Thứ Năm, 26 tháng 6, 2014

TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM TỪ CÂY CHÌA VÔI

TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM TỪ CÂY CHÌA VÔI ( thần dược chữa xương khớp )
-Tác dụng chữa bệnh của cây chìa vôi từ xa xưa các tài liệu y học cổ từng nhắc đến, là cây thuốc nam chữa được nhiều bệnh phổ biến như phong thấp, đau xương, thoái hoá cột sống.
Cay chia voi con goi là cây đau xương .
Bài thuốc chữa bệnh thoái vị đĩa đệm gồm sáu loại thảo dược, trong đó cây chìa vôi giữ vai trò chủ đạo, đây là một giống cây thân leo thường mọc gần bờ suối hoặc những nơi ẩm ướt, rất dễ kiếm.
- Bài thuốc sử dụng chìa vôi chữa thoát vị đĩa đệm.
Hái cây về rửa sạch, thái nhỏ, sau đó đem phơi khô hoặc sao vàng bằng lửa rồi đun lấy nước uống hằng ngày. Ngoài vị thảo dược “chủ đạo” trên, bài thuốc chữa trị bệnh thoái vị đĩa đệm còn có thêm 5 loại thảo dược phụ khác là cây cỏ xước, dền gai, tầm gửi, cỏ ngươi và lá lốt.
Mỗi vị thảo dược đều có tác dụng đặc trưng. Tuy nhiên tác dụng chung của chúng là thu phong, giảm đau, điều trị xương khớp từ đó bổ trợ điều trị đĩa đệm bị thoái vị.
Sau khi phơi khô, mỗi vị dùng khoảng 20 – 30gr trộn đều với nhau đun lấy nước uống trong ngày. Nước thuốc có vị đắng nhẹ và thơm, hễ khát lúc nào cứ uống lúc đó chứ không cần phải băn khoăn liều lượng, bởi thuốc không hề gây ra tác dụng phụ nào. Người bệnh cũng không cần kiêng cữ bất cứ điều gì. Nếu kiên trì uống thuốc đều đặn, sau vài tháng sẽ cho kết quả rõ rệt.
Ngoài cách dùng phơi khô đun lấy nước uống, có thể kết hợp sử dụng lá cây chìa vôi trị bệnh thoái vị đĩa đệm ở dạng tươi như sau: Đem lá cây giã mịn, trộn thêm ít muối sống rồi cho hỗn hợp này vào túi vải, đắp lên vị trí bị đau nhức.
Chú ý sử dụng lá tươi phải rửa thật kĩ, bởi trên bề mặt lá chìa vôi có lớp bột phấn gây ngứa. Muối sống sẽ có tác dụng khử chất ngứa này. Nếu trong quá trình đắp thuốc mà bị ngứa quá, người bệnh chỉ cần giảm lượng hỗn hợp lại là xong. So với sắc nước uống, sử dụng lá tươi cho kết quả nhanh hơn, thường đắp thuốc chỉ vài hôm sẽ giảm đau ngay.
Khác với tây y, thuốc nam cho kết quả chậm mà chắc, thậm chí người không bị bệnh uống thuốc hàng ngày sẽ rất có lợi cho sức khoẻ

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Đức Thánh Cha Phanxico chứng kiến phép lạ Mình Thánh Chúa Ki-tô

Đức Thánh Cha Phanxico chứng kiến phép lạ Mình Thánh Chúa Ki-tô


Đức Thánh Cha Phanxico chứng kiến phép lạ Mình Thánh Chúa Ki-tô
Đức Thánh Cha Phanxico chứng kiến phép lạ Mình Thánh Chúa Ki-tô
Năm 1996 tại Tổng Giáo Phận Buenos Aires, Argentina, Đức Giáo Hoàng Francis hiện tại là Giám Mục phụ tá cho Đức Hồng Y Quarracino, một phép lạ Thánh Thể tuyệt vời đã diễn ra. Chính ngài đã ra lệnh chụp ảnh và điều tra và kết quả thật đáng kinh ngạc.


Đức Thánh Cha Phanxico chứng kiến phép lạ Mình Thánh Chúa Ki-tô

Năm 1996 tại Tổng Giáo Phận Buenos Aires, Argentina, Đức Giáo Hoàng Francis hiện tại là Giám Mục phụ tá cho Đức Hồng Y Quarracino, một phép lạ Thánh Thể tuyệt vời đã diễn ra. Chính ngài đã ra lệnh chụp ảnh và điều tra và kết quả thật đáng kinh ngạc.

Vào lúc 07:00 tối ngày 18 Tháng Tám năm 1996, cha Alejandro Pezet đã cử hành Thánh lễ tại một nhà thờ Công giáo tai một trung tâm thương mại của Buenos Aires. Khi ngài kết thúc phần trao Mình Thánh Chúa (cho giáo dân), một người phụ nữ đã đến và thưa với ngài rằng cô đã thấy một Mình Thánh bị bỏ trên một chân đèn ở đầu nhà thờ. Khi đến nơi, cha Alejandro thấy Mình Thánh Chuá đã bị dơ bẩn. Nên cha không thể rước Mình Thánh Chuá được, thay vì thế ngài đặt Mình Thánh trong một hộp nước và đặt hộp đó trong nhà tạm của nhà nguyện Blessed Sacrament.

Thứ Hai, ngày 26 tháng 8, khi mở nhà tạm, cha đã rất đỗi ngạc nhiên khi thấy Mình Thánh Chuá đã biến thành đẫm máu. Cha liền thông báo cho Giám mục Jorge Bergoglio (Bây giờ Đức Thánh Cha Francis, đang là GM Phụ tá), Đức cha đã chỉ thị chụp ảnh Mình Thánh Chuá một cách kỹ càng. Các bức ảnh được chụp vào ngày 06 tháng 9. Chúng cho thấy rõ ràng Mình Thánh đã trở thành một mảnh thịt đẫm máu, và càng ngày càng lớn thêm. Trong nhiều năm, Mình Thánh Chuá vẫn được giữ trong nhà tạm, và toàn bộ sự việc được giữ bí mật nghiêm ngặt. Đến khi Mình Thánh Chúa đã biến đổi hoàn toàn, không còn là Bánh nữa mà toàn bộ đã trở nên thịt và máu thì Đức Hồng Y Bergoglio (Người đã trở thành Tổng giám mục vào thời điểm đó) quyết định cho phép làm phân tích (thịt và máu) cách khoa học.

Vào ngày 5 tháng 10 năm 1999, trưóc sự hiện diện của các vị đại diện Đức Hồng Y, Tiến sĩ Castanon đã lấy một mẫu của mảnh thịt đẫm máu và gửi đến New York để phân tích. Vì không muốn làm phương hại đến việc nghiên cứu, ông cố tình không thông báo cho nhóm các nhà khoa học về nguồn gốc của mẫu xét nghiệm (nguồn gốc của mẫu được giữ bí mật đối với các nhà khoa học).

Một trong những nhà khoa học là tiến sĩ Frederic Zugiba, một chuyên gia tim mạch nổi tiếng và nghiên cứu bệnh học pháp y. Ông xác định rằng chất phân tích là xác thịt thực sự và máu có chứa DNA (AND) của con người. Zugiba xác nhận rằng, "các dữ liệu phân tích là một mảnh của cơ tim được ở trong các vách ngăn của tâm thất trái gần với van tim. Nhiệm vụ cơ này là co thắt trái tim. Cần lưu ý rằng tâm thất của tim có nhiệm vụ bơm máu cho tất cả các bộ phận của cơ thể. Cơ tim trong tình trạng viêm và có chứa một số lượng lớn các bạch cầu. Điều này cho thấy rằng trái tim còn sống vào thời điểm lấy mẫu. Luận cứ của tôi là trái tim còn sống, vì các bạch huyết cầu đã chết chỉ có mặt ở bên ngoài một cơ thể sống. Chúng chỉ có thể sống (và tồn tại) bên ngoài của một sinh vật sống mà thôi. Như vậy, sự hiện diện của các bạch huyết cầu cho thấy rằng trái tim vẫn còn sống khi lấy mẫu. Hơn thế nữa, các tế bào bạch cầu xâm nhập vào các mô (tim), điều đó cũng chỉ ra rằng trung tâm (Tim) đã bị căng thẳng cực độ, và dường như chủ sở hữu đã bị đánh đập nghiêm trọng ở phần ngực. "

Hai người Úc, nhà báo Mike Willesee và luật sư Ron Tesoriero, chứng kiến các thử nghiệm này. Họ biết mẫu xét nghiệm đến từ đâu, họ đều chết lặng bởi lời xác nhận của Tiến sĩ Zugiba. Mike Willesee hỏi những nhà khoa học rằng các bạch huyết cầu lấy từ mô của con người sẽ sống được bao lâu một khi chúng đã bị ngâm trong nước. Chúng sẽ không còn tồn tại chỉ trong một vài phút, Tiến sĩ Zugiba trả lời. Các nhà báo sau đó nói với các bác sĩ rằng nguồn gốc của mẫu xét nghiệm đã được giữ trong nước bình thường một tháng và sau đó thêm ba năm trong một hộp chứa nước cất, sau đó mới được lấy để mang đi phân tích. Tiến sĩ Zugiba đã hoàn toàn kinh ngạc về sự kiện này. Khoa học không thể giải thích được về chuyện này, ông nói.

Ngoài ra, Tiến sĩ Zugibe sôi nổi hỏi: "Các bạn phải giải thích cho tôi điều này, nếu mẫu này đến từ một người đã chết, thì làm sao nó có thể chuyển động và đập trong khi tôi làm xét nghiệm? Nếu trái tim này được lấy từ những người đã chết vào năm 1996, làm thế nào nó có thể vẫn còn sống?

Sau đó Mike Willesee xác quyết với tiến sĩ Zugiba rằng mẫu xét nghiệm đến từ một Mình Thánh (bánh mì không men,mầu trắng) đã biến thành thịt người đẫm máu cách bí ẩn. Ngạc nhiên trước thông tin này, tiến sĩ Zugiba trả lời: "Làm thế nào và tại sao một Mình Thánh Chúa đã có thể thay đổi bản thể của mình để trở thành thịt và máu người sống còn là một bí ẩn mà khoa học không thể giải thích được và là một bí ẩn hoàn toàn vượt quá khả năng của khoa học."

Sau đó, bác sĩ Ricardo Castanon Gomez tổ chức một buổi tường trình về các kết quả xét nghiệm phép lạ của Buenos Ares so sánh với các kết quả xét nghiệm phép lạ từ Lanciano, nhưng ông không tiết lộ về nguồn gốc của các mẫu thử nghiệm. Các chuyên gia thực hiện việc so sánh kết luận rằng: các báo cáo từ hai phòng thí nghiệm phải có nguồn gốc từ các mẫu thử nghiệm thu được từ cùng một người. Họ cũng cho biết cả hai mẫu xét nghiệm đều có chung một mẫu máu AB dương tính (AB+). Chúng đều mang những nét đặc trưng của một người đàn ông được sinh ra và sống trong khu vực Trung Đông.

Chỉ có đức tin trong hành động phi thường của Thiên Chúa mới trả lời cách thoả đáng - Niềm tin vào một Thiên Chúa, Đấng muốn làm cho chúng ta nhận thức được rằng Ngài thực sự hiện diện trong mầu nhiệm Thánh Thể.

Phép lạ Thánh Thể tại Buenos Aires là một dấu hiệu đặc biệt xác nhận của khoa học. Thông qua đó Chúa Giêsu mong muốn khơi dậy trong chúng ta một đức tin sống động trong sự hiện diện thực sự của Ngài trong Bí Tích Thánh Thể. Ngài nhắc nhở chúng ta rằng sự hiện diện của Ngài là có thật, và không mang tính biểu tượng. Chỉ với con mắt Đức tin chúng ta mới nhận ra Ngài dưới hình thức Bánh và Rượu. Chúng ta không thể nhận ra Ngài với đôi mắt xác thịt của chúng ta, vì Ngài hiện diện thực sự trong nhân tính vinh hiển của Ngài.

Trong Bí Tích Thánh Thể Chúa Giêsu luôn dõi mắt và yêu thương chúng ta và Ngài mong muốn cứu độ chúng ta.

(Đức Tổng Giám Mục Bergoglio đã trở thành Hồng y vào năm 2001, sau rất nhiều khảo cứu, phép lạ này được công bố, thời gian đó ngài đã trở thành Đức Hồng Y, đó là lý do tại sao ngài đã được gọi là Hồng y trong bài này)

Trong đó Dr.Castanon, một người vô thần đã trở lại đạo Công giáo giải thích về phép lạ này!

Claudia R. Angulo
Phỏng dịch VŨ HẢI

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Tin Buồn


Thông báo với Ace, những Ca viên của Ca Đoàn Minh Quý Phương Nghĩa KT.
Tin buồn về sự ra đi của Thầy MéDard Lê Đức Hòa cựu ca trưởng 1958-1974.
Xin mọi người cùng hiệp ý cầu nguyện.

Thứ Ba, 10 tháng 6, 2014

[Bạn biết chưa] Hiện tượng Thiên đường qua lời kể của người chết đi sống lại

Những câu chuyện hồi tưởng qua lời kể của nhân chứng...
 
Câu chuyện đầu tiên xoay quanh một bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình ở Mỹ tên Mary Neal. Ngày 14/1/1999, Mary cùng với chồng mình và một số người bạn cùng chèo thuyền ở khu vực Los Rios, Chile.
 
Chân dung bác sĩ Mary Neal.
 
Một tai nạn bất ngờ đã xảy tới với Mary khi cô cùng người bạn chèo thuyền gần một thác nước cao khoảng 4m. Mary bỗng dưng linh cảm có điều gì đó không ổn. Nhìn xuống dưới thác, điều mà cô nhìn thấy là một hố xoáy sâu không đáy. Lập tức, phía trước thuyền của cô đập vào đá khiến Mary chìm trong nước và bị kẹt ở phần thân thuyền.
 
Mọi chuyện diễn ra quá nhanh. Bạn bè và người thân la hét, tìm kiếm cô. Khi đó, Mary cảm nhận thấy xương sườn mình bị gãy, mô và dây chằng rách ra bên trong cơ thể. Với cô, dường như cái chết đã tới rất gần.
 
 
Mary tự nhủ mình không được tuyệt vọng. Bỗng nhiên, trước mặt cô xuất hiện một vầng hào quang rực rỡ cùng cánh cổng vòm. Trong phút chốc, trước mắt Mary là những người thân, người bạn quá cố của cô. Họ nói rằng, cô chưa thể chết vì có những việc cô chưa hoàn thành, một trong số đó là Mary sẽ phải chứng kiến cái chết của người con trai Willie.
 
\
Mary đang kể lại câu chuyện của mình.
 
Điều bất ngờ đã xảy ra, mặc dù chìm trong nước 30 phút với tình trạng không có oxy nhưng Mary vẫn sống sót và được mọi người tìm thấy. Cô bị chấn thương nặng nhưng chỉ vài tháng sau, sức khỏe của cô đã bình phục hoàn toàn. Điềm báo về cái chết của người con trai Willie sau đó cũng đã linh ứng. Sau khi đi trượt tuyết cùng người bạn, Willie đột ngột qua đời trong một tai nạn khi anh mới 19 tuổi.
 
Câu chuyện thứ hai xảy ra với cô gái Anita Moorjani - một bệnh nhân ung thư đang tuyệt vọng. Bệnh tình của cô nguy kịch tới nỗi bác sĩ điều trị đã cho rằng, Anita không thể sống thêm quá 36 giờ vào thời điểm ngày 2/2/2006.
 
Anita rơi vào trạng thái hôn mê sâu mặc dù tim vẫn đập. Trong giây phút ấy, không hiểu sao cô vẫn nghe thấy được câu chuyện mà bác sĩ nói với chồng mình. Sau đó, Anita rơi vào trạng thái mà cô kể lại là "lơ lửng giữa sự sống và cái chết". Bỗng chốc, xung quanh cô là người cha đã chết vì trụy tim, người bạn đã qua đời vì ung thư cùng biết bao người thân quá cố...
 
Anita - cô gái may mắn sống sót khỏi căn bệnh ung thư.
 
Anita khi ấy đã tự nhủ, mình sẽ chết bởi cô không muốn quay lại một thân thể chứa đầy bệnh tật. Thế nhưng, đúng vào thời khắc ấy, có gì đó níu kéo cô lại với sự sống. 30 giờ sau khi nhập viện, Anita tỉnh dậy. Vài tuần sau, các bác sĩ không tìm ra bất cứ bằng chứng gì của căn bệnh ung thư trong cơ thể cô. Cho tới nay, Anita vẫn sống khỏe mạnh như người bình thường.
 
 
Giả thuyết khoa học đầy tranh cãi...
 
Với các câu chuyện có thật được hồi tưởng bởi những nhân chứng sống trên, không ít người tin rằng, thiên đường là có thật và con người trong một số trường hợp có thể trải nghiệm khoảnh khắc kỳ diệu ấy.
 
Bác sĩ giải phẫu thần kinh Eben Alexander là một trong số đó. Ông cũng là một trong những người được trải nghiệm trực tiếp khoảnh khắc thiên đường giống như Mary và Anita.
 
Câu chuyện ấy xảy ra khi Eben tưởng như cận kề với cái chết vì nhiễm phải khuẩn E.Coli gây viêm màng não. Eben hôn mê một tuần và kết quả quét não cho thấy, trí nhớ, ý thức, suy nghĩ của ông hoàn toàn không hoạt động.
 
 
Vậy nhưng Eben vẫn trải qua cảm giác giống như 2 trường hợp trên. Theo những gì ông kể lại, điều xảy ra rất thực và nó xảy ra độc lập, bên ngoài ý thức của bản thân. Eben đưa ra lập luận rằng, vào thời điểm ông hôn mê, các bộ phận của não không còn hoạt động nữa.
 
Điều đó đồng nghĩa rằng, trải nghiệm về thiên đường của ông không thể nào gây ra do sự căng thẳng thần kinh hay ảo giác như nhiều người vẫn khẳng định.
 
Bác bỏ lại lập luận của Eben Alexander, nhiều chuyên gia cho rằng, không thể coi những trải nghiệm trên là bằng chứng cho việc thiên đường có tồn tại. Nguyên nhân là bởi theo Eben, não ông không hoạt động khi diễn ra trải nghiệm.
 
 
Nhưng nếu não không hoạt động, sao Eben có thể cảm nhận được những gì xảy ra xung quanh mình, cũng như ghi nhớ câu chuyện để kể lại sau này.
 
Ngoài ra, việc trí nhớ không hoạt động hay suy giảm khả năng cũng đều có thể gây ra những ảo giác, chẳng hạn như ở trường hợp của các bệnh nhân mắc chứng Parkinson. Do đó, ta không thể loại trừ khả năng ảo giác là nguyên nhân gây ra trải nghiệm về thiên đường.
 
Mặc dù nhiều giả thuyết được đưa ra nhưng cho tới nay, vẫn chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh được thiên đường có thật hay không? Vậy theo các bạn, liệu thiên đường có tồn tại thực sự?

Tường thuật buổi cầu nguyện hòa bình của Israel-Palestine-Vatican tại Vatican

Tường thuật buổi cầu nguyện hòa bình của Israel-Palestine-Vatican tại Vatican
Sài Gòn – Theo CNA, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp đón Tổng thống Israel và Palestine đến Vatican vào chiều Chúa nhật ngày 8/6 để gặp gỡ và cầu nguyện, “khẩn cầu cho hòa bình”.
2Buổi gặp gỡ cầu nguyện còn có sự tham dự của Đức Thượng Phụ Constantinople, Bartholomew I. Ba vị lãnh đạo đã cầu nguyện cho hòa bình tại Đất Thánh và cho khắp vùng Trung Đông.
Đức Thánh Cha Phanxicô đã phát biểu hôm 8 tháng Sáu tại Vườn Vatican rằng: “Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu xa vì quí vị đã chấp nhận lời mời của tôi để đến đây và tham dự buổi cầu nguyện với Thiên Chúa về hồng ân hòa bình. Tôi hy vọng rằng cuộc gặp gỡ cầu nguyện này sẽ đánh dấu sự khởi đầu cho một hành trình mới, mà ở đó chúng ta cùng tìm kiếm những gì mang lại sự hợp nhất và vượt qua những gì gây chia rẽ.”
Đức Thánh Cha đã đưa ra lời mời trên đây trong chuyến hành hương gần đây đến Đất Thánh hồi cuối tháng Năm. Tổng thống Palestines và Israel đã nhanh chóng chấp nhận lời mời.
ĐTC đã có cuộc gặp riêng với từng vị tổng thống tại nhà khách Santa Marta khi hai vị này đến Vatican. Cả ba sau đó đã cùng hội kiến, với sự tham dự của Đức Thượng Phụ Constantinople, Bartholomew I, trước khi diễn ra buổi cầu nguyện “Khẩn cầu cho hòa bình”.

Buổi cầu nguyện được chia thành ba phần, theo thứ tự lần lượt từng cộng đồng Do Thái, đến Kitô giáo và Hồi giáo. Các lời cầu nguyện được xướng lên bằng tiếng Do Thái, tiếng Anh, tiếng Ý, và tiếng Ả Rập. Nội dung tập trung vào việc ca ngợi Thiên Chúa vì công trình sáng tạo, khẩn cầu ơn tha thứ tội lỗi và nài xin ơn hòa bình.
Các lời cầu nguyện cũng bao gồm một số thánh vịnh được trích từ nghi thức Ngày đền tội (Quý vị xem nội dung các Tv ở dưới) của Do Thái giáo, một lời cầu nguyện được cho là của thánh Phanxicô Assisi, và một số lời cầu nguyện Hồi giáo.
Sau khi cầu nguyện, Đức Thánh Cha Phanxicô, Tổng thống Israel Shimon Peres, và Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas lần lượt có ba bài phát biểu ngắn gọn về sự cần thiết của hòa bình.
Đức Thánh Cha Phanxicô nói, “vô số người dân thuộc các nền văn hóa, quốc gia, ngôn ngữ và tôn giáo khác nhau đã hiệp thông cùng đồng hành với buổi gặp gỡ và cầu nguyện cho hòa bình này. Buổi cầu nguyện cho hòa bình tại Đất Thánh, Trung Đông và cho toàn thế giới này là lời “đáp ứng mong muốn nhiệt thành của tất cả những ai đang khao khát hòa bình, và ước mơ về một thế giới mà trong đó con người có thể sống với nhau như anh chị em và không còn là thù địch và coi như kẻ thù của nhau.”
Đức Thánh Cha sau đó còn cho biết, “việc kiến tạo hòa bình còn đòi hỏi nhiều sự can đảm hơn là trong chiến tranh.”
ĐTC lưu ý tiếp, lịch sử đã cho thấy rằng hòa bình không thể hiện hữu chỉ đơn thuần bởi sức mạnh của con người. “Đó là lý do tại sao chúng ta ở đây, bởi vì chúng ta biết và chúng ta tin rằng, chúng ta cần sự trợ giúp của Thiên Chúa. Chúng ta không rũ bỏ trách nhiệm của mình, nhưng chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa trong hành động có tính trách nhiệm cao trước lương tâm của chúng ta và trước dân tộc của chúng ta.”
Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp tục khuyến khích những người hiện diện “phá vỡ vòng trôn ốc của hận thù và bạo lực” bằng tình “anh em.” Chúng ta phải “ngước mắt lên trời và chấp nhận nhau như con cái của cùng một Cha.”
Kế đến, Tổng thống Israel Shimon Peres đã đưa ra một lời kêu gọi cho hòa bình. Ông nói, “Tôi đến đây để kêu gọi hòa bình giữa các quốc gia.”
Ông cũng thừa nhận rằng, “hòa bình không đến một cách dễ dàng.” Vị tổng thống Israel tiếp tục,ngay cả khi hòa bình “dường như xa xôi, chúng ta vẫn phải theo đuổi để khiến nó trở nên gần gũi.”
Ông nhấn mạnh, “chúng ta được lệnh phải theo đuổi hòa bình”.
Ông cũng bày tỏ tin tưởng rằng, “nếu chúng ta theo đuổi hòa bình với quyết tâm, với đức tin, chúng ta sẽ đạt được nó.”
Ông còn nhắc trong cuộc đời của mình (năm nay ông đã 90 tuổi), ông đã nhìn thấy cả hòa bình và chiến tranh. Ông cho biết sẽ không bao giờ quên được sự tàn phá do chiến tranh gây ra.
“Chúng ta mặc nợ con em chúng ta trong việc tìm kiếm hòa bình”, ông Peres nhấn mạnh.
Trong khi đó, Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas thì dựa theo lời cầu nguyện để khẩn cầu Thiên Chúa “thay mặt cho những người dân Palestine – bao gồm người Hồi giáo, Kitô giáo và người Samari, những người đang khao khát hòa bình, công lý; khao khát một cuộc sống xứng đáng và sự tự do.”
“Lạy Chúa, xin ban cho khu vực và người dân của chúng con sự an toàn và ổn định. Hãy gìn giữ thành phố được chúc phúc Giêrusalem; trước hết là Thánh địa Kiblah, sau đó là Đền thánh Hồi giáo, thứ ba Thánh Địa Hồi giáo Mecca và các thành phố của phước lành và hòa bình với tất cả những gì bao quanh nó.”
Nhà lãnh đạo chính trị Hồi giáo khẳng định, “Lạy Chúa, hòa giải và hòa bình là mục tiêu của chúng con.”
Ông cũng cầu nguyện xin Chúa giúp “cho Palestine và Giêrusalem trở thành một vùng đất an toàn cho tất cả các tín hữu, và là một nơi để cầu nguyện và thờ phượng cho các tín đồ của ba tôn giáo độc thần Do Thái giáo, Kitô giáo, Hồi giáo và cho tất cả những ai muốn hành hương các địa điểm được nhắc đến trong kinh Koran.”
Buổi cầu nguyện kết thúc bằng những cái bắt tay hòa bình giữa các nhà lãnh đạo, và trồng một cây ô liu, biểu tượng của ước mơ hòa bình.
Sau đây là những Thánh Vịnh được sử dụng cho buổi cầu nguyện:
Thánh Vị 8: Nói về oai phong Đức Chúa và phẩm giá con người
(1) Phần nhạc trưởng. Có họa đàn thành Gát. Thánh vịnh. Của vua Ða-vít.
(2) Lạy ÐỨC CHÚA là Chúa chúng con,
lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu!
Uy phong Ngài vượt quá trời cao.
(3) Ngài cho miệng con thơ trẻ nhỏ
cất tiếng ngợi khen đối lại địch thù,
khiến kẻ thù quân nghịch phải tiêu tan.
(4) Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo,
muôn trăng sao Chúa đã an bài,
(5) thì con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến,
phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?
Thánh Vịnh 147: Nói về Đức Chúa là Vua khắp hoàn vũ
(1) Phần nhạc trưởng. Của con cái ông Cô-rắc. Thánh vịnh.
(2) Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi!
Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo!
(3) Vì ÐỨC CHÚA là Ðấng Tối Cao, Ðấng khả úy,
là Vua Cả thống trị khắp địa cầu.
(4) Chính Người bắt muôn dân muôn nước
phải phục quyền và quỵ luỵ chúng tôi.
(5) Người chọn lựa cho chúng tôi phần cơ nghiệp,
cơ nghiệp làm cho kẻ Người thương là Gia-cóp
được nở mặt nở mày.
(6) Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo,
CHÚA ngự lên, vang dội tiếng tù và.
(7) Hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa,
đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta!
(8) Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu,
hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ.
(9) Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân,
Thiên Chúa ngự trên tòa uy linh cao cả.
(10) Kìa vương hầu các dân tề tựu
cùng dân Thiên Chúa, Chúa của Aùp-ra-ham.
Mọi thủ lãnh trần gian thuộc quyền Thiên Chúa,
Ðấng siêu việt ngàn trùng.
(6) Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,
ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,
(7) cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,
đặt muôn loài muôn sự dưới chân:
(8) Nào chiên bò đủ loại, nào thú vật ngoài đồng,
(9) nào chim trời cá biển, mọi loài ngang dọc khắp trùng dương.
(10) Lạy ÐỨC CHÚA là Chúa chúng con,
lẫy lừng thay danh Chúa trên khắp cả địa cầu!
Thánh Vịnh 25: Xin ơn tha thứ
(1) Của vua Ða-vít.
A-lép
Lạy CHÚA, con nâng tâm hồn lên cùng CHÚA.
Bết
(2) Lạy Thiên Chúa của con, con tin tưởng nơi Ngài,
xin đừng để con tủi nhục,
đừng để quân thù đắc chí nhạo cười con.
Ghi-men
(3) Chẳng ai trông cậy Chúa,
mà lại phải nhục nhằn tủi hổ,
chỉ người nào tự dưng phản phúc
mới nhục nhằn tủi hổ mà thôi.
Ða-lét
(4) Lạy CHÚA, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết,
lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con.
(5) Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài
và bảo ban dạy dỗ,
vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con.
Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái.
Da-in
(6) Lạy CHÚA, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu
Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời.
Khết
(7) Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến,
nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng.
Tết
(8) CHÚA là Ðấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân,
Giốt
(9) dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính,
dạy cho biết đường lối của Người.
Cáp
(10) Tất cả đường lối CHÚA đều là yêu thương và thành tín
đối với những kẻ nào giữ giao ước và lề luật Chúa.
La-mét
(11) Lạy CHÚA, tội con thật nặng nề,
vì danh Ngài, xin lượng thứ cho con.
Mêm
(12) Phàm ai kính sợ CHÚA,
Người chỉ cho thấy đường phải chọn.
Nun
(13) Họ sẽ được an vui hạnh phúc một đời,
và con cháu thừa hưởng đất tổ tiên.
Xa-méc
(14) CHÚA xử thân tình với những ai kính sợ Chúa
và cho họ biết giao ước của Người.
A-in
(15) Mắt tôi nhìn CHÚA không biết mỏi
vì chính Người đã gỡ chân tôi khỏi dò lưới.
(16) Lạy Chúa, xin đoái nhìn và xót thương con,
vì thân này bơ vơ khổ cực.
Xa-đê
(17) Lòng đau như thắt, xin làm cho thanh thoả,
và giải thoát con khỏi bước ngặt nghèo.
(18) Xin Chúa thấy cho cảnh lầm than khổ cực
và tha thứ hết mọi tội con.
Rết
(19) Xin Chúa thấy cho: thù địch con đông vô kể,
chúng ghét thân này, ghét cay ghét đắng.
Sin
(20) Xin bảo toàn sinh mạng và giải thoát con,
đừng để con tủi nhục, bởi vì con ẩn náu bên Ngài.
Tau
(21) Ước gì lòng trong sạch và ngay thẳng
che chở giữ gìn con, vì con trông cậy Chúa.
(22) Lạy Thiên Chúa, xin Ngài cứu Ít-ra-en
thoát mọi nỗi truân chuyên ngặt nghèo.
Thánh Vịnh 130: Tiếng kêu từ vực thẳm
(1) Ca khúc lên Ðền.

 Từ vực thẳm, con kêu lên Ngài, lạy CHÚA,
 (2) muôn lạy Chúa, xin Ngài nghe tiếng con.
Dám xin Ngài lắng tai để ý
Nghe lời con tha thiết nguyện cầu.
 (3) Ôi lạy CHÚA, nếu như Ngài chấp tội,
nào có ai đứng vững được chăng?
 (4) Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ
để chúng con biết kính sợ Ngài.
 (5) Mong đợi CHÚA, tôi hết lòng mong đợi,
cậy trông ở lời Người.
 (6) Hồn tôi trông chờ Chúa,
hơn lính canh mong đợi hừng đông.
Hơn lính canh mong đợi hừng đông,
 (7) trông cậy CHÚA đi, Ít-ra-en hỡi,
bởi CHÚA luôn từ ái một niềm,
ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa.
 (8) Chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en
cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn.
  
Một đoạn Kinh Thánh được trích từ sách Ngôn sứ Isaia 65,17-25
17 Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. 18 Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan vì những gì chính Ta sáng tạo. Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-sa-lem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng. 19 Vì Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ hoan hỷ, vì dân Ta, Ta sẽ nhảy mừng. Nơi đây, sẽ không còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la. 20 Nơi đây, sẽ không còn trẻ sơ sinh chết yểu và người già tuổi thọ không tròn; vì trăm tuổi mà chết là chết trẻ, và chưa tròn trăm tuổi mà chết là bị nguyền rủa. 21 Người ta sẽ xây nhà và được ở, sẽ trồng nho và được ăn trái. 22 Người ta sẽ không xây nhà cho kẻ khác ở, không trồng nho cho kẻ khác ăn; vì cây được bao nhiêu tuổi, dân Ta cũng sẽ thọ bấy nhiêu; và những kẻ Ta chọn sẽ được hưởng kết quả do tay chúng làm. 23 Chúng sẽ không luống công vất vả, không sinh con cho con chết bất ưng, vì chúng sẽ là dòng dõi những người được Ðức Chúa ban phúc lành, bản thân chúng cũng như cả nòi giống. 24 Trước khi chúng kêu Ta, chính Ta đã đáp lời, chúng hãy còn đang nói thì Ta đã nghe rồi. 25 Sói với chiên con sẽ cùng nhau ăn cỏ, sư tử cũng ăn rơm như bò, còn rắn sẽ lấy bụi đất làm lương thực. Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá trên khắp núi thánh của Ta.” Ðức Chúa phán như vậy.
Sau đây là một số hình ảnh trong buổi cầu nguyện:
Khu vườn Vatican, nơi diễn ra buổi cầu nguyện. Câu oliu được trồng ở đây, dấu chỉ cho ước mơ một thế giới hòa bình
Khu vườn Vatican, nơi diễn ra buổi cầu nguyện. Cây O liu được trồng ở đây, dấu chỉ cho ước mơ một thế giới hòa bình
ĐTC trầm tư trong suốt buổi cầu nguyện
ĐTC trầm tư trong suốt buổi cầu nguyện
TT Mahmoud Abbas của Palestine
TT Mahmoud Abbas của Palestine
Lãnh đạo Hồi giáo
Lãnh đạo Hồi giáo
Đức thượng phụ Chính Thống giáo thay mặt Công giáo dâng lời nguyện chung cho Kitô giáo
Đức thượng phụ Chính Thống giáo thay mặt Công giáo dâng lời nguyện chung cho Kitô giáo
Ba vị lãnh đạo chủ tọa buổi cầu nguyện
Ba vị lãnh đạo chủ tọa buổi cầu nguyện
Hát Thánh Vịnh khẩn cầu bình an - Shalom
Hát Thánh Vịnh khẩn cầu bình an – Shalom
Tổng thống Simon Peres
Tổng thống Simon Peres
Lãnh đạo phái đoàn Chính Thống giáo
Lãnh đạo phái đoàn Chính Thống giáo
Dàn nhạc đi theo TT Simon Peres
Dàn nhạc đi theo TT Simon Peres
Do Thái giáo dâng lời nguyện
Do Thái giáo dâng lời nguyện
10
Công giáo và Chính Thống giáo
Công giáo và Chính Thống giáo
Pv. VRNs

Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI CỦA GIÁO ĐOÀN ROMA, Ngày 30/6

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI CỦA GIÁO ĐOÀN ROMA,
Ngày 30/6
      

“Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi. Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không giập gẫy”( Tv 33, 20-21 ). Các thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma đã anh dũng bảo vệ đức tin để làm chứng cho Chúa Giêsu. Các Ngài đã làm vinh danh Chúa và đã làm cho đức tin rực sáng. Các Ngài xứng đáng lãnh nhận triều thiên nước trời và góp phần xây dựng giáo đoàn Roma trần thế.

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI CỦA GIÁO ĐOÀN ROMA LÀ AI ?
Các thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma là các vị anh hùng gồm một số rất đông đã đổ máu đào để tuyên xưng danh Chúa, làm chứng cho Chúa dưới thời bạo Chúa Néron: Các Ngài đã bị người ta lúc ấy vu khống là đã đốt thành Roma, phá hủy thành, nên các Ngài đã bị Néron  ra lệnh hành quyết, xử tử bằng mọi cực hình, bằng mọi phương cách tàn bạo, cay đắng, dã man. Có những vị đã bị nhốt tù, đánh đập tàn ác, bỏ đói cho đến chết. Có những vị bị thú vật cắn xé, dầy vò, đùa giỡn, những vị khác bị đốt, bị nung trên giường sắt, có những vị bị treo ngược trên thập giá, có những vị khác bị đốt cháy sáng như những ngọn đuốc trong đêm đen. Tuy nhiên cảm nghiệm lời Chúa nói:” Anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp gian nan thử thách. Vì thế Thầy sẽ ban quyền cai trị cho anh em Để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy, trên vương quốc của Thầy”( Lc 22, 28- 30 ) hoặc “ Các thánh đã theo chân Đức Kitô, được vui mừng trên thiên quốc. Các Ngài đã đổ máu mình ra, vì lòng yêu mến Đức Kitô, nên luôn được hoan hỷ với Người “( Ca nhập lễ, lễ nhiều thánh tử đạo ).Các thánh tử đạo đã hân hoan chịu chết

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI CỦA GIÁO ĐOÀN ROMA XỨNG ĐÁNG LÃNH NHẬN TRIỀU  THIÊN  NƯỚC TRỜI:
“Hạt giống gieo xuống đất không thúi đi...”, các thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma là những môn đệ của các tông đồ, các Ngài đã được Chúa thương, tuyển lựa để nên như của lễ đầu mùa hiến dâng cho Thiên Chúa và trở nên hạt giống đức tin gieo vào lòng đất cho hoa trái được nẩy nở tốt tươi. Các Ngài đã đổmáu ra để  làm phát sinh Hội Thánh Roma. Các Ngài xứng đáng được Chúa thưởng công và Giáo Hội tôn vinh vì các Ngài vẫn một lòng gắn bó với Chúa( Lc 22, 28 ).

Lạy Chúa, Chúa đã dùng máu các thánh tử đạo thánh hiến giáo đoàn Roma trong những bước đầu. Vì các thánh đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ đức tin, xin cho cuộc chiến thắng vẻ vang của các Ngài làm cho chúng con được bền lòng vững chí( Lời nguyện nhập lễ, lễ các thánh tử đạo tiên khởi của giáo đoàn Roma ).

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT  

Lễ Kính Thánh Phêrô và Thánh Phaolô

Lễ Kính Thánh Phêrô và Thánh Phaolô

 Phêrô và Phaolô hai vị thánh của lòng sám hốiGM. Giuse Vũ Duy Thống
Nguồn: 
longchuathuongxot.net
Phêrô và Phaolô là hai khuôn mặt vĩ đại ở thượng nguồn niềm tin Công giáo, là hai cột trụ vững chắc nâng đỡ Giáo hội dọc dài thời gian, và là hai vị thánh “cả” trong mắt nhìn của mọi tín hữu.

Nhưng chỉ tập trung vào những nét cao cả, người ta dễ nghĩ rằng các ngài ở quá xa trong thời gian, ở quá cao trong gương mẫu và có nguy cơ đặt các ngài ở bên lề Giáo hội, trong khi đời sống và ơn gọi của hai đấng lại rất gần với đời kẻ tin.

Phêrô và Phaolô là hai vị thánh của lòng sám hối.

1. Các ngài đã trải qua kinh nghiệm tội lụy.

Phêrô qua trang Tin mừng xuất hiện dưới bộ mặt dễ thương ở đỉnh cao tuyên tín đến nỗi đã được Chúa Giêsu khen tặng và tín nhiệm trao gởi chìa khóa Nước Trời. Nhưng đời sống của ngài cũng có những vực thẳm vấn vương tội lỗi. Chỉ sau phút tuyên xưng đức tin để đời, ngài đã bị Chúa Giêsu quở là “Satan hãy xéo đi” khi có ý ngăn cản Chúa Giêsu lên Giêrusalem thụ nạn. Rồi khi đang ung dung bước trên ngọn sóng để đến với Chúa Giêsu thì vì yếu tin ngài đã bị ngập chìm. Nhất là trong thảm kịch Thương khó của Đấng Cứu Thế, Phêrô đã xuất hiện trong một dáng dấp khó thương hơn mọi tông đồ khác. Ngủ vùi trong vườn cây dầu lúc Chúa hấp hối, đó có phải là tội quên Chúa? Rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ vị thượng tế, đó có phải là tội không làm theo ý Chúa? Sợ quá bỏ trốn nhìn Chúa bị bắt, đó có phải là tội xa Chúa? Và chối Chúa 3 lần trước người đầy tớ gái là một điều mà truyền thống xem như phản bội Chúa. Rõ ràng Phêrô là người đã biết đến kinh nghiệm sa ngã.

Phaolô cũng thế, trước khi là tông đồ nổi tiếng, ông đã là một người khét tiếng trong dư luận cộng đoàn tín hữu sơ khởi đến nỗi nghe đến tên ông mọi người phải chạy trốn như chạy tà. Ông là kẻ bách hại đạo Công giáo trước bất cứ ai. Thời trẻ ông săn lùng các tín hữu. Thế giá ông đe dọa họ và bàn tay ông đã từng vấy máu thánh tử đạo tiên khởi. Ông ghét đạo đã đành lại còn tự nguyện xin lệnh đi bắt đi ruồng đi bố ráp những người theo đạo nữa. Quả thật Phaolô cũng là người trải qua kinh nghiệm tội lụy.

2. Các ngài đã quyết chí tìm về và hết mình sống cho sứ mạng được trao phó.

Nhưng điều quan trọng không phải là kể tội các ngài cho đủ cho nhiều cho nặng, mà là khởi đi từ tình trạng tội lụy ấy, nhận ra một khi đã được Chúa đánh động, các ngài đã quyết chí tìm về và hết mình sống cho sứ mạng được trao phó.

Phêrô sau biến cố Phục sinh dường như đã là một Phêrô khác hẳn. Được biến đổi. Nên mới, nên mạnh; nên lành, nên sạch; nên đẹp, nên tốt hơn làm điều kiện cần thiết để nên thánh hơn. Ông đã thể hiện vai trò tông đồ trưởng với một độ cao của tinh thần trách nhiệm và đã chu toàn sứ mạng thủ lãnh Giáo hội Công giáo với nét đẹp của dạ can trường. Để rồi cuối cùng chịu án đóng đinh tại Rôma làm sáng lên hình ảnh của một niềm tin bất khuất vào Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống. Nhờ sám hối Phêrô đã nên thánh.

Còn Phaolô thì sau biến cố xảy ra trên đường Damas, ông không còn giữ lại điều gì cũ nữa, mà tất cả đã được biến đổi. Nếu trước đây lòng nhiệt thành và ngu dốt về đạo đã trở thành phá hoại và gây khó khăn không ít cho Giáo hội thì sau này chính lòng nhiệt thành ấy với ơn thánh và tìm hiểu, Phaolô đã trở nên mẫu người không ai theo kịp về việc xây dựng Giáo hội. Nhiệt thành yêu Chúa, nhiệt thành yêu mến Tin mừng và nhiệt thành đến ngổ ngáo trong việc truyền giáo. Tung hoành ngang dọc trên những cánh đồng dân ngoại để mỗi ngày đem về cho Chúa các tâm hồn. Cuối cùng, cũng tại Rôma, Phaolô đã bị xử trảm để mãi còn âm vang tiếng nói của một lòng nhiệt thành đến sẵn sàng dâng hiến mạng sống vì Tin mừng. Nhờ sám hối Phaolô cũng đã nên thánh.

3. Các ngài đã kêu gọi sám hối.

Nghiêng mình trước hai vị thánh đáng kính, người tín hữu bỗng hiểu ra rằng: cái cao cả hai đấng có được hôm nay không phải là điều tất nhiên, nhưng đã được đánh đổi bằng cả cuộc sống sám hối không ngừng: từ bỏ cái cũ và xây dựng cái mới. Nếu trong thư, Phêrô có lần viết “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng nhưng ban ơn cho người khiêm nhu”, thì đó là vì ông đã từng kinh nghiệm trong vai trò của nhà lãnh đạo sám hối tự nhìn vào mình, và chắc chắn đó là rút ruột tâm sự của một đời cầm chìa khóa Nước Trời, luôn tỉnh táo vật lộn với chính mình để vươn lên trong ơn thánh của Chúa. Và nếu trong thư, Phaolô đã nhiều lần kêu gọi “hãy giũ bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới” thì đó chẳng phải là lời khuyến thiện bờ môi chót lưỡi, nhưng chính là khởi đi từ một chuyện lòng rất riêng của một con người đã kinh qua chặng đường sám hối đi từ cái cũ kỹ tội lỗi để bước sang cái mới mẻ trẻ trung tuyệt vời.

Thì ra cái cao cả là cái phải trả giá bằng dò tìm trong sám hối, là cái phải khổ công trong thắng vượt mà vươn lên, là cái phải kiểm tra xây dựng chỉnh đốn không ngừng. Không biết có nên phát biểu rằng: Hôm nay Phêrô và Phaolô cao cả bao nhiêu là vì hôm qua đã sám hối bấy nhiêu. Giống như những ngôi nhà cao tầng đứng vững là vì móng đã được chôn sâu và những tòa nhà chọc trời không nghiêng ngả ắt là vì móng phải sâu nền phải rộng…
Tạ ơn Chúa đã không gọi những vị thánh trong sạch hoàn toàn để đứng đầu Giáo hội. Tạ ơn Chúa đã không gọi những vị thánh chưa kinh nghiệm tội lỗi để rao giảng Tin mừng mà đã gọi Phêrô và Phaolô, hai vị thánh của lòng sám hối để hôm nay nên hai thánh “cả” tuyệt vời.

4. Các ngài mãi gần gũi với đời kẻ tin:

Ý nghĩ ấy, những tâm tình ấy đã nên nguồn cổ vũ đời sống tín hữu:

- Để thêm tin tưởng: Tại sao tôi phạm tội hoài? Tại sao trong Giáo hội vẫn đầy dẫy những tội nhân? - Bởi vì bản chất Giáo hội là thánh, nhưng trong cuộc lữ hành vẫn cưu mang trong lòng mình những tội nhân. Điều quan trọng là biết sám hối tìm về vươn lên. “Không vị thánh nào mà không có dĩ vãng, nên chẳng tội nhân nào mà chẳng có tương lai”.

- Để thêm hy vọng: Tội lỗi quá làm sao nên thánh? Đừng lo. Bằng dạn dày kinh nghiệm, Phêrô và Phaolô sám hối đã “đầu xuôi” để ta hôm nay nếu biết sám hối cũng “đuôi lọt” và nhờ lời chuyển cầu của hai vị cột trụ Hội thánh, ta thêm chí bền mà thắng lướt. “Không phải vì mạnh mẽ mà người ta trỗi dậy, nhưng vì biết trỗi dậy người ta trở nên mạnh mẽ”.

- Để thêm yêu mến: Phêrô và Phaolô hai gương mặt cao cả, nhưng không ở cao ở xa ở ngoài để lạnh lùng nhìn vào đời sống tín hữu. Trái lại mãi mãi các ngài vẫn ở trong Giáo hội để ân cần gần gũi với mọi tâm hồn.

Phêrô với chìa khóa miệt mài đóng lại những quá khứ tội lỗi để mở ra tương lai ân sủng cho những ai chân thành muốn biến đổi đời mình trong niềm tin đạo giáo và Phaolô với thanh gươm khai phá không ngừng khai quang tâm hồn cho kẻ thiện chí đón nhận Phúc âm cứu rỗi.