Thứ Ba, 21 tháng 2, 2023

GIANG HỒ

 TÌNH CỜ ĐỌC MỘT BÀI THƠ HAY

Bạn có nghe, hay đọc đâu đó hai câu
‘… Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”
Thì đây, mời bạn thưởng thức trọn bài thơ tuyệt tác GIANG HỒ của Phạm Hữu Quang
GIANG HỒ
Tàu đi qua phố, tàu qua phố
Phố lạ mà quen, ta giang hồ
Chẳng lẽ suốt ngày bên bếp vợ
Chẻ củi, trèo thang với… giặt đồ?
Giang hồ đâu bận lo tiền túi
Ngày đi ta chỉ có tay không,
Vợ con chẳng kịp chào xin lỗi
Mây trắng trời xa, trắng cả lòng…
Giang hồ ta ghé nhờ cơm bạn
Đũa lệch mâm suông cũng gọi tình
Gối trang sách cũ nằm nghĩ bụng
Cười xưa Dương Lễ với Lưu Bình.
Giang hồ có bữa ta ngồi quán
Quán vắng mà ta chẳng chịu về
Cô chủ giả đò nghiêng ghế trống
Đếm thấy thừa ra một gốc si.
Giang hồ mấy bận say như chết
Rượu sáng chưa lưa đã rượu chiều
Chí cốt cầm ra chai rượu cốt
Ừ. Thôi. Trời đất cứ liêu xiêu…
Giang hồ ta chẳng thay áo rách
Sá gì chải lược với soi gương
Sáng nay mới hiểu mình tóc bạc
Chợt tiếng trẻ thưa ở bên đường.
Giang hồ ba bữa buồn một bữa,
Thấy núi thành sông biển hoá rừng
Chân sẵn dép giầy, trời sẵn gió
Ngựa về. Ta đứng. Bụi mù tung…
Giang hồ tay nải cầm chưa chắc
Hình như ta mới khóc hôm qua
Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt
Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà.
Phạm Hữu Quang
***
Tác giả sinh năm 1952 tại Cần Thơ. Từng học đại học sư phạm Sài Gòn và đại học Cần Thơ.
Làm thơ từ năm 1969 đăng trên các báo.
Bài thơ Giang Hồ được sáng tác khoảng tháng 5 / 1991
Tác phẩm đã in: Đàn Gà Con – 1980
Ông bị bệnh và mất năm 2000 tại tỉnh An Giang- Việt Nam.
(Copi FB:Thai NC)


Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2023

Chuyện thật, người thật: LINH MỤC, NGƯỜI LÀ GÌ?

  Chuyện thật, người thật: LINH MỤC, NGƯỜI LÀ GÌ?

Một sáng sớm mùa Đông Canada, tuyết vẫn còn phủ trắng, cao đến mắt cá chân trên các lối đi. Bà Catherine, bà bếp Cha Sở bước chầm chậm và cẩn thận quay về nhà xứ sau Thánh Lễ ban sáng. Vừa đặt chân trên bậc thềm nhà xứ, thấy tôi đang quét tuyết, bà vui vẻ chào tôi và bảo :” Peter, mang cây chổi quét tuyết tới đây!” Tôi tươi cười tiến tới gần bà với cây chổi quét tuyết đu đưa trên tay, chưa đón ra ý bà muốn nhờ tôi chuyện gì. Bà Catherine tự nhiên kéo váy đầm cao lên một chút và chìa đôi giày bám đầy tuyết, thản nhiên bảo tôi: “Lấy chổi phủi dùm tuyết bám giày, để tôi đi vào không làm dơ thảm nhà xứ!”
Nụ cười vụt tắt trên môi. Tôi không nghĩ là mình không hiểu tiếng Anh. Rõ ràng quá mà: Lấy chổi phủi sạch tuyết bám giày bà đầm Catherine. Tôi cúi mặt chần chừ. Bà Catherine vẫn giữ cao váy đầm, giơ đôi giày bám đầy tuyết , thúc giục: “Phủi dùm mau đi để tôi còn kịp vào chuẩn bị cà phê sáng cho Đức Ông Robert!” Im lặng và cẩn thận, tôi cầm chổi, nhẹ nhàng phủi tuyết bám giày bà Catherine, từng chếc một. Bà cười mãn nguyện, cám ơn tôi và nhanh nhẹn đẩy cửa bước vào nhà xứ.
Cửa chánh nhà xứ đóng ‘rầm’ một tiếng chận đứng ánh mắt buồn của tôi đang dõi theo bà Catherine. Tôi xấu hỗ cúi xuống đưa mắt nhìn lại chính mình, lần dò xuống tận bàn chân. Dù khoát chiếc áo Mùa Đông để ra ngoài trời quét tuyết, nhưng bên trong tôi vẫn đàng hoàn nghiêm túc với tu phục linh mục: áo sơ mi dài tay màu đen, cổ côn trắng hẳn hoi, quần đen ủi thẳng nếp, giày da mùa Đông loại đắt tiền cổ cao, đế dày. Tôi học và chịu chức linh mục ở Canada, dáng vẻ phong thái lịch lãm không kém người da trắng. Nếu hoàn cảnh đất nước cho phép, tôi về lại quê nhà, chắc sẽ được đánh giá cao, không thua các linh mục được du học ngày xưa. Tôi nghĩ vậy.
Cái nhục phủi tuyết bám giày bà đầm len vào máu, bốc cao tận đỉnh đầu. Ném chổi quét tuyết trả lại góc tường nhà xứ. Lặng lẽ, tôi trở lại phòng làm việc, đóng cửa khá mạnh tay, để toàn thân rơi phịch nặng nề trên chiếc ghế bành làm việc. Tại sao bà Catherine không gọi tôi là CHA? Vì tôi mới làm linh mục và còn làm phó cho Đức Ông Robert chăng? Tại sao bà Catherine dám bảo một linh mục phủi tuyết bám giày bà? Bà là bà đầm da trắng, còn tôi là tên tóc đen, da vàng đến từ một nước nghèo chăng? Da màu phải phục vụ da trắng hay người nghèo phải phủi tuyết bám giày người giàu chăng? Nhiều câu hỏi tương tự quanh đi quẩn lại trong tôi.
Cái nhục của một linh mục đã phủi tuyết bám giày bà đầm được tô đậm nét. Lòng tự ái dân tộc, niềm tự hào nòi giống rực lửa trong tôi. Tôi mạnh dạn, hung hăng đứng lên, định đi tìm bà Catherine và Đức Ông Robert để làm lớn chuyện, làm cho ra lẽ. Bà Catherine phải xin lỗi tôi về chuyện đã không gọi tôi là Cha và vì đã dám bảo một ông Cha phủi tuyết bám giày bà. Gọi một linh mục bằng tên, thiếu lòng đạo đức rõ ràng. Bảo một linh mục phủi tuyết bám giày, thiếu lòng kính trọng chức thánh không thể chối cãi.
Cái đứng dậy quyết liệt, cái vung tay tức giận làm văng cây Thánh Giá trên bàn làm việc xuống sàn nhà. Ảnh Chúa Chuộc tội từ lâu vẫn đứng vô tri trên bàn làm việc, ngay trước mặt tôi, rất kề cận, nhưng nhiều khi tôi đã không thấy, hay thấy như một thứ trang trí tôn giáo cần thiết trong phòng làm việc của một linh mục. Tôi bước đến, chậm rãi cúi nhặt ảnh Thánh Giá lên. Chúa nằm úp mặt trên sàn thảm, một cánh tay gảy lìa thân. Chúa trông thảm hại hơn bình thường. Cánh tay gảy lìa còn tòong teng nhờ đinh đóng chặt. Im lặng nhìn Thánh Giá, cố ráp cánh tay gảy của tượng Chúa vào thân, đặt trở lại trên bàn làm việc. Tôi quay lại ghế ngồi, ánh mắt vẫn không rời Thánh Giá. Tủi nhục và thảm hại của Thánh Giá làm cái tủi nhục phủi tuyết bám giày bà đầm lắng xuống dần. Ý nghĩa về chức linh mục của Chúa Giêsu dâng cao, lấn chiếm tôi.
Ánh mắt vẫn không rời tượng Chúa Giêsu chết treo trên Thánh Giá. Ngài là Linh Mục Thượng Tế, đang giang tay tế lễ trên Thánh Giá. Chính Ngài lập Bí Tích Truyền Chức Thánh để thông ban cho tôi chức linh mục của Ngài. Không ai gọi Ngài là CHA cả, nhưng gọi là Chúa và là Thầy (Gioan 13:13). Vậy tiếng CHA dùng để gọi các linh mục, tiếng ĐỨC CHA dành để gọi các Giám Mục, tiếng ĐỨC THÁNH CHA dùng để gọi Giáo Hoàng La Mã đến từ đâu? Không đến trực tiếp từ Chúa. Chính Chúa đã có lần dạy các Tông Đồ là ‘đừng tôn xưng ai dưới đất là Cha, vì chúng con chỉ một Cha duy nhất trên trời” (Matt. 23:9). Nói thế, Chúa không có ý chỉ thị rõ ràng rằng ‘đừng gọi các linh mục Công Giáo là Cha’ như người Tin Lành suy diễn nhằm chỉ trích linh mục Công Giáo. Chúa đã khiển trách môn đệ mình vì chuyện ‘tranh chức’ đòi làm lớn, ngồi chỗ nhất giống như người Biệt Phái và dạy họ rằng “Ai muốn làm lớn phải làm đầy tớ anh em mình.” (Matt.20:24-27), cũng như dừng bao giờ tự tôn mình lên ngang hàng với Chúa, vì chúng ta chỉ có một Chúa, người Cha duy nhất trên Trời.
Tiếng gọi CHA dành cho linh mục, ĐỨC CHA dành cho Giám Mục hay ĐỨC THÁNH CHA, dành cho Giáo Hoàng được xử dụng trên toàn thế giới, đến từ truyền thống của Giáo Hội nhằm tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ những người có chức thánh linh mục. Từ việc tin Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế, là Linh Mục Thượng Tế, Kitô hữu đem lòng mộ mến, kính trọng Linh mục, Giám Mục và Giáo Hoàng. Họ được coi như những người thông phần với chức Linh Mục của Chúa Kitô, như những người hy sinh và hiến tế đời mình cho phần rỗi nhân loại. Phaolô nói khá nhiều về chức linh mục thượng phẩm của Chúa Kitô (Thư Do Thái 4: 14- 5: 1-10) cũng như về vai trò trung gian giữa Trời và Đất đã ảnh hưởng sâu đậm nơi những kẻ tin. Người tin Chúa Kitô được dạy để đồng hoá linh mục với Chúa Kitô. Linh mục là hiện thân của Chúa Kitô, là một Chúa Kitô khác, là người CHA tinh thần, người CHA chăm sóc phần hồn cho các tín hữu, người tái sinh chúng ta qua bí tích rửa tội.
Cũng rất có thể nó đến từ cách xưng hô kính trọng dành cho những bô lão, những bậc đứng tuổi, đáng kính trong Giáo Hội sơ khai. Từ Presbyteroi, nguyên ngữ Hy Lạp có nghĩa là người đứng tuổi, bậc đáng kính, được dùng để chỉ linh mục ngay từ buổi đầu.
Bà Catherine thiếu lòng kính trọng thánh chức linh mục vì đã không gọi tôi, một linh mục là CHA. Tôi thấy mình thiếu lý chứng để kết án bà. Người Tây Phương đặt tên để gọi. Họ thích được gọi đích danh. Một linh mục biết nhiều tên của nhiều người và gọi đúng tên, bất luận già trẻ lớn bé, sẽ được giáo dân quí mến đặc biệt. Khi được gọi đúng tên, người Tây Phương cảm thấy mình thực sự được quan tâm. Người Á Đông, đặc biệt Việt Nam mình, đặt tên để tránh gọi tên hay đặt tên để giấu tên. Gọi tên ‘cúng cơm’ một người lớn, chuyện bất kính, không thể chấp nhận được. Người mình thường xưng hô bằng ngôi thứ: Bác Ba, Cô Chín, Cậu Út thay cho tên. Trong những xứ đạo người Bắc, chủ tịch Hội Đồng Giáo Xứ được gọi là Ông Chánh hay Chánh Trương. Giáo lý viên dạy kinh bổn được gọi là Bà Quản hay Quản Giáo. Người xướng kinh trong nhà thờ được gọi là Ông Trùm. Người chăm sóc việc nhà thờ, nhà Cha được gọi là Ông Bõ. Việc tránh gọi tên đi đến kết quả: không còn ai biết tên thật của nhau. Cách nào đó đã thiếu quan tâm đến cá nhân, đến hữu thể mà chỉ chú trọng đến ngôi thứ, chức vụ hay địa vị là cái tùy thể, tháp gắn vào hữu thể.
Năm 1974 tôi biết rõ một thiếu tá quận trưởng mất chức vì dám gọi vị Giám Mục Công Giáo là “Ông Đạo”. Ai cũng cho là đáng đời, vì làm tới quận trưởng mà không biết gọi Giám Mục là Đức Cha. Cũng là những kết án không hợp lý và bất lợi: Một quận trưởng không Công Giáo, làm sao biết được cách xưng hô kiểu Công Giáo? Người ngoài Công Giáo và nếu chịu ảnh hưởng Khổng Giáo chút ít, khó có thể gọi một ai khác ngoài cha đẻ của họ ở nhà là cha. Vị quận trưởng bị cất chức nầy có nhận ra lỗi “ăn nói vô đạo” của mình không? Không! Ông ta đâu có lỗi để nhận ra. Nhưng trên thực tế, ông ta đã nhận một bất công. Gánh chịu bất công dễ đưa lòng người tới oán hận. Phải thú nhận rằng trong quá khứ, chúng ta, do hoàn cảnh đưa đẩy, đã sống theo kiểu “làm cha thiên hạ” hay “lấy thịt đè người”. Chúng ta đòi người khác cho cái mà họ không có và không buộc phải cho. Chúng ta nghĩ thế nào, dễ hay khó, tự nhiên hay bất thường khi nghe một cụ già bảy mươi tuổi, trong tiếp xúc xã giao thường ngày, gọi một linh mục trẻ mới ba mươi tuổi là cha và xưng là con?
Bà Catherine đã gần bảy mươi tuổi, sấp xỉ tuổi mẹ tôi ở quê nhà. Chưa một lần xác định bằng lời, nhưng xem chừng bà thay Mẹ tôi chăm sóc cho tôi trong mấy tháng qua: Bà nấu cơm cho tôi, giặt giũ cho tôi, bà pha chế những món ăn hoà hợp giữa khẩu vị Tây-Ta cho tôi vừa miệng. Bà hay dò hỏi xem Mẹ tôi làm gì cho tôi khi tôi đau ốm hay khi tôi buồn. Bà nhắc tôi đi ngủ sớm và dâng thánh lễ chậm rải, sốt sắng. Bà thương chỉ bảo cho tôi phát âm từng chữ tiếng Anh cho đúng giọng và chính xác. Bà cũng hay nhờ tôi khuân vác hay di chuyển những vật nặng trong nhà xứ giống như Mẹ tôi ở nhà vậy. Chuyện bà gọi tôi bằng tên cũng là chuyện tự nhiên như Mẹ gọi con. Có bà mẹ nào, trong sinh hoạt thường nhật, gọi con mình làm linh mục là cha bao giờ? Chuyện bà nhờ tôi phủi tuyết bám giày sáng nay, trong trí bà, có thể không như chuyện giáo dân nhờ linh mục, nhưng là chuyện mẹ nhờ con. Thật đơn giản!
Hơn bao giờ hết, tôi thấy mình thật cận kề với Chúa Giêsu chịu đóng đinh đang đặt trước mặt tôi, trên bàn làm việc. Chúa Kitô, linh mục thượng phẩm, đang giang tay, hiến tế chính thân mình trên Thánh Giá. Tôi, một linh mục, một Chúa Kitô khác, tôi giang tay dâng lễ hàng ngày trên bàn thờ. Tay giang, nhưng không dâng hiến, không ban phát, không cho đi, nhưng đòi hỏi: đòi được kính trọng đặc biệt, đòi được gọi bằng CHA mới thoả lòng. Tôi làm linh mục, một Chúa Kitô khác, nhưng đôi khi tôi thật khác Đức Kitô: Chúa Kitô, đến để phục vụ, còn tôi, tôi sôi máu tức giận khi phải phục vụ.
Tôi đứng lên, tìm bà Catherine trò chuyện. Bà đang ở nhà bếp chuẩn bị cơm trưa. Tôi vui vẻ đến gần hỏi xem bà có cần tôi giúp chuyện chi không. Bà Catherine vui vẻ nhờ tôi chuẩn bị Salad và cà chua. Tôi vừa làm giúp bà vừa hát nho nhỏ trong miệng. Bà Catherine đến gần, ngọt giọng bảo tôi: “Peter, you look so happy today!” Lại cũng Peter suông! Nhưng tôi lại yêu nó. Tôi mỉm cười đắc ý trả lời: “Yes, Mom, I deeply realize that I am a priest forever!” Chữ “linh mục” tôi nhấn mạnh và kéo dài. Suốt năm tháng qua, từ ngày chịu chức, tôi đã làm CHA và buồn vì không được gọi là Cha. Hôm nay, tôi mới thực sự làm linh mục, làm người được chia sẻ chức linh mục với Chúa Kitô, Đấng đến giang tay tế chính thân mình cho phần rỗi của những người con.
Bà Catherine ơi! Cám ơn bà thật nhiều! Bà đã không kêu tôi bằng Cha, nhưng bằng tên và đã nhờ tôi phủi tuyết bám giày bà. Bà không thật sự thiếu lòng kính trọng tôi, hay coi thường chức linh mục trong tôi. Nhưng bà cho tôi cơ hội nếm và sống ý nghĩa chức linh mục. Linh mục, kẻ giang tay để tế lễ, để dâng hiến, để cho đi, để ban phát và phục vụ như một Đức Kitô khác. Bà thật sự giúp tôi khước từ ước vọng làm CHA hay thích được gọi là CHA theo ý nghĩa muốn được nâng cấp, mang tính ích kỷ thu gom của mình. Linh mục, người Cha tinh thần hay cha linh hồn, người sinh cho Chúa nhiều con cái qua bí tích Rửa Tội, nhưng nhiều khi được gọi CHA làm tôi dễ thấy mình cao cả và quên đi vai trò hy sinh, giang tay cứu độ mà Đức Kitô, Linh Mục Thượng phẩm đã chọn gọi tơi để thi hành.
Lm. Phêrô Trần Tuyên
Nguồn bài viết: Dang Huynh Dinh.

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2023

HOA LƯU TÔ (HOA TUYẾT)


 Đây là hoa Lưu Tô, loài hoa được bảo vệ cấp quốc gia tại Trung Quốc, ở Phúc Châu chỉ có ba cây. Nở hoa vào tháng 4 hàng năm, vì hoa trắng như tuyết nên còn gọi là tuyết tháng tư.

🤍
Quá đỗi xinh đẹp, quá đỗi thanh tao 🤍
Sưu tầm
My Lan Phạm





Tất cả cảm 

GIẢ GIẢ, THẬT THẬT

 GIẢ GIẢ, THẬT THẬT

Ở đời, ta thấy một nguyên tắc rõ ràng rằng không ai thích mình mua phải đồ giả và nhất là phải gặp đồ giả.
Ra chợ, chắc chắn ta sẽ tìm đến cử hiệu tốt để ta mua. Đó là tâm lý hết sức bình thường vì ta tin nhãn hiệu, ta tin cửa hàng đó rồi. Hễ cứ mua cái gì cần thiết là ta nghĩ ngay đến cửa hàng đó chứ không phải suy nghĩ thêm. Bi đát ở chỗ có khi người ta đặt hết niềm tin vào cửa tiệm đó người ta mua về nhưng lại gặp hàng giả. Tôi cũng đã bị như thế vì đã đặt hết niềm tin nơi đó. Âu cũng là chuyện bình thường trong cuộc sống, nhất là giữa xã hội ngày hôm nay khi đồ giả lên ngôi.
Con người cũng thế, trong tương quan giữa người với người, không ai muốn mình phải quen biết hay thân cận hay nhất là tin tưởng người giả bao giờ. Thế nhưng cũng chả biết đường mà lần. Có khi người mình trao hết niềm tin và trao cả cuộc đời nhưng dần dần lộ diện ra người mà mình trao niềm tin ấy lại là người giả. Và những cú sốc không nhẹ ập đến khi người mình tin tưởng lại là người giả.
Ngày hôm nay, thế giới mạng phát triển, ta thấy thật thật giả giả lẫn lộn chả biết