bậc tiểu học lại bắt đầu từ… lớp Năm.
Nghe có vẻ ngược đời, nhưng đó là cách gọi chính thức trong hệ thống giáo dục miền Nam trước năm 1975.
TỪ LỚP NĂM ĐẾN LỚP NHỨT
Theo Chương trình Tiểu học năm 1949, được ban hành bằng Nghị định số 4-NĐ/GD ngày 27-8-1949 của Bộ Quốc gia Giáo dục, bậc Tiểu học gồm 5 năm, xếp theo thứ tự từ thấp lên cao:
Lớp Năm → Lớp Tư → Lớp Ba → Lớp Nhì → Lớp Nhứt.
Tức là:
Lớp Năm = lớp 1 ngày nay
Lớp Tư = lớp 2
Lớp Ba = lớp 3
Lớp Nhì = lớp 4
Lớp Nhứt = lớp 5.
Đây không phải là cách gọi truyền miệng của người Sài Gòn, cũng không phải ký ức bị nhớ sai.
Nó nằm trong chính chương trình giáo dục chính thức. (AnyFlip⁠)
Đến năm 1959, Bộ Quốc gia Giáo dục tiếp tục ban hành Chương trình Tiểu học 1959–1960 theo Nghị định 1005-GD/NĐ ngày 16-7-1959. Văn bản này vẫn giữ nguyên hệ thống 5 lớp:
Năm, Tư, Ba, Nhì, Nhứt.
Chương trình được áp dụng từ niên khóa 1959–1960 và về cơ bản được sử dụng ổn định trong nhiều năm sau đó. (Báo Quốc Dân⁠)
Cho nên một người Sài Gòn xưa nói:
“Hồi đó tui học lớp Nhứt.”
thì phải hiểu là:
“Hồi đó tui học năm cuối bậc tiểu học.”
Chớ không phải mới vô lớp Một!
TẠI SAO LẠI GỌI “NGƯỢC” NHƯ VẬY?
Cái “ngược” này thật ra nằm ở cách đánh thứ bậc của hệ thống cũ.
Ngày nay chúng ta quen với cách đánh số:
1 → 2 → 3 → 4 → 5
nên cứ nghe “Nhứt” là nghĩ ngay đến số một, lớp đầu tiên.
Nhưng trong cách gọi cũ, “Nhứt” không có nghĩa là lớp bắt đầu, mà là tên của bậc cao nhất trong chuỗi lớp tiểu học.
Vì vậy:
Năm là lớp thấp nhứt,
rồi lên Tư,
rồi Ba,
rồi Nhì,
và cuối cùng là Nhứt.
Cách gọi này không phải đến thời Việt Nam Cộng hòa mới xuất hiện. Tài liệu cho thấy hệ thống Năm – Tư – Ba – Nhì – Nhất đã có từ Chương trình Tiểu học năm 1949, rồi được kế thừa trong chương trình 1959–1960. (AnyFlip⁠)
Nói cách khác, đây là một di sản của hệ thống giáo dục Việt Nam trước đó, chứ không phải một cách đặt tên riêng của Sài Gòn sau năm 1954.
MỘT NỀN GIÁO DỤC KHÔNG CHỈ CÓ “HỌC CHỮ”
Điều đáng chú ý là nhìn vào chương trình tiểu học miền Nam thời ấy, chúng ta sẽ thấy nội dung giáo dục khá rộng.
Chương trình 1959–1960 có các môn như Việt ngữ, Đức dục và Công dân giáo dục, Sử ký, Địa lý, Thường thức, Toán, Vẽ, Thủ công, Hoạt động thanh niên, Trò chơi, Thể dục… (Báo Quốc Dân⁠)
Đặc biệt, môn Việt ngữ được dành một thời lượng rất đáng kể.
Tài liệu nghiên cứu về chương trình tiểu học miền Nam cho biết ở lớp Năm — tức lớp 1 theo cách gọi ngày nay — trong 25 giờ học mỗi tuần có tới khoảng 9 giờ rưỡi dành cho Việt ngữ. (Văn Hóa Học⁠)
Học sinh không chỉ học đọc, học viết mà còn học tập đọc, học thuộc lòng, chính tả, văn phạm, tập làm văn, tập viết, cùng những bài ca dao, phương ngôn và những nội dung hướng tới việc hình thành cách ứng xử, đạo đức và đời sống. (Nam Kỳ Lục Tỉnh⁠)
Nhìn vào đó mới thấy: trường học ngày ấy không đơn thuần là nơi nhồi kiến thức.
