Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội Hoàn Vũ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Hội Hoàn Vũ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2026

Giáo Hội Việt Nam cuối năm 2025.

 Giáo Hội Việt Nam cuối năm 2025.

1. Số tín hữu : Hơn 7tr5 . (Dân số 102tr
Chiếm tỷ lệ 7,5 %.)
2. Giáo Hội VN có 27 giáo phận : chia làm 3 tổng giáo phận: Hà Nội, Huế, Saigon. Mỗi tổng giáo phận có 1 tổng giám mục.
3. Số linh mục : 8.300
4. Số dòng tu : 292
5. Số tu sĩ : 28.500. (Nữ 80%)
6. Một số giáo phận có đông giáo dân:
* Xuân Lộc : 1 triệu 130 ngàn
* Saigon : 715 ngàn
* BMT : 490 ngàn
* Đàlat : 450 ngàn
* Bùi Chu : 440 ngàn
* Kontum : 405 ngàn
Vài nhận định :
1. Còn nhiều ơn gọi dâng mình cho Chúa.
2. Có nhiều linh mục, nam nữ tu sĩ người Việt đi “Lao động” truyền giáo ở nhiều nước trên thế giới.
3. Có trên 10 giám mục người Việt ở nước ngoài: Mỹ , Úc , Canada . . .
4. Người Việt luôn tôn trọng các bậc tu hành của các tôn giáo. ( Chuyện kể : Mình đi thăm 1 ông cố sắp qua đời vì bệnh hiểm nghèo. Ông có 10 người con. Nhà khá giả. Ông khoảng trên 60 tuổi. Được hỏi điều gì làm cho ông vui nhất trong cuộc đời . Ông trả lời ngay : “Con có 3 đứa con đi tu !” Vậy thôi ! Nhà mình có 8 anh em, có 2 đứa đi tu. Mẹ mình khi cao tuổi, bà mất ở tuổi 95, bà
có vẻ quan tâm 2 đứa con đi tu hơn. Thiệt đó !
5. Các gia đình gốc Bắc có con cái đi tu nhiều hơn. 3 vị tổng giám mục của 3 tổng giáo phận đều là người gốc Bắc .
6. Các giáo phận có số giáo dân đông , giáo dân gốc người Bắc chiếm đa số.
7. Giáo phận Kontum đông giáo dân người các sắc tộc nhất :280 trên tổng số 400 ngàn, có 9 thứ tiếng khác nhau, chưa kể tiếng Việt. Thứ 2 là Đàlat; thứ 3 là BMT, mình không nhớ số, có ai biết xin cho mọi người cùng biết.
Xin Mẹ La Vang cầu bàu cho con dân nước Việt được ơn nhận biết Chúa. Xin cho Giáo Hội Việt Nam luôn trở thành chứng tá của Thiên Chúa tình thương.
A M E N
Ẩn bớt
Có thể là hình ảnh về đài kỷ niệm và văn bản cho biết 'ĐỨC ME HIẾN RA TẠI ĐÂY 1798'
Nguồn bài viết: Lm. Phê rô Nguyễn Văn Đông.

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

Nữ tu Marie Laure Trần Thị Vinh qua đời (18.09.2018) - Thọ 97 tuổi.

Nữ tu Marie Laure Trần Thị Vinh qua đời - Một Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn suốt đời phục vụ người phong tại Kontum




Nữ tu Marie Laure Trần Thị Vinh sinh ngày 31.8.1921 tại Quảng Nam, Đà Nẵng. Gia nhập Tu Hội Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn, sau đó Khấn Dòng vào năm 1939. Năm 1941, Soeur Marie Laure được gởi lên phục vụ giáo phận Kontum, tại cộng đoàn "Nhà Bác Ái" (Maison de Charité) ngụ tại số 11 Nguyễn Huệ Kontum, cạnh Nhà thờ Chính tòa (từ sau 1975 nhà nước quản lý làm Tỉnh Đoàn Kontum, nay thuộc Trường PTTH Chuyên Nguyễn Tất Thành, Tp Kontum). 
Cộng đoàn Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn được thành lập năm 1938, theo lời yêu cầu của Đức Giám Mục Martial Jannin (Phước), khởi đầu có 2 Chị là Chị Gilbert và Chị Genevève, được Chị Bề trên Giám tỉnh gởi đến Kontum. Sau đó tăng cường thêm 4 Chị nữa và từ đấy Cộng Đoàn được thành lập. Bề trên Cộng đoàn lúc bấy giờ là Sr. Gilbert, Nữ tử Bác Ái người Pháp.
Mục đích của dòng:
-Đào tạo các Chị Em Dòng Ảnh Phép Lạ (Ảnh Vảy)
-Phục vụ ở bệnh viện dân y Kontum
-Phục vụ bệnh nhân phong tại Trại Phong Dak Kia
-Chăm sóc bệnh nhân nghèo tại gia
-Dạy học cho các em thất học
Dần dần vì những nhu cầu của địa phương, Cộng đoàn mở thêm những điểm phục vụ mới. 
Trường Tê-rê-xa Tân Hương do các Nữ tu Mến Thánh Giá Gò Thị phụ trách từ đầu năm 1932, cho đến niên khóa 1940-1941, được chuyển giao cho các Nữ tử Bác Ái Vinh Sơn. Các Srs Vinh Sơn mở các lớp xóa mù chữ và tiểu học, dạy may thêu, nữ công gia chánh...

Sr. Marie Laure Trần Thị Vinh (giữa đội lúp) tại gx Tân Hương năm 1941
Ảnh: Lê Minh Sơn sưu tầm


Năm 1958, các Srs Vinh Sơn bàn giao Trường Tê-rê-xa cho dòng Phaolô (Đà Nẵng) mở các lớp Tiểu học và Trung học.
Cũng năm 1958 này, nữ tu Marie Laure Vinh được chuyển qua phục vụ Trại Phong Dak Kia. Các Nữ tử Bác Ái ở hẳn lại tại Trại để phục vụ bệnh nhân (trước đây các Srs đi qua lại). Nhà thờ mới Dak Kia bắt đầu đặt viên đá đầu tiên. Trong thời gian 6 năm Nhà thờ và khu Trại Phong hoàn thành. Lúc đó bệnh nhân lên đến 900 nhân khẩu, và số Soeurs lên đến 7 người, để săn sóc bệnh nhân và trẻ em. Sr Marie Laure tận tụy phục vụ bệnh nhân phong tại đây, cộng tác với Bà nhất cộng đoàn là Sr Marie Louise, chuyên về y tế, xây cất nhà cửa.
Năm 1960-1963: xây cất nhà gạch thay thế nhà tranh cho các bệnh nhân. Xây dựng thêm Trung tâm gồm nhà giữ trẻ, nhà nội trú cho các em gái, vườn trẻ, trường tiểu học, xưởng mộc. Đến 1966, có Sr Anne Esnol qua thế chỗ Sr Marie Louise được Bề trên sai đi Thái Lan, sau đó về Pháp.
Từ năm 1968-1975 có cha Marty (cố Tý), MEP ở làm mục vụ và dâng lễ cho bệnh nhân.
Năm 1972, Sr Anne về Pháp, Sr Marie Laure Vinh thay thế. Lúc này Trại Phong bị ngập do cơn lụt lịch sử 1972, nước dâng lên tới nhà. Cộng đoàn, nhà thờ, đồ đạc, dụng cụ cần thiết đều bị chôn vùi trong sình lầy. Vật nuôi như gà...bị trôi không còn con nào. Các bệnh nhân đói vì không đi chợ được. ĐGM giáo phận, ĐC Paul Seitz Kim đi trực thăng thả bánh mì xuống để chống đỡ đói.
Sau trận lụt, các nữ tu phải mất 3 tháng dọn nhà cửa nhưng cũng chưa được sạch sẽ.
Biến cố 1975 sắp xảy đến, lúc đó cộng đoàn vẫn còn 11 Soeurs đang phục vụ bệnh nhân và trẻ em, nhưng đang trong tình trạng lo âu và sợ hãi. Tuy vậy, các chị vẫn phó thác trong tay Chúa và Mẹ Maria.
Năm 1975, cha Đại Diện Tỉnh Dòng lên gặp các chị và quyết định cho các Soeurs trở về Sài gòn. Còn lại 4 chị em lớn.
Tháng 3.1975, Sr Marie Laure Vinh về tĩnh tâm để lên trở lại đương đầu với biến cố sẽ xảy ra. Nhưng chiến tranh đến hồi khốc liệt, máy bay ngưng hoạt động vì bị pháo kích nhiều, Bề trên giữ Sr Marie Laure lại để lo đi cứu trợ.
Trong lúc đó các chị ở Kontum được lệnh của Đức Cha Paul Seitz phải rời khỏi Kontum, để cho các chị dòng Ảnh Phép Lạ qua hiện diện tại Trại Phong, đối đầu với tình hình mới...
Nhưng sau cùng, Trại Phong cũng bị trưng dụng, nhà cửa đồ đạc bị tịch thu, chiếm dụng...các Yă bị quản thúc, chỉ còn Nhà thờ không bị phá, của cải bị chuyển đi hết, bệnh nhân bị đuổi về làng, chỉ còn các bệnh nhân tàn phế không đi được.
Thời gian trôi qua...
Năm 1989, bác sĩ xuống Sài gòn xin một số nữ tu trở về vô Trại Phong lại và Sr Marie Laure, Sr Paul trở về Kontum giúp trại phong (bệnh nhân), nhưng chưa được một năm nhà nước bảo về vì không có hộ khẩu. Các chị đành ra đi để lại các bệnh nhân đang rất buồn, họ ra xã kêu gào trách móc, nhưng cũng vô ích. Sr Marie Laure về lại cộng đoàn cũ canh tác rẫy.
Năm 1996, ĐC Phê-rô Trần Thanh Chung biên thơ cho Bề trên mời lên lại, kỳ này Sr Marie Laure xung phong ra đi một mình tạm trú ở Dòng Ảnh Phép Lạ; chị lên 1 năm thì có Sr. M. José cùng lên đồng hành. Hàng ngày Sr Marie Laure qua Trại giúp bệnh nhân, mở lớp huấn nghiệp cho các em thiếu nữ trong Trại và các em trên làng cùi cùng xuống học nghề...


Sr Marie Laure lo cho người phong ở Trại Phong Dak Kia năm 2003
Ảnh: Peter Vũ Quý

Năm 2001, các Srs Vinh Sơn có mặt tại địa hạt gx Tân Hương - Cộng Đoàn Vinh Nguyên, số 19 Nguyễn Trãi, Tp. Kontum tiếp tục công việc.
Năm 2018, các Srs chuyển Cộng Đoàn vô Trại Phong Dak Kia tiếp nối sứ vụ phục vụ người nghèo, người bệnh tật và cảm hóa các tâm hồn đau khổ.

Sr Marie Laure, cũng như các nữ tu Hội Dòng Bác Ái Thánh Vinh Sơn và nữ tu thuộc Hội Dòng Ảnh Phép Lạ là Yă Phương trong suốt mấy mươi năm qua đã chọn con đường "tình yêu, đi tìm, qui tụ" những người mắc bệnh phong cùi để phục vụ.
Hôm nay sau những năm tháng dài của cuộc đời dâng hiến cho Thiên Chúa và cho anh em nghèo khổ, cho những người phong cùi trên miền đất Truyền giáo Kontum, Sr Marie Laure Trần Thị Vinh đã được chính Thiên Chúa Tình Yêu gọi về với Ngài. Sr đã trở nên như hạt giống gieo vào lòng đất, chịu thối nát đi để niềm hy vọng vào một mùa vàng trong tương lai, mà các Nữ tu Bác Ái Thánh Vinh Sơn ngày nay đang tiếp tục kiên trì nhẫn nại gieo trồng nơi giáo phận truyền giáo Kontum thân yêu này.

Xin tạ ơn Chúa và xin cám ơn những con người như Sr Marie Laure đã và đang âm thầm phục vụ chỉ vì mến Chúa, những anh chị em phong cùi tại Trại Phong Dak Kia, như hiện thân của chính Đức Ki-tô nơi những người cùng khổ, bệnh tật. Xin Chúa đoái thương đưa linh hồn Soeur vào chốn nghỉ yên đời đời!

Lê Minh Sơn
21.9.2018
(Dựa theo tài liệu "Trại Phong Dak Kia" 
và "Đôi nét Cộng Đoàn Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn tại Kontum",
do Cộng Đoàn Vinh Nguyên cung cấp 2006)

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

Kinh cầu Đức Bà ( kinh cầu Lôrêtô )

Kinh cầu phổ biến nhất trong Giáo Hội Công Giáo là kinh nào?
Giáo Hội Công Giáo sở hữu hàng ngàn lời cầu nguyện trong kho tàng tác phẩm thiêng liêng phong phú của mình. Trong đó, kinh cầu Lôrêtô, người Việt quen gọi là kinh cầu Đức Bà, là một trong những kinh nguyện nổi tiếng và được đọc nhiều nhất trong lịch sử. Đó là một kinh nguyện đẹp và có lịch sử lâu đời.
Nhiều người tin rằng kinh cầu này bắt nguồn từ Thánh Grêgôriô Cả hay thậm chí từ thời các Thánh Tông Đồ, tuy vậy các nhà sử học cho rằng kinh cầu Lôrêtô có từ thế kỷ 15 hay 16.
Theo Bách khoa Toàn thư Công Giáo, "Bản sao in cổ nhất của kinh nguyện này đã được khám phá là của Dilingen, Đức, vào khoảng năm 1558; có phần chắc chắn nó là bản sao của một bản kinh cổ hơn nữa thuộc nước Ý, dù tuy nhiên, sau khi nghiên cứu cẩn thận, bản cổ nhất ở Ý khám phá được chỉ là vào năm 1576."
Truyền thống tin rằng kinh cầu đã được đọc lần đầu ở Đền thánh mầu nhiệm Lôrêtô, Ý, là ngôi nhà gốc của Đức Mẹ Maria ở Nadarét được các thiên thần mang sang Ý. Ngôi Đền thánh vốn cực kỳ nổi tiếng trong thế kỷ 15 và 16, đã thu hút vô số khách hành hương từ khắp châu Âu. Vì thế, nhiều người đến đây, nghe kinh cầu và mang về quê hương mình, biến nó thành một kinh nguyện quen thuộc trong khắp các nhà thờ làng.
Tuy vậy, kinh cầu Đức Bà lúc ấy gặp nguy cơ bị lãng quên mãi mãi, khi vị Giáo Hoàng thời đó không thích kinh ấy. Song, các linh mục ở Đền Lôrêtô vẫn gìn giữ kinh cầu và đọc nó vào mỗi thứ bảy. Vào thế kỷ 17, kinh cầu Lôrêtô trở nên phổ biến ở Rôma và được đọc thường xuyên trong Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả. Kể từ đó, kinh cầu lan rộng khắp Giáo Hội Latinh và trở thành một trong những kinh cầu được đọc nhiều nhất trong Hội Thánh.
Kinh cầu Đức Bà
Xin Chúa thương xót chúng con.
Thưa: Xin Chúa thương xót chúng con.
Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Thưa: Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Xin Chúa thương xót chúng con.
Thưa: Xin Chúa thương xót chúng con.
Chúa Kitô nghe cho chúng con.
Thưa: Chúa Kitô nhậm lời chúng con.
Ðức Chúa Cha Ngự trên trời là Ðức Chúa Trời thật.
Thưa: Thương xót chúng con.
Ðức Chúa con chuộc tội cứu thế là Ðức Chúa Trời thật.
Thưa: Thương xót chúng con.
Ðức Chúa ThànhThần là Ðức Chúa Trời thật.
Thưa: Thương xót chúng con.
Rất thánh Ðức Bà Maria.
Thưa: Cầu cho chúng con. (các câu kế tiếp đều thưa như vậy)
Rất thánh Ðức Mẹ Chúa Trời.
Rất thánh Nữ đồng trinh trên hết các kẻ đồng trinh.
Ðức Mẹ Chúa Kitô.
Ðức Mẹ thông ơn Thiên Chúa.
Ðức Mẹ cực thanh cực tịnh.
Ðức Mẹ tuyền vẹn mọi đàng.
Ðức Mẹ chẳng vướng bợn nhơ.
Ðức Mẹ rất đáng yêu mến.
Ðức Mẹ cực mầu cực nhiệm.
Ðức Mẹ chỉ bảo đàng lành.
Ðức Mẹ sinh Chúa Tạo thiên lập địa.
Ðức Mẹ sinh Chúa Cứu Thế.
Ðức Nữ cực khôn cực ngoan.
Ðức Nữ rất đáng kính chuộng.
Ðức Nữ rất đáng ngợi khen.
Ðức Nữ có tài có phép.
Ðức Nữ có lòng khoan nhân.
Ðức Nữ trung tín thật thà.
Ðức Bà là gương nhân đức.
Ðức Bà là tòa Ðấng khôn ngoan.
Ðức Bà làm cho chúng con vui mừng.
Ðức Bà là Ðấng trọng thiêng.
Ðức Bà là Ðấng đáng tôn trọng.
Ðức Bà là Ðấng sốt mến lạ lùng.
Ðức Bà như hoa hường mầu nhiệm vậy.
Ðức Bà như lầu đài Ðavít vậy.
Ðức Bà như tháp ngà báu vậy.
Ðức Bà như đền vàng vậy.
Ðức Bà như hòm bia Thiên Chúa vậy.
Ðức Bà là cửa Thiên đàng.
Ðức Bà như sao mai sáng vậy.
Ðức Bà cứu kẻ liệt kẻ khốn.
Ðức Bà bầu chữa kẻ có tội.
Ðức Bà yên ủi kẻ âu lo.
Ðức Bà phù hộ các giáo hữu.
Nữ vương các thánh thiên thần.
Nữ vương các thánh Tổ tông.
Nữ vương các thánh Tiên tri.
Nữ vương các thánh Tông đồ.
Nữ vương các thánh Tử vì đạo.
Nữ vương các thánh Hiển tu.
Nữ vương các thánh Ðồng trinh.
Nữ vương các thánh Nam cùng các thánh Nữ.
Nữ vương chẳng hề mắc tội tổ tông.
Nữ vương linh hồn và xác lên trời.
Nữ vương truyền phép rất thánh Mân côi.
Nữ vương ban sự bằng an.
Nữ vương các gia đình.
Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.
Thưa: Chúa tha tội chúng con.
Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.
Thưa: Chúa nhậm lời chúng con.
Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.
Thưa: Chúa thương xót chúng con.
Lạy rất thánh Ðức Mẹ Chúa Trời xin cầu cho chúng con.
Thưa: Ðáng chịu lấy những sự Chúa Kitô đã hứa.
Lời Nguyện:
Chúng con lạy ơn rất thánh Ðức Mẹ Chúa Trời, chúng con trông cậy Ðức Bà là Chúa bầu chúng con: xin cho chúng con biết lòng Ðức Mẹ yêu dấu con mọn này còn ở dưới thế cách xa mặt Mẹ. Ðức Chúa Giêsu xưa xuống thế gian chẳng bỏ loài kẻ có tội, lại liều mình chịu nạn chịu chết vì hết cả và loài người ta; Ðức Mẹ cũng một lòng theo Con như vậy. Mẹ ôi! Khoan thay! Nhân thay! Chớ trở mặt đi mà chẳng nhìn chúng con; xin Ðức Mẹ thương xem dạy dỗ yên ủi chúng con. Con cậy Mẹ có phép tắc nhiều trên hết Thiên thần cùng trên hết các thánh. Chúng con còn ở dưới thế này như kẻ đi biển cả vậy. Ðức Mẹ là như ngôi sao chính ngự ở trời bên bắc vậy, xin Ðức Mẹ dẫn đàng cho chúng con được theo, kẻo phải xiêu chìm sa hỏa ngục vô cùng; chúng con trông Ðức Mẹ cho chúng con ngày sau được vào cửa thiên đàng, xem thấy mặt Ðức Chúa Giêsu cùng mặt Ðức Mẹ, được hưởng muôn muôn sự phúc gồm hết mọi sự tốt lành chẳng hay hết chẳng hay cùng. Amen.
G N lược dịch
Copyright of TUỆ MẪN

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

BÀI ĐỌC LỄ CẦU CHO CÁC TIN HỮU ĐÃ QUA ĐỜ

Bài Đọc Lễ Cầu Cho Các Tin Hữu Đã Qua Đời

Lễ Nhất

BÀI ĐỌC I: Rm 6, 3-9
“Chúng ta phải sống đời sống mới”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy.
Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi. Mà nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Đức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa.
ĐÁP CA: Tv 22, 1-3a. 3b-4. 5. 6
Đáp: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi (c. 5).
Hoặc đọc: Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con (c. 4a).
1) Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng.
2) Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người. – Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con. Cây roi và cái gậy của Ngài, đó là điều an ủi lòng con.
3) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương: đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.
4) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.
ALLELUIA: Ga 11, 25-26
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ”. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Ga 6, 51-59
“Thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân Do-thái rằng: “Ta là bánh hằng sống từ trời xuống; ai ăn bánh này, thì sẽ sống đời đời. Và bánh Ta sẽ ban, chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống”. Vậy người Do-thái tranh luận với nhau rằng: “Làm sao ông này có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?”
Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Đấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Đây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này thì sẽ sống đời đời”.

Lễ Nhì

BÀI ĐỌC I: Kn 3, 1-9
“Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu”.
Trích sách Khôn Ngoan.
Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Đối với con mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài đã chịu khổ hình, lòng cậy trông của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao: vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.
Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét xử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.
ĐÁP CA: Tv 24, 6-7bc. 17-18. 20-21
Đáp: Lạy Chúa, con vươn linh hồn con lên tới Chúa (c. 1b).
Hoặc đọc: Lạy Chúa, phàm ai trông cậy Chúa, ắt chẳng hổ ngươi (c. 3b).
1) Lạy Chúa, xin nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.
2) Xin cho lòng con được nhẹ bớt lo âu, và giải thoát con khỏi cảnh ưu tư phiền muộn. Xin Chúa coi cảnh lầm than khốn khổ của con, và tha thứ hết mọi điều tội lỗi.
3) Xin gìn giữ mạng sống con và giải thoát con, đừng để con bẽ bàng vì đã tìm nương tựa Chúa. Nguyện cho lòng con vô tội và trung thứ bảo vệ con, vì con trông cậy vào Ngài, thân lạy Chúa.
ALLELUIA: 2 Tm 2, 11-12a
Alleluia, alleluia! – Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Kitô, thì chúng ta cùng sống với Người; nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Lc 23, 33. 39-43
“Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục người rằng: “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”.
Đối lại, tên kia mắng nó rằng: “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu?” Và anh ta thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

Lễ Ba

BÀI ĐỌC I: Rm 5, 5-11
“Chúng ta đã nên công chính trong Máu của Người, và nhờ Người chúng ta được cứu khỏi cơn thịnh nộ”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần đã ban cho chúng ta. Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.
Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người, và nhờ Người chúng ta sẽ được cứu khỏi cơn thịnh nộ. Bởi chưng nếu khi chúng ta còn là thù nghịch, mà chúng ta đã được giao hoà cùng Thiên Chúa nhờ cái chết của Con Ngài, thì huống chi khi đã được giao hoà, ắt chúng ta sẽ được cứu độ trong sự sống của chính Chúa Kitô. Và không những thế, chúng ta còn được vinh hiển trong Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người mà bây giờ chúng ta được lãnh ơn giao hoà.
ĐÁP CA: Tv 26, 1. 4. 7 và 8b và 9a. 13-14
Đáp: Chúa là sự sáng và là Đấng cứu độ tôi (c. 1a).
Hoặc đọc: Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh (c. 13).
1) Chúa là sự sáng, là Đấng cứu độ, tôi sợ chi ai? Chúa là Đấng phù trợ đời tôi, tôi sợ gì ai?
2) Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa, và chiêm ngưỡng thánh điện của Người.
3) Lạy Chúa, xin nghe con kêu cầu, xin thương xót và nhậm lời con. Và lạy Chúa, con tìm ra mắt Chúa. Xin Chúa đừng ẩn mặt xa con.
4) Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy trông đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và trông đợi Chúa.
ALLELUIA: Ga 6, 39
Alleluia, alleluia! – Chúa phán: “Ý của Cha là hễ sự gì Người đã ban cho Ta, Ta chẳng để mất, nhưng ngày sau hết Ta sẽ cho nó sống lại”. – Alleluia.
PHÚC ÂM: Ga 17, 24-26
“Con muốn rằng Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, (Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng:) “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian. Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con. Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa”.
Nguồn: Ủy Ban Giáo Lý Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP Ý DỰ THẢO 4 LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO


Văn phòng Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
72/12 Trần Quốc Toản, P.8. Q.3. Tp. Hồ Chí Minh

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
 NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP Ý
DỰ THẢO 4 LUẬT TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

Kính gửi:     – Ông Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam,
                  – Ông Phạm Dũng, Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ,

Đáp lại yêu cầu xin góp ý cho bản Dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo (sau đây gọi tắt là Dự thảo 4), chúng tôi, Ban Thường vụ, nhân danh Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, xin có một số nhận định và đề nghị sau:
I. NHẬN ĐỊNH CHUNG
Bản Dự thảo 4 chưa làm rõ mục đích của luật, vì luật được tạo ra nhằm đảm bảo quyền con người, tạo sự bình đẳng cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, đem lại bình an cho xã hội cùng cộng đồng dân tộc.
Điều kiện tiên quyết đem lại bình an cho cộng đồng dân tộc là việc người dân chu toàn bổn phận làm người, – tu thân, tề gia, trị quốc, – phải mang tính thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Thiên thời là thuận ý trời. Địa lợi là lợi cho truyền thống văn hoá đạo đức dân tộc. Nhân hòa là hoà với lòng nhân, lòng đạo của người dân.
Trong bản Dự thảo 4 có những điều luật chỉ nhằm mang lại quyền lợi cho nhà cầm quyền (như Điều 9, cùng những Điều nói về việc đăng ký…), mà quên đi quyền lợi của người dân, chưa làm rõ tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo.
Điều thiếu sót quan trọng nhất của Dự thảo 4 là không công nhận sự “tồn tại” hợp pháp của một tổ chức tôn giáo trước pháp luật Việt Nam, qua việc không công nhận tổ chức tôn giáo là một “pháp nhân” chiếu theo Điều 84-85 của Bộ Luật Dân sự 2005.
Nhìn chung, bản Dự thảo 4 đi ngược lại với quyền tự do về tín ngưỡng và tôn giáo, gây lo ngại nhiều hơn là đem lại sự bình an cho mọi người.
II. MỘT SỐ CHI TIẾT
Dự thảo 4 có rất nhiều Điều, khoản và những chi tiết bất cập, không nói lên được thiện chí của Nhà nước trong việc tôn trọng sự tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Ở đây chúng tôi chỉ nêu ra một số Điều, khoản và chi tiết đáng quan tâm nhất:
1. Điều 2 khoản 4 chưa giải thích rõ cụm từ “quy định của pháp luật” là như thế nào.
2. Điều 6 khoản 5b quy định quá chung chung và mơ hồ, vì có thể có những mâu thuẫn về đạo đức, luân lý giữa quan điểm của tôn giáo và chính sách của Nhà nước, như vấn đề phá thai, ly dị, hôn nhân đồng tính… Vì thế, không thể chấp nhận một sự cấm đoán ở điểm này.
3. Điều 15 của Dự thảo 4 liệt kê các hoạt động của tổ chức tôn giáo sau khi được cấp đăng ký hợp pháp. Trong các hoạt động này, thiếu hẳn những quyền để duy trì sự “tồn tại” của tổ chức tôn giáo. Trong khoản 1 chỉ công nhận việc “sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình thuộc cơ sở tôn giáo”, nhưng lại không nói đến quyền sở hữu và sử dụng cơ sở.
4. Điều 18 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Điều 24 Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) đều quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Vì vậy những người đang bị giam, giữ được đáp ứng nhu cầu tôn giáo theo quy định của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Hiến pháp.
5. Điều 9 và Điều 44 Dự thảo 4 là không khả thi, đòi hỏi này vô lý vì mâu thuẫn với Điều 2 khoản 2.
6. Điều 32: Hội nghị và đại hội của các tôn giáo không cần sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì đây là việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo.
7. Điều 38: Điều này là một bước thụt lùi so với Điều 23 của “Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo”, Điều 19 của Nghị định 22 và Điều 23 của Nghị định 92.
8. Điều 49: Đòi hỏi quá nặng nề và phiền toái. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tham gia hoạt động tôn giáo, khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài là vấn đề thuần túy tôn giáo, không cần phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước. Nhà nước không nên xen quá sâu vào công việc nội bộ các tôn giáo.
9. Điều 50 qui định khá mơ hồ: “tổ chức tôn giáo quốc tế” là gì? Thế nào là “tham gia tổ chức tôn giáo quốc tế”? Qui định mơ hồ sẽ gây khó khăn cho các hoạt động tôn giáo.
10. Điều 51 khoản 1: “…tổ chức tôn giáo… được tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến tặng, cho trên cơ sở tự nguyện…”. Điều này vẫn không nói đến hay hạn chế các hoạt động của tổ chức tôn giáo như: quản lý và sử dụng tài sản hay tài khoản ngân hàng, mua bán hay chuyển nhượng cơ sở tôn giáo theo nhu cầu thực tế…
11. Điều 52: Các tổ chức tôn giáo phải được tự do hoạt động trong các lãnh vực từ thiện, nhân đạo và không có hạn chế nào.
12. Điều 54: Phải hiểu như thế nào là “tài sản hợp pháp” khi các tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân?
13. Điều 66: Quy định về việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện, nhưng chỉ nói đến việc khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính theo luật tố tụng hành chính. Việc tổ chức tôn giáo có quyền khiếu kiện tại toà án các cấp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình không được đề cập: chẳng hạn khi bị lấn chiếm đất đai, cơ sở tôn giáo.
14. Chương X và chương XI không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoàn toàn mang tính chất áp đặt quyền lực của Nhà nước lên các tổ chức tôn giáo, tạo kẽ hở cho cơ quan hành pháp lạm dụng quyền lực. Vì vậy, hai chương này tự mâu thuẫn với Điều 2 trong Dự thảo 4 cũng như với Hiến pháp năm 1992 và sửa đổi năm 2013.
III. KIẾN NGHỊ
Bản Dự thảo 4 đi ngược lại với Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế (Điều 18) và Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam sửa đổi năm 2013 (Điều 24). Chúng tôi nhận thấy Dự thảo 4 này là một bước thụt lùi so với Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004. Bản Dự thảo này tạo ra quá nhiều thủ tục rườm rà, nhiều cơ chế khắt khe, ràng buộc, khiến các sinh hoạt tôn giáo bị cản trở.
Vì vậy, chúng tôi đề nghị:
– Không đồng ý Dự thảo 4 Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
– Soạn lại một bản Dự thảo khác phù hợp với xu thế tự do, dân chủ và mang tầm vóc của xã hội tiến bộ.
– Bản Dự thảo mới phải được tham khảo ý kiến từ các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo phải được công nhận tư cách pháp nhân và được pháp luật bảo vệ.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 05 năm 2015
TM. Ban Thường vụ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
Tổng thư ký
(đã ký)
+ Cosma Hoàng Văn Đạt SJ
Hội đồng Giám mục Việt Nam
NGUỒN : WHĐ
GPKONTUM (04/05/2015) KONTUM

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2014

Thông báo cần lưu ý

Thông Báo:
Facebook mang danh linh mục nhà văn Nguyễn Tầm Thường là giả mạo
“Hiện có một facebook mang tên lm Nguyễn Tầm Thường (https://www.facebook.com/thienthan.tonglanh) trên internet. Facebook này đăng hình và các bài viết của lm Nguyễn Tầm Thường. Đồng thời kẻ mạo danh này cũng đăng những bài khác không phải của tác giả Nguyễn Tầm Thường, nhưng vẫn ký tên Nguyễn Tầm Thường.
Tôi xin thông báo: Linh mục Nguyễn Tầm Thường, tác giả các sách suy niệm như Nước Mắt và Hạnh Phúc, Con Biết Con Cần Chúa, Mùa Chay và Con Sâu Bướm. . . là linh mục Dòng Tên hiện ở Denver, Hoa Kỳ không có facebook. Tôi cũng không gởi bài và cho phép facebook lm Nguyễn Tầm Thường đăng hình và bài của tôi. Xin quý vị phổ biến rộng rãi thông báo này để tránh những sai lầm, mạo danh.”
Nhân dịp này, chúng tôi cũng xin lưu ý quý vị và anh chị em: Trong vài tháng gần đây chúng tôi nhận được rất nhiều những thông tin cảnh giác từ các cơ quan truyền thông Công Giáo trên thế giới lưu ý về những trường hợp lường gạt để quyên góp tiền bạc và cả những trường hợp lường gạt anh chị em giáo dân xưng tội qua Facebook. Vì thế nhân dịp này, xin mạnh mẽ minh xác cùng quý vị và anh chị em:
“Thực tại ảo không thể thay thế cho sự Hiện Diện Thật Sự của Ðức Kitô trong Thánh Thể, cho thực tại bí tích của các bí tích khác, và cho việc chia sẻ thờ phượng trong một cộng đoàn nhân loại máu thịt. Không có bí tích nào trên Internet cả” (9) - Tài liệu Giáo Hội và Internet, của Hội đồng Giáo hoàng về Truyền thông Xã hội (http://www.vietcatholic.net/News/Read.aspx?id=24159)
Giáo Hội không chấp nhận việc xưng tội qua điện thoại hoặc qua email. Đầu tiên, bí tích hoà giải là một cuộc gặp gỡ cá vị với Chúa Giêsu. Người đích thân nói với từng tội nhân: “Này con, con đã được tha tội rồi” (Mc 2,5); Người là thầy thuốc cúi mình trên từng bệnh nhân đang cần Người chữa lành; Người nâng họ dậy và dẫn họ về hiệp thông lại với anh em. Vì vậy, việc xưng tội riêng là hình thức có ý nghĩa nhất trong việc giao hoà với Thiên Chúa và với Hội Thánh (Sách giáo lý Giáo Hội Công Giáo 1484)
Hơn thế nữa, khi cử hành bí tích Thống Hối, tư tế chu toàn thừa tác vụ của vị Mục tử nhân lành đi tìm chiên lạc, của người Samaritanô nhân hậu băng bó các vết thương, của người Cha chờ đợi đứa con hoang đàng và đón nhận nó khi nó trở về, của vị thẩm phán công chính không thiên vị ai, và xét xử vừa công bằng vừa hay thương xót. Tắt một lời, tư tế là dấu chỉ và là dụng cụ của tình yêu thương xót của Thiên Chúa đối với tội nhân. (Sách giáo lý Giáo Hội Công Giáo 1465)
Vì sự thánh thiêng và cao cả rất hiển nhiên của thừa tác vụ này và vì sự tôn trọng phải có đối với con người, Hội Thánh tuyên bố rằng mọi tư tế nghe xưng tội, bắt buộc phải giữ bí mật tuyệt đối về các tội mà hối nhân đã xưng với họ, nếu lỗi phạm sẽ bị những hình phạt nghiêm khắc nhất. (Sách giáo lý Giáo Hội Công Giáo 1467). E-mail, Internet, và điện thoại không bao giờ hoàn toàn riêng tư và không ai có thể khẳng định sự bảo mật tuyệt đối mà ấn tín giải tội đòi buộc.
(Theo: VietCatholic Network 17/10/2014)