Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2024

CN 17 TN B // CN NGÀY THẾ GIỚI CỦA ÔNG BÀ VÀ NGƯỜI CAO TUỔI.

 CN 17 TN B // CN NGÀY THẾ GIỚI CỦA ÔNG BÀ VÀ NGƯỜI CAO TUỔI

2V 4,42-44: Họ ăn xong mà hãy còn dư đúng như Chúa phán
Eph 4,1-6: Anh em hãy ăn ở xứng với ơn gọi đã lãnh nhận
Khiêm nhường,hiền lành,nhẫn nại,chịu đựng,bảo vệ sự hiệp nhất,bình an,hòa thuận
Vì chỉ có một thân thể,một Chúa,một đức tin,một phép rửa
Ga 6,1-6: Ta mua đâu được bánh cho họ ăn? Ở đây có em bé có 5 chiếc bánh và 2 cá. Anh em cứ bảo họ ngồi xuống. Họ ăn no nê,còn dư 12 thúng. Dân bắt Người làm vua,nhưng Người trốn lên núi
1/ Ngày Thế Giới của ông bà và người cao tuổi
+ Đức GH Phanxico thiết lập ngày 31.01.2021. CN thứ tư tháng 7 mỗi năm.
+ “Ông Ximeon và bà Anna đều cao tuổi. Chúa Thánh Thần gợi lên cho họ suy nghĩ và nói lời khôn ngoan. Lời nói của họ RẤT QUÝ …Họ nhắn cho chúng ta rằng TUỔI GÌA LÀ MỘT HỒNG ÂN VÀ MẮT XÍCH kết nối các thế hệ khác nhau để truyền kinh nghiệm sống và đức tin. Nhưng ông bà thường bị LÃNG QUÊN. Những người trẻ lấy sức mạnh từ ông bà để NÓI LỜI NGÔN SỨ…Điều quan trọng là ông bà GẶP GỠ con cháu,con cháu gặp gỡ ông bà” (ĐGH Phanxicô, Kinh Truyền Tin ngày 31.01.2021)
+ ĐGH JP II: “Được sống đến tuổi già là một ân huệ”
+ “ Tuổi trẻ là mùa yêu thương // Tuổi già là mùa đạo đức” (George Granville)
+ “Tuổi già là tuổi cứu thoát – âge sauveur (Sully Prudhomme)
+ “Một xã hội mà người già không được kính trọng và người trẻ không được trìu mến, cả hai đều què quặt” (André Maurois văn hào Pháp)
2/ Ai mua bánh mì? “Bánh mì Saigon,đặc ruột thơm bơ,bốn ngàn một ổ,mua zô mua zô”
+Có một cán bộ nói: bánh mì không phải là lương thực!
+Họ nói vừa đúng vừa sai.Ông nói SAI là vì ở đời bánh mì là lương thực nuôi ta. Ông nói ĐÚNG, là vì bánh mì không phải là lương thực đời đời.Hoan hô ông cán bộ
+Chúa Giesu mới là BÁNH Trường Sinh,lương thực ban sự sống đời đời.
3/ Chủ đích của Gioan chương 6 là trình bày về Bí Tích Thánh Thể. Qua phép lạ hóa bánh ra nhiều,đặc biệt cuối chương 6, Chúa Giesu tuyên bố: “Thịt Tôi, Máu Tôi là lương thực ban sự sống đời đời
+Dịp phòng chống Covid, bao người đói khổ vì thiếu lương thực: Cả nước lo,Giáo Hội lo
+Nhưng phòng chống Quỷ-Ma,bao người đói lương thực Lời Chúa,Mình Chúa: Ai lo? Mấy người lo?
+Có những cơ thể ăn không ngon,không thấy đói và không ăn. Gầy tong gầy teo!
+Có những linh hồn không thấy đói Thánh Thể: Ta rước Lễ,ăn Bánh Thánh,ta có cảm thấy có thấy thèm không,có thấy quý không?
4/ C.Giesu đi bước trước.Ngài hỏi: “Ta mua bánh ở đâu cho dân ăn đây?”Ngài động lòng thương,Ngài quan tâm
+Môn đệ tỏ ra bất lực,nhưng may quá: có em bé có 5 bánh 2 cá. Kể cũng lạ. Em có óc tiên liệu dự phòng. Em biết Chúa sẽ giảng cả ngày,sẽ đói và cần có cái ăn để đủ sức mà nghe. “có thực mới vực được đạo”
+Giáo dân nghe cha giảng 10 phút là coi đồng hồ,ngáp dài vì không biết dự phòng. Cũng thông cảm vì nhiều khi bài giảng không chất lượng,đôi khi không phải giảng Lời Chúa (!).
5/ Em bé,Năm bánh,Hai cá: Thánh Augustino nghĩ rằng
+Đứa bé là It-ra en
+Cầm 5 bánh là sách Ngũ Thư,sách Luật Môse và Tiên Tri mà chẳng khôn hơn gì đứa bé. Cầm mà không ăn được vì dấu kín,nặng nề! Ta cũng vậy: ta có Kinh Thánh trong tay mà không ăn được!Hoặc không chịu ăn!
+Cầm 2 con cá là Tư Tế và Tiên Tri, một ngày kia sẽ đến và hành động, ám chỉ Chúa Giesu, Mose Mới
+Như vậy,Sách Thánh cần được BẺ ra, nghĩa là cần được giải thích để có thể khám phá ra điều được ẩn dấu. Cũng vậy: Sách Thánh và cuốn sách đời ta KHÔNG BẺ ra thì không trở thành LƯƠNG THỰC làm no lòng người… có khi làm mình sình bụng,người ngộ độc! “Bánh mì đời ta sẽ không là lương thực” !
6/ Chủ đề của Gioan
+Phép lạ tỏ cho thấy Đức Giesu là ai để ta từ đó TÌM KIẾM và KHAO KHÁT
+Đức Giesu là lương thực thiêng liêng, vừa là Tư Tế, vừa là Của Lễ
+Dân Do thái tìm kiếm Chúa để được no bụng,có ý đồ chính trị,tôn Người làm vua.Ta tìm Chúa để mong được gì? Gặp vui cảm ơn,gặp xui phàn nàn?
+Người đời tìm bánh để no cái bụng bằng mọi giá. Ta cần giúp mình giúp người TÌM 2 THỨ BÁNH: bánh ở đời và bánh bởi trời. Bánh đó là Thánh Thể của Chúa và “bánh khiêm nhường,bánh hiền lành,bánh nhẫn nại,bánh chịu đựng,bánh bảo vệ sự hiệp nhất,bình an,hòa thuận” (Eph 4,1-6)
7/ “Anh em cứ bảo họ ngồi xuống…cứ cho họ ăn”
+Thế gian cần tình yêu.Không tình yêu thế gian sẽ là kiếp đọa đày +Không tình yêu,con người sẽ làm khổ nhau,đày đọa nhau +Có tình yêu,con người nhớ đến nhau,quan tâm đến nhau.Không tình yêu,con người sẽ vô cảm
+Có tình yêu,con người sẽ không bỏ lỡ cơ hôi để ban tặng tình yêu +Đừng bỏ lỡ cơ hội: giúp người ăn xin,cơ nhỡ,đói khổ
+VÀ NHẤT LÀ: Đừng bỏ rơi cha mẹ,ông bà,và những người già…và LÀM NGAY
8/ Câu chuyện: Có ông lão đêm mưa bão đến gõ cửa ông nhà giàu.Ông lão co ro,áo rách tả tơi hôi hám. Ông nhà giàu nghĩ bụng: nhà mình sạch,ông ấy hôi…chi bằng cho ông ta ít tiền để lão đi. Mấy ngày sau,người ta phát hiện một xác chết đầu làng. Đó chính là ông lão ăn xin chết cóng! Ông nhà giàu tiếc nuối vì BỎ LỠ CƠ HỘI làm phúc cứu một mạng người.
Vâng: Bỏ lỡ cơ hội làm phúc là thiếu sót,là có tội – lỗi bác ái – ân hận suốt đời
+Cơ hội đó là: giúp nhau,tạo niềm vui cho nhau,cơ hội tha thứ,cơ hội lập công…
+Đừng bao giờ nói: “lực bất tòng tâm”
+Nhưng cái TÂM đây phải bắt đầu bằng MIẾNG BÁNH NHỎ: “năm bánh hai cá”
+Không nhất thiết phải hoành tráng to phe,khua chiêng gõ mõ,quay phim
+Việc thiện BÉ với tấm lòng LỚN và Chúa sẽ làm phép lạ triệu triệu người ăn, và ĂN NO NÊ.
tqt30


Thứ Năm, 4 tháng 7, 2024

NHỮNG CA TỪ “KHÓ HIỂU” TRONG 8 CA KHÚC CỦA TRỊNH CÔNG SƠN…

 NHỮNG CA TỪ “KHÓ HIỂU” TRONG 8 CA KHÚC CỦA TRỊNH CÔNG SƠN…

Nhạc TCS không được xếp vào loại “nhạc vàng”, không phải ngẫu nhiên mà một số trang âm nhạc ưu ái để hẳn một thể loại nhạc riêng, đó là thể loại nhạc Trịnh. Nhắc đến nhạc TCS, có lẽ người ta sẽ nghĩ đến những triết lý, sự mông lung bí hiểm trong nhiều tầng lớp ý nghĩa của ca từ bài hát. Ngay cả những người sâu sắc và từng trải nhất cũng không dám khẳng định là mình hiểu hết ý nghĩa nhạc Trịnh. Bài viết này không có tham vọng giải thích cặn kẽ, chi tiết những ca từ nhạc Trịnh, chỉ viết lại những hiểu biết gom nhặt được trong quá trình tìm hiểu. Hy vọng khi đọc qua bài viết này, người yêu nhạc Trịnh sẽ có cảm giác: à, thì ra là thế…
1. Nghe Những Tàn Phai
Chắc hẳn là ai cũng đã từng nghe “tụi trẻ” ngày nay thường để câu “thính” quen thuộc trên facebook: cuộc đời là những chuyến đi… khi nhắc về các chuyến du lịch bụi. Không biết câu này xuất phát từ đâu, nhưng có lẽ những người yêu nhạc Trịnh sẽ thấy quen, vì nó rất giống với một câu trong bài “Nghe Những Tàn Phai”: Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là những chuyến xe…
Có ai giải thích được cặn kẽ ý nghĩa của bài hát này? Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là những đám đông/ Người chia tay nhau cuối đường/ Ngày đi đêm tới trăm tiếng hư không.
Có ai đang về giữa đêm khuya/ Rượu tàn phai dưới chân đi ơ hờ/ Vòng tay quen hơi băng giá/ Nhớ một người tình nào cũ/ Khóc lại một đời người quá ê chề./ Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là những quán không/ Bàn in hơi bên ghế ngồi/ Ngày đi đêm tới đã vắng bóng người./ Chiều nay em ra phố về/ Thấy đời mình là con nước trôi/ Đèn soi trên vai rã rời/ Ngày đi đêm tới còn chút hao gầy.
Nguyên bài là những lời lẽ có vẻ mông lung, như là không nhắc đến một điều gì cụ thể, giống như là tác giả đang nói về những chiêm nghiệm nào đó về cuộc đời? Không phải vậy, thật ra bài hát này được TCS viết về một đối tượng cụ thể: nhân vật chính là một cô gái làng chơi. Điều đó được ca sĩ Khánh Ly thừa nhận, bà đã được TCS trực tiếp giải thích ý nghĩa của bài này khi tập cho bà hát.Đó là một người kỹ nữ, một gái giang hồ đã về già và hết thời, với những bước chân trở về nhà trong đêm sau 1 ngày rã rời. Cô gái đôi khi thấy đời mình là những đám đông, những chuyến xe… rồi rốt cuộc chỉ là tiếng hư không, vắng bóng người trong 1 đời người đã quá ê chề. Rốt cuộc, từ một câu hát trong bài hát về cô gái điếm, giới trẻ biến thành một câu nói có vẻ rất ngầu: Cuộc đời là những chuyến đi…
2. Dấu Chân Địa Đàng
Bài hát Dấu Chân Địa Đàng, ban đầu có tên là Tiếng Hát Dạ Lan, được TCS viết trong thời gian ông dạy học ở B’Lao, Lâm Đồng. Trong bài này có hình ảnh ẩn dụ vô cùng khó hiểu như “loài sâu ngủ quên trong tóc chiều”, “lời ca dạ lan”…
May quá, những hình ảnh đó sẽ được chính tay tác giả giải thích, nếu bạn đọc được cuốn Thư Tình Gửi Một Người. Khi hiểu được những ca từ này, người nghe sẽ thấy bài hát sẽ trở nên hay hơn. Loài sâu này chính là một phiên bản khác của phận người, ôm chất chứa những buồn vui của nhân sinh, điều này càng được thấy rõ hơn trong những bức thư của TCS gửi Dao Ánh: “Ngôn ngữ đã mất đi với những ngày nằm co như một loài-sâu-chiếu ở Blao” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Ở đây cũng có loài sâu đất reo đêm” (thư Đà Lạt, 19.9.1964), “Đêm sáng mờ bên ngoài. Sâu đất reo rất trong ở bãi cỏ” (thư Blao, 23.10.1964), “Đêm đã lạnh và đã buồn. Cây cỏ lao xao. Anh chỉ còn nghe rõ tiếng sâu đất và tiếng dế reo…” (thư Blao, 29.12.1964), “Đêm rất dày đen. Sâu đất của núi rừng cũng đã reo lên âm thanh rất nhọn” (thư Blao, 23.9.1965).
Hình ảnh “dạ lan” cũng được nhắc tới trong bài này: “Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng”. Dạ lan là gì? Nhà cô gái 16 tuổi Dao Ánh ở Huế (cách nhà TCS ở Huế một cây cầu là cầu Phú Cam) trồng nhiều hoa dạ lan và loài hoa này không chỉ thơm ngát trong vườn nhà Dao Ánh mà còn lừng hương trong nhạc Trịnh và trong nhiều bức thư tình tha thiết, da diết của TCS gửi Dao Ánh: “Dạ lan giờ này chắc đã ngạt ngào cả một vùng tối đó rồi, đã cài lên từng sợi tóc của Ánh” (thư Blao, 31.12.1964), “Anh ao ước bây giờ mở cửa ra bỗng dưng có chiếc cầu bắc qua dòng sông và anh bước qua cầu rồi rẽ về phía tay phải đi đến căn nhà có mùi thơm dạ lan và đứng đó gọi tên Ánh thật thầm để chỉ vừa đủ Ánh nghe”(thư Blao, 26.9.1965).
Dĩ nhiên, “dạ lan” trong vùng kỷ niệm của TCS cũng như trong nhạc Trịnh, là hiện thân của vẻ đẹp và tình yêu thầm kín, thanh tao, thắm thiết của Dao Ánh, là biểu tượng, là hiện thân của cõi “địa đàng”, cõi “Thiên Thai”, cõi mơ ước hạnh phúc bất tuyệt muôn đời của nhân loại: “Mưa đã trở về cùng với đêm. Như một ngày nào Ánh rời xa anh để trở về với nếp sống bình thường, ở đó Ánh đi trên lối đi quen thuộc của những người đã đi trước mà không cần phải nhìn những bảng số hai bên đường. Sẽ bình thường và thản nhiên quên đã một lần dẫm chân qua một vực-thẳm địa đàng mà anh đã linh cảm trước từ lâu, như “địa đàng còn in dấu chân bước quên” của một thời anh đã âm thầm nghĩ rằng biết đâu Ánh không lớn lên từ một loài dạ lan nào đó” (thư Blao, 27.10.1964), “Bây giờ là tiếng nói đêm của anh với Ánh. Với Ánh dạ lan… ” (thư Blao, 22.11.1964).
3. Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời
Bài hát này, Trịnh Công Sơn đã nhân cách hóa “một dòng sông” và cho nó qua đời luôn. Có lẽ bạn sẽ thắc mắc: dòng sông sau khi qua đời thì nó sẽ trông như thế nào? TCS giải thích: “Hôm đó mình ở Đà Lạt đi qua cầu, bắt qua cầu Hồ Xuân Hương thì gặp người tình cũ đi với người yêu qua cầu. Mình nhìn thấy, mình cảm thấy sự mất mát quá lớn trong cuộc đời này… Bên cạnh đó khi đi qua cây cầu mình nhìn xuống thấy dòng nước chảy, mình nghĩ không chỉ mất người đó thôi mà mất cả dòng sông, dòng nước… mất hết cả.
Cho nên cái mất mát tưởng là nhỏ nhưng cuối cùng lại lớn. Cho nên có một dòng sông đã qua đời không phải chỉ là mình ví von người tình của mình là dòng sông, nhưng mà nàng đi qua một dòng sông, và mình mất nàng và mất luôn dòng sông. Lúc đó dòng sông nó không còn ý nghĩa gì nữa, trước đó đẹp vô cùng tận nhưng mà từ phút đó trở đi thì không có ý nghĩa gì cả. Nó cũng là mang đến cho mình một nỗi buồn giống như sự mất mát kia.
Cho nên vì vậy mới có bài có một dòng sông đã qua đời. Mình nghĩ như thế này, khi ta đi qua một nơi trốn nào đó, tình cờ bạn đi qua một cái núi, bạn gặp người tình của bạn cùng đi với một người khác, thì cái núi đó cũng qua đời rồi chứ không phải dòng sông đã qua đời, núi cũng qua đời luôn”.
4. Cát Bụi
Trong bài Cát Bụi, nhạc sĩ họ Trịnh có cái câu này, chắc hẳn nhiều người nghe cho qua chứ không hiểu lắm ý nghĩa: “Ôi cát bụi phận này/ Vết mực nào xóa bỏ không haỵ” Bà Đặng Tuyết Mai (vợ ông Nguyễn Cao Kỳ) trong một dịp gặp gỡ văn nghệ đã được TCS giải thích và mô tả sự khai sinh và khai tử (như được ghi lại trong bài hát “Cát bụi”) ở trong các làng xã xa xôi ở miền quê VN là:“Khi một đứa bé được sinh ra thì bố mẹ đứa trẻ báo cho làng xã biết.
Người ta ghi tên đứa bé vào một cuốn sổ bằng viết mực…, thế rồi khi đứa bé lớn lên sau lũy tre xanh, trưởng thành, già… nếu chết đi thì người nhà cũng báo cho làng xã biết; người ta cũng lấy cái bút gạch tên người chết trong cuốn sổ đinh này là xong một đời người”. Chính vì vậy mà sau khi một cuộc đời được chấm dứt câu “Vết mực nào xóa bỏ không hay” là thật chứ không phải là chuyện “mông lung” như chúng ta vẫn nghĩ.
5. Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ
Đây là một bài hát, một bài thơ thuộc dạng nổi tiếng nhất của TCS, mà đảm bảo từ cái tựa đề bài hát thôi là đã làm người nghe thấy mông lung, chóng mặt rồi. Sao tự nhiên đêm thấy ta là thác đổ? Nghe có vẻ siêu nhiên kỳ bí quá. Có một vị đã thiền lâu năm đã thốt lên: “TCS phải là sư tổ môn thiền học mới ‘đạt’ được cái trạng thái ‘thác đổ’ này”. Những ai theo thiền môn lâu năm đều biết, mỗi khi thiền xong, khi mở mắt ra là nghe thấy trong đầu còn có “âm vang như có tiếng thác đổ”. Thành ra “Nhiều đêm thấy ta là thác đổ” cũng là thật chứ không phải là chuyện siêu nhiên kỳ bí gì cả. Khi tỉnh ra, thì “vẫn như còn nghe”.
6. Một Cõi Đi Về
“Con tinh yêu thương vô tình chợt gọi”… Câu hát này sử dụng từ ngữ rất… TCS. Nhiều ca sĩ trẻ không biết “con tinh yêu thương” là gì, nên tự ý đổi lại thành “con tim yêu thương” cho nó thơ mộng. Sinh thời, TCS đã rất nhiều lần giải thích cái hay, cái chất Huế độc đáo của từ “con tinh” trong bài này. Theo ông, các cô gái nhỏ, xinh đẹp và nghịch ngợm ở Huế hay bị gia đình, người thân mắng yêu là “đồ yêu tinh”. Cái “con tinh” đó đã đi vào văn học và đi qua dòng nhạc Trịnh trong bài hát mà ông yêu thích nhất, nhưng đa số ca sĩ lại hát là “con tim”, làm cho câu hát không còn gì đặc biệt.
7. Chiều Một Mình Qua Phố
“Có khi nắng khuya chưa lên/ Mà một loài hoa chợt tím”…Ông Trịnh này lạ thật, đêm khuya thì làm gì có nắng, nên có 1 số ca sĩ đã đổi lại thành “có khi nắng mưa chưa lên” cho hợp lý, làm cho câu hát nghe rất khiên cưỡng và buồn cười. Thật ra đó là một sự ẩn dụ tinh tế của nhạc sĩ. Bài hát có bối cảnh buổi chiều, đường phố chưa lên đèn. Nhạc sĩ ví von đèn đường là một loại “nắng khuya”. Ý nghĩa của hai câu này là mới có buổi chiều, trời chưa tối, đường chưa lên đèn, mà loài hoa quỳnh tím ban đêm đã nở sớm rồi. TCS có lẽ bị ám ảnh bởi loài hoa đêm này, nên có hẳn hai bài hát dành cho loài hoa quỳnh là bài Quỳnh Hương và Chuyện Đóa Quỳnh Hương.
8. Mưa Hồng
“Em đi về cầu mưa ướt áo/ Đường phượng bay mù không lối vào”. Hai câu hát nổi tiếng này thật ra không có chứa đựng câu chữ nào là đánh đố hay khó hiểu. Nhưng nếu giải thích rõ ràng câu hát này ra thì sẽ có nhiều điều thú vị đằng sau đó. Bài hát này được TCS viết tặng cô Dao Ánh, với bối cảnh ở Huế. Mưa ở Huế thì buồn lắm, có nhiều bài hát đã nói lên nỗi buồn của cơn mưa xứ Huế rồi. Những ai sống ở đất cố đô đều biết con “đường phượng bay” nổi tiếng trong Thành Nội với hai bên trồng toàn cây phượng vĩ. Còn câu hát: “Em đi về cầu mưa ướt áo”, nếu ghi rõ nghĩa hơn thì sẽ là: em đi về, cầu cho mưa ướt áo em. Một người con gái đi ngoài mưa mù mịt, mưa rơi ướt sũng áo mỏng, lớp áo dán sát vào cơ thể.
Không cần nói thì ai cũng biết hình ảnh đó gợi cảm biết nhường nào. Vấn đề ở đây là “ai cầu cho mưa ướt áo em?”. Hẳn nhiều người sẽ cho rằng chắc chắn đó là “anh”, để anh còn có dịp nhìn nữa chứ. Tuy nhiên, cũng trong một buổi tiệc có mặt bà Đặng Tuyết Mai và TCS (đã nhắc đến bên trên), thì bà Mai đã đưa ra ý kiến của bà như sau: “Riêng tôi (bà Tuyết Mai phu nhân của Ng Cao Kỳ) thì cho rằng chính cô gái mới là người cầu mong cho mình bị mưa ướt, bởi lẽ người xứ Huế rất coi trọng gia phong lễ nghĩa, nhất là trong cách ăn mặc - lúc nào cũng phải thật kín đáo, không bao giờ dám để lộ thân thể dù chỉ là một chút xíu.
Cô gái trong bài hát tự biết mình có hình dáng đẹp, muốn khoe nhưng không biết làm cách nào nên chỉ dám cầu mưa cho mình bị ướt áo để khoe vẻ đẹp cơ thể một cách tự nhiên mà vẫn giữ được sự ngượng ngùng, e ấp… Khi nghe tôi giải thích như thế, nhạc sĩ TCS đã đứng dậy, với tay qua bàn tiệc bắt tay tôi kèm theo một nụ cười mãn nguyện”.
SÀI GÒN XƯA
#8saigon



Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2024

Chúa Giêsu lên trời !

 Chúa Giêsu lên trời !

Có người khẳng định: Tin có Chúa là không có khoa học. Khoa học là những khám phá thiên nhiên bằng trí khôn của con người. Mà Thiên Nhiên lại là được Chúa dựng nên !
Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại rồi lên trời trước mặt và trước mắt một số người, là chuyện của đức tin. Tin hay không tin là quyền tự do của mỗi người. Đã có hơn 2 tỷ người trên thế giới, trong đó có nhiều nhà khoa học vĩ đại, tin chuyện này !
Vậy TRỜI là ở đâu vậy ?
Câu đầu tiên của Kinh Lạy Cha mà Chúa Giêsu dạy chúng ta đọc khi cầu nguyện là : Lạy Cha chúng con Ở TRÊN TRỜI. . . Chính Chúa Giêsu đã từng khẳng định : Nhà Cha Thầy (ở trên trời) có nhiều chỗ . . . ( Ga 14, 1-12).
Chúa Giêsu đã mạnh mẽ quả quyết: “ Con Người vốn ở trên trời “(Ga : 3,13)
Và Chúa Giêsu lại cũng nói :”Không ai đã lên trời ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. . . “ (Ga 3,7-15).
Vậy cho nên chỉ duy nhất có Chúa Giêsu mà thôi có thể nói cho con người những chuyện ở trên trời. Tin hay không tin Chúa Giêsu nói là tùy mỗi người chúng ta. Nhưng . . . Chúa Giêsu là một nhân vật đáng tin tưởng nhất trên trần gian này xưa nay. Chưa có nhà thông thái nào bảo ông Giêsu là kẻ nói dối cả. Cuốn sách nói về những việc Chúa Giêsu làm và lời Chúa Giêsu dạy là sách Phúc Âm, thì được in ra nhiều nhất, được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất và nhiều người say mê đọc nhất !
Thánh Phaolo cũng khẳng định : “Quê hương chúng ta là ở trên trời”
(Pl 3, 20-21)
Chúa Giêsu khi đã chu toàn sứ mệnh cứu chuộc loài người mà Thiên Chúa Cha giao , thì Ngài về cùng Cha là về trời !
Trong Hội Thánh xưa nay có lễ Chúa Thăng Thiên là như vậy.
Đức Maria được Thiên Chúa thưởng cả hồn lẫn xác cũng được đưa lên trời. Đức Mẹ thì được mời, được triệu về, được rước về . . . 15.8 hằng năm là lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên, nghĩa là được mời và được giúp đưa lên.
Chúa Giêsu nói là nhà Cha Thầy có nhiều chỗ, Thầy đi trước để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu anh em cũng ở đó với Thầy !
Chúa Giêsu đã từng nói Thầy là Đường. . . Vậy là có một con đường mang tên GIÊSU. Bất cứ ai đi trên con đường này thì sẽ được dẫn vào nhà Cha trên trời. Điều đó là chắc chắn.
Lạy Chúa Giêsu ! Người Việt chúng con nói : Sinh ký, tử quy, sống gửi thác về, xin dạy cho chúng con biết con đường về trời, nơi đó mới là quê thật như Chúa đã mặc khải cho chúng con. Amen
Nguồn bài viết : Lm.Phêrô Nguyễn Văn Đông.


Thứ Ba, 23 tháng 4, 2024

NGHỊCH LÝ CUỘC SỐNG!

 NGHỊCH LÝ CUỘC SỐNG!

Nhà mẹ là nhà con
Thản nhiên các con ở
Nhà con, mẹ ở đỡ
Ít hôm phải ra về?
Nhà mẹ, con khen chê
Uống ăn tuỳ sở thích
Nhà con, mẹ đúng lịch
Ăn ngủ phải căn giờ?
Nhà mẹ, con sạch dơ
Không một lời ca thán
Nhà con, mẹ phải ráng
Ăn ở cho gọn gàng?
Nhà mẹ con cãi ngang
Nhiều khi còn to tiếng
Nhà con “im như hến”
Dù mẹ có đúng sai?
Nhà mẹ, con rất oai
Khách ra vào cả đám
Nhà con, mẹ đâu dám...
Phải xin phép rõ ràng?
Nhà mẹ, không khang trang
Cuộc sống con no đủ
Nhà con, đầy nhiều thứ
Sao mẹ phải đói no?
Của mẹ, không đắn đo
Thản nhiên con cứ lấy
Của con, dù mẹ thấy
Khi dùng phải hỏi thưa?
Nhà mẹ, con dậy trưa
Nước cơm đã bày sẵn
Nhà con, mẹ chắc chắn
Bị lườm nói khó nghe?
Khi xưa, con khóc nhè
Mẹ ẵm bồng rõ khéo
Nay, cháu khóc bị réo...
Bà sao lại vụng về?
Nhà mẹ ở dưới quê
Các con về rao bán
Đón mẹ lên bầu bạn
Chăm sóc tiện chúng con
Bán xong, mẹ tủi hờn
Bởi chúng đòi chia chác
Rồi cư xử ác bạc
Vì toan tính thiệt hơn?
Ước mong già cậy con
Giờ tan thành mây khói
Mẹ lại thầm mong mỏi
Được quay lại nhà xưa!
Hỡi bố mẹ già nua
Hay là đang còn trẻ
Dù ốm đau, mạnh khoẻ
Nhà ta hãy cứ dùng...
Bởi đó ngôi nhà chung
Cho gái trai dâu rể
Chúng quây quần ngày lễ
Khi cúng Tổ, cúng Tiên
Giờ đây vì bạc tiền
Tình cảm tựa mưa nắng
Ơn sinh thành nghĩa nặng
Chúng quên cả rồi sao
Hỏi đất thấp, trời cao
Mẹ cha gì nên tội?
Sao con không nghĩ tới
Mình nếu giống mẹ cha !!?
Nguồn bài viết: Văn Anh Nguyễn.


Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2024

ĐÃ TÌM LÊN XỨ TRÀ NGAO...

 ĐÃ TÌM LÊN XỨ TRÀ NGAO...

Xứ Trà Ngao là xứ Kontum. Đúng hơn là Miền truyền giáo Kontum bao gồm cả Kontum, Pleiku, Banmêthuột, Phú Bổn…
Sở dĩ có tên gọi Trà Ngao là vì ở Miền truyền giáo Kontum, các vị thừa sai đã đặt một cư sở chính ở tại Trung tâm Truyền giáo cho người Bahnar-Rơngao, còn gọi là Rơhai, vị trí ngay giáo xứ Tân Hương thành phố Kontum bây giờ. Chung quanh thành phố này có nhiều đồng bào dân tộc Rơngao – một sắc dân chính trong vùng. Khi chưa có tên gọi hành chính, người Kinh ở Trung Châu (các tỉnh đồng bằng duyên hải miền Trung) thường gọi tên vùng theo sắc dân và đã gọi vùng Kontum là xứ Rơ Ngao. Và cũng từ đó xuất hiện tên gọi Trà Ngao.
Không riêng gì ở Tây Nguyên – Kon Tum, trong nước Việt Nam từ Nam ra Bắc có nhiều địa danh mang thành tố “Trà” ở trước tên gọi. Tùy theo đặc điểm từng vùng và yếu tố ngôn ngữ mà chúng có ý nghĩa khác nhau.
Có khi từ tố này có gốc thuần Việt, chẳng hạn địa danh Trà Mi ở Quảng Nam, là tên một loài hoa thuộc hoa hồng, được trồng làm cảnh.
Có khi thành tố Trà có gốc Hán Việt, nó lại liên quan đến…trà (chè), như ở Quảng Ninh có địa danh Trà Bản (cái gốc của cây trà); Trà Cổ (tên ghép Trà Phương – Cổ Trai. Trà Phương là hương thơm của trà).
Một số khác bắt nguồn từ ngôn ngữ Chăm hoặc Khơme:
-Xuất phát từ chữ Ia (sông nước) gốc Chăm mà chuyển thành: Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu (Quảng Ngãi), Trà Bình (Bình Định)…đều liên quan đến các dòng sông, con suối.
-Do âm tiết Tra đứng đầu trong tên gọi, hay Tà (nghĩa là ông+tên người) trong ngôn ngữ Khơme: Trà Vinh, Trà Cuôn, Trà Lọt, Trà Quýt…, ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.v.v. [1]
Tuy nhiên, khi thành tố Trà theo lớp cư dân người Kinh ở Trung Trung Bộ lên Kon Tum, nó lại mang một ý nghĩa khác. Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Vân, nhà nghiên cứu lịch sử Tây Nguyên đã dẫn ý kiến và đồng tình với ý nghĩa sau đây của từ tố Trà trong một số địa danh ở tỉnh Gia Lai khi viết rằng: “Theo Linh mục Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn, một người đam mê nghiên cứu lịch sử-văn hóa, từ tố Trà trong rất nhiều địa danh ở Gia Lai có nguồn gốc từ từ pla, tức là làng trong tiếng Chăm. Trong cách đọc của cư dân ven biển miền Trung Trung bộ, pl thường bị biến âm thành tr, trà ở đây được biến âm từ pla, có nghĩa là làng mà thành” [2]. Và Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Vân kết luận: “Vậy, chúng tôi thấy ý kiến cho rằng từ tố Trà trong những địa danh ở Gia Lai có nguồn gốc từ pla hay plơi – tức là làng trong ngôn ngữ Malayo-Polinesian mà cư dân Việt vùng ven biển miền Trung nước ta chịu ảnh hưởng từ trước, là có cơ sở”[3].
Nhận định trên hoàn toàn có thể áp dụng cho cả tỉnh Gia Lai và Kon Tum. Thường thì tên của làng bắt đầu bằng Trà kết hợp với tên chính của làng hay tên người lập làng. Những tên làng này qua thời gian có thể chuyển hóa thành tên đơn vị hành chính lớn hơn như xứ, vùng, xã, cộng đồng dân cư.
Ở Kon Tum, ngoài Trà Ngao (xứ Rơ Ngao), còn có Trà Rộp (Plei Jơdrâp), Trà Quắc (Plei Rơ Wăk). Gia Lai có Trà Huỳnh (Plei Towân), Trà Oe (Plei Tơuer), Trà Cu/ Trà Cú (Plei Ku), Trà Tiên (Plei Têng), Trà Nhiên (Plei Nhing), Trà Đa (Plei Dal – làng Cố Corompt Hiển thành lập), Trà Phan (làng linh mục Phan thành lập), Trà Dôm (Plei Piơm), Trà Nhá (Plei Tơ Nhă), Trà Bá (?)…
Năm 1925, Đức Cha Đamianô Grangeon Mẫn (Qui Nhơn) đã cho phép các tín hữu các tỉnh Trung Châu lên lập nghiệp làm ăn trên Tây Nguyên, do hoàn cảnh đói kém xảy ra dưới vùng đồng bằng. Ngài đã ra thư chung “Về sự cho bổn đạo nghèo đi làm ăn nơi khác”, trong đó Đức Cha đã hướng dẫn cặn kẽ các cha sở và bổn đạo:
“Vì vậy đừng cho đi Saigon hay Đà-lạch [Đàlạt], vì phần thì xa xuôi, phần thì chẳng ai bảo lãnh lo liệu cho, ắt phải khốn khó mọi bề mà chớ. Có hai nơi nên cho bổn đạo tới làm ăn:
Một là, trong Phan-rang; tại Hộ-diêm, địa sở cố Thiết; hoặc tại Rừng-lai, địa sở cố Lợi. – Nhưng vậy hai nơi này cũng hẹp, chẳng lãnh đặng bao nhiêu nhà.
Hai là, xứ Trà-ngao (trên mọi); đất ruộng minh mông, khí lạnh, đất tốt; lập vườn, làm ruộng đều được. Ai tới đó chí công lập nghiệp chắc sẽ được ấm no và có khi sẽ nên phú túc”.
Ngài còn đề xuất những nơi đến cụ thể:
“Vả chăng nhiều Cha trên ấy sẵn lòng lãnh bổn đạo dưới nầy lên, và lo lắng cho phần hồn phần xác; nhứt là mấy cha sau nầy:
a) Cố Hiển [Corompt] ở tại An-hòa và Đàng-riơ, muốn cho có kẻ tới đặng vỡ ruộng, lập vườn trồng trà-phe, trồng chè…
b) Cố Cận [Nicolas] tại Pơlei-Poo, cũng hiếm chỗ lập vườn làm ruộng.
c) Cha Phan, ở Pơlei-ku, Tiên-sơn; Cha Nhì [Hutinet], Thăng-bình; cha Diện, Pơlei-Đơrap; Cha Ban, Hamông; cùng mấy cha khác cũng trông cho kẻ tới lập nghiệp làm ăn, chẳng thiếu chi đất hoang nhàn phì mĩ” [4]
Chúng tôi xin giới thiệu một bài thơ miêu tả phong cảnh xứ Trà Ngao, tại trung tâm của sắc dân Rơ Ngao – tỉnh lỵ thành phố Kon Tum ngày nay, kèm một vài hình ảnh xưa, để chúng ta hiểu hơn về xứ sở này. Bài thơ trích trong Tạp chí “Chức Dịch Thơ Tín” của Địa phận Kon Tum, số 44, tháng 12 năm 1936, tr.553-554. Bài thơ cách đây gần một thế kỷ nhưng chúng ta ngày nay đọc lên vẫn cảm thấy đồng cảm với tác giả: “Gọi là gợi chút ơn xưa…”.
NHÌN PHONG CẢNH NHỚ NGƯỜI XƯA
Mắt nhìn phong cảnh Kontum,
Nhớ người thiên cổ bút cầm chép qua.
Kể từ lầu sứ tỉnh tòa,
Ngó lên thẳng rẳng cửa nhà liên miên.
Hết hai dẫy phố tiếp liền,
Xảy thấy một miền đồn lính vẻ vang.
Từ đây đã hết nhà quan,
Tiếp luôn trên nữa là tràng Têxa.
Nhà thờ đẹp đẽ nguy nga,
Thánh danh bổn mạng Đức Bà Môi-khôi.
Gióng lên Phường-nghĩa một hồi,
Mắt trông đã thấy một ngôi thánh đường.
Toàn cây chắc đẹp phi thường,
Bên kia lại có vừng hồng vẻo ve.
Hiệu là trường thánh Giu-se,
Ngó quanh qua phía hàng tre kia đàng,
Đức Cha đã lập một tràng,
Trong ngoài đẹp đẽ vẻ vang quá chừng.
Bây giờ xây lại sau lưng,
Ngay ra đàng cái nhắm chừng xa xa,
Mắt trông lại thấy một tòa,
Nguy nga tráng lệ gọi là “Torium”.
Trường nầy lớn nhứt Kontum,
Đã cao lại rộng lẫy lừng minh mông.
Cố Lui (Louison) cũng lập vườn bông,
Kế luôn phía dưới giữa đồng ngã ba,
Thường kêu hang đá Đức Bà,
Để cho ai nấy đến mà khẩn xin.
Tự lòng kính mến cậy tin,
Ốm đau tật bịnh an tuyên hằng hà.
Ấy là vắn tắt đơn sơ,
Những nơi lễ tế phượng thờ mà thôi,
Không sao cho hết các nơi,
Kẻo ra dài quá lạc lời đề trên.
Vậy nay muôn việc đều nên,
Láng tràn nước Chúa khắp trên miền này.
Đầu giây mối nhợ ai gầy,
Đem đàng chỉ lối ở đây bây giờ.
Xưa kia vốn những bụi bờ,
Rừng cao núi rậm mịt mờ liên liên.
Ấy nhờ các đấng chăn chiên,
Dâng mình tế lễ cho miền mọi cao.
Đã tìm lên xứ TRÀ NGAO,
Những hồi chưa có đàng vào nẻo ra.
Thương thay cho bấy các Cha,
Vì con chiên lạc đàng xa chẳng nài,
Giày sàn đạp sỏi chông gai,
Miễn sao cho đặng truyền lời Evan.
Đành lòng cam chịu gian nan,
Đem người ngoại giáo hiệp ràn Hội-công.
Rày người giữ đạo rất đông,
Minh mông khắp xứ khôn cùng kể ra.
Lâu đài phố xá nguy nga,
An cư lạc nghiệp, âu ta phải tường.
Nhớ ơn các đấng mở đường,
Nguyện cho hồn đặng miên trường tiêu diêu.
Nay vì thanh khí ban chiều,
Dạo chơi phường phố thấy nhiều cảnh xinh.
Bỗng nhiên trực nhớ đến mình,
Còn mang ơn nặng vô tình bấy lâu.
Vội vàng vắn tắt vài câu,
Hiến cùng độc giả giải sầu cho vui.
Gọi là gợi chút ơn xưa…
Paul T. P. N.
(Chức Dịch Thơ Tín số 44, tháng 12.1936, tr.553-554)
Minh Sơn – Tháng 04/2024
_______________
Chú thích:
[1] Lê Trung Hoa, “Địa danh Việt Nam mang thành tố Trà”. Nguồn: khoavanhoc-ngonngu.edu.vn
[2]&[3] Nguyễn Thị Kim Vân, “Nguồn gốc địa danh có từ tố “Trà”, Báo Gia Lai online ngày 19/11/2017.
[4] Thư Đức Cha Đamianô (1925) “Về sự cho bổn đạo nghèo đi làm ăn nơi khác”. Trích Mémorial Mission de Quinhon, Số 5, Mai 1925, tr. 69-70. Nguồn: gpquinhon.org
(Ảnh: Nhà Rông Bahnar ở Kon Tum - Ảnh: MEP).
Nguồn bài viết: (Mời vào trang để xem hình ảnh)












Nguồn bài viết : Lê Minh Sơn.

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2024

NGƯỜI TÌNH TRONG “THU, HÁT CHO NGƯỜI” LÀ AI ? (TIẾP THEO).

 NGƯỜI TÌNH TRONG “THU, HÁT CHO NGƯỜI” LÀ AI ? (TIẾP THEO).

KỲ 2: ĐỜI CHƯA NGUÔI GIÓ BÃO.
(Bài viết trích đoạn trong tập sách "Người tình trong những ca khúc của Trương Văn Khoa - Nhà xuất bản Hội Nhà Văn - 2013).
Cuối năm 2011, một lần viết về bài hát này trên báo “Người lao động”, Vũ Đức Sao Biển giải thích rằng, tựa đề ca khúc “Thu, hát cho người” là hát cho chính mình, hát cho mùa sim tím, tháp cổ và dòng sông ở vùng quê nghèo khó Thăng Bình (Quảng Nam). Lần này, không hiểu vì sao, trong bài báo “Tôi viết Thu, hát cho người”, ông không hề nhắc đến những câu chuyện về Thu ngày ấy ? Ông tâm sự, thuở học trò, tâm hồn trong sáng như dòng suối êm đềm xuôi chảy dưới chân đồi. Mùa thu, hoa sim tím nở như một tấu khúc dịu dàng. Hoa sim, màu hoa tím nhạt lãng mạn, bình dị giữa thu vàng lại gợi nhớ đến như vậy ? Ông nhớ hoa, nhớ người, ôm đàn và hát lên:
"Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim, ta nhớ người vô bờ…”
Thật ra, Vũ Đức Sao Biển đã mượn ý của thi sĩ Thôi Hiệu (đời Đường) trong bài “Hoàng hạc lâu” với câu:
“...Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du…”
(…Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không…)
Và ngẫu nhiên, những lời trong bài hát “Thu, hát cho người” cũng trùng với ý thơ của thi sĩ nổi tiếng người Pháp Guillaume Apollinaire (1880-1918) trong bài thơ để đời L'Adieu (Lời vĩnh biệt):
“…J'ai cueilli ce brin de bruyère
L'automne est morte souviens-t'en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t'attends…”
Sau này, thi sĩ Bùi Giáng dịch thành:
(…Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng đựợc nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó ... )
Năm 2007, trong một lần gặp gỡ văn nghệ, khi Vũ Đức Sao Biển nhắc lại câu hát:
“…Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó.
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư…”
nhà văn Sơn Nam đã “phê bình” Vũ Đức Sao Biển : “Mày nói dóc ! Cây sim ngoài Quảng Nam của mày thấp tịt, vậy mày ngồi chỗ nào để đợi con nhỏ đó ? Mà cái đồi sim thì trống huơ trống hoác, con nhỏ đó có đến thì mày mần ăn được gì ?”
Vũ Đức Sao Biển lý giải rằng, cây sim già không nhỏ, đặc biệt là khi mọc trên đồi cát, có cây cao vài ba mét, tỏa bóng mát quanh năm. Ngày ấy, tuổi 20, lòng Vũ Đức Sao Biển vô cùng trong sáng chẳng bao giờ dám nghĩ tới hai chữ “mần ăn” như ông già Nam bộ đã nói.
Liên quan đến mối tình thơ mộng này, vào năm 1967, tại La Qua, Vĩnh Điện, (Quảng Nam), Đynh Trầm Ca (Mạc Phụ) đã viết tặng cho Hồ Thị Thu ca khúc "Ru con tình cũ" rất thiết tha.
Năm 1970, tình cờ trong một đêm nhạc ở Sài Gòn, một người ở Nhà xuất bản âm nhạc Khai Sáng nghe xong đã chuyển bản nhạc này cho Lệ Thu, cô ca sĩ nổi tiếng này đã bật khóc ngay trong phòng thu âm khi hát đoạn đầu tiên: "Ba năm qua em trở thành thiếu phụ, ngồi ru con như ru tình buồn..."
Bản nhạc cũng được ca sĩ Hà Thanh hát trên đài phát thanh Sài Gòn:
”Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như ru tình buồn
Xin một đời thôi tiếc thương nhau
Xin một đời ngủ yên dĩ vãng
Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như ru tình sầu
Kỷ niệm nào ghi dấu trên tay
Cho lòng này dài những cơn đau
Ôi ba năm qua rồi
Đời chưa nguôi gió bão
Người xa xôi phương nào
Người có trách gì không?
Thôi anh ơi anh đừng hờn trách nữa
Đời em như rong rêu tội tình
Xin gục đầu ghi dấu ăn năn
Thôi đừng buồn em nữa nghe anh”.
Sau này, người con gái tên Thu cũng đi vào trong bài thơ "Cây đàn thương nhớ" của Đynh Trầm Ca với những hình ảnh rất đẹp của tuổi học trò:
“Buổi ta vác cây đàn ngang trường cũ
ai như em đứng ngó cuối hành lang
ai như ta ngồi mơ sau cửa lớp
có lẽ nào mình còn đó sao, Thu ?...".
Hơn 40 năm trôi qua, "Thu hát cho người' dường như có sức quyến rũ lạ thường. Café Thu ngày ấy không còn nữa… Hồ Thị Thu bây giờ đã ngoài 60 và trở thành một bà chủ tiệm bán hàng trang trí nội thất ở thị trấn Hà Lam.
Mỗi lần về lại Thăng Bình, lên những đồi sim bạt ngàn ở vùng trung du (Bình Định, Bình Trị,...), tôi lại khe khẽ hát trong hoài niệm, trong nỗi nhớ về những tháng ngày xưa cũ...
"...Thời gian nào trôi bềnh bồng trên phận người
Biệt ly nào không buồn phiền trên dấu môi
Mùa vàng lên, biêng biếc bóng chiều rơi
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người...”.
Trương Văn Khoa.