Người ta còn muốn dạy cho một đứa trẻ biết đọc, biết viết, biết suy nghĩ, biết cư xử và biết sống với gia đình, với cộng đồng.
RỒI CÁCH GỌI NÀY CŨNG DẦN THAY ĐỔI
Đến cuối thập niên 1960, hệ thống giáo dục miền Nam bắt đầu có một cuộc cải tổ lớn.
Sắc lệnh 660/TT/SL ngày 1-12-1969 quy định hệ thống giáo dục phổ thông mới gồm 12 năm, trong đó bậc Tiểu học là lớp 1 đến lớp 5.
Từ niên khóa 1970–1971, chương trình trung học đã được cập nhật theo hệ thống tên lớp mới; cách gọi các lớp được đổi theo hệ thống 1–12. (AnyFlip⁠)
Bởi vậy, trong ký ức của những người đi học vào những thời điểm khác nhau trước 1975, chúng ta có thể gặp cả hai cách gọi.
Người lớn tuổi hơn vẫn nói:
“Lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, lớp Nhất.”
Còn thế hệ đi học về sau bắt đầu quen với:
“Lớp Một, lớp Hai, lớp Ba, lớp Bốn, lớp Năm.”
VÀ CÓ LẼ ĐẸP NHẤT VẪN LÀ KÝ ỨC
Nhưng suy cho cùng, điều làm người ta nhớ về trường học ngày xưa có lẽ chẳng phải là cái tên lớp.
Mà là con đường đi học.
Một buổi sáng Sài Gòn.
Đứa nhỏ mang chiếc cặp còn thơm mùi da mới, mặc bộ đồ đi học, lon ton theo mấy đứa bạn trong xóm.
Ngoài đường là những chiếc xe đạp, Vespa, Lambretta, xích lô; trong lớp là bàn ghế gỗ, bảng đen, phấn trắng.
Thầy giáo bước vào.
Cả lớp đứng lên:
“Chúng em kính chào thầy.”
Rồi một ngày học bắt đầu.
Không điện thoại.
Không máy ảnh.
Không có Facebook để lưu lại một tấm hình.
Những gì còn lại chỉ nằm trong trí nhớ.
Một tiếng trống trường.
Một trang vở cũ.
Mùi phấn trắng.
Chiếc cặp đã sờn quai.
Một người bạn ngày xưa.
Và một tiếng gọi:
“Lớp Nhứt"
Ngày nay nghe lại, có thể chúng ta bật cười vì thấy nó sao mà “ngược” quá.
Nhưng với những người từng đi qua thời ấy, hai chữ “lớp Nhứt” có khi lại là cả một trời tuổi thơ.
Bởi vì họ biết rất rõ:
Lớp Nhứt không phải là lúc bắt đầu đi học.
Lớp Nhứt là lúc một đứa trẻ sắp sửa rời khỏi ngôi trường tiểu học thân thương để bước sang một chặng đời khác.
Và có những chặng đời…
đi qua rồi, không bao giờ trở lại ❤️
Tư liệu tham khảo: Chương trình Tiểu học 1949, ban hành theo Nghị định 4-NĐ/GD ngày 27-8-1949; Chương trình Tiểu học 1959–1960, ban hành theo Nghị định 1005-GD/NĐ ngày 16-7-1959 của Bộ Quốc gia Giáo dục; các nghiên cứu của Trần Văn Chánh về chương trình và sách giáo khoa miền Nam trước 1975. Các tài liệu này xác nhận hệ thống Năm – Tư – Ba – Nhì – Nhứt và quá trình chuyển sang hệ thống lớp 1–5 vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. (Nam Kỳ Lục Tỉnh⁠).
HÙNG CA SỬ VIỆT.
Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'BỘ QUỐC-GIA GIÁO-DỤC CỤC GIÁO-DỤC TIẾU-HỌC ĂN-BẢN 1963 VIÊT-NGỮ SÁCH ĐỌC LỚP NHỨT க NHÀ XUẤT-BẢN NHÀXUẤT-BẢNGIÁO-DUC GIÁO DNHÀ_XUÁT-BÀNGIÁO-DỤC GIÁO-DỤC DỤC 66-68, 66-68,DAI-LOLE-LI-SAIGON ĐẠI LO LÊ LỢI SAIGON'
Nguồn bài viết : Thu Hương.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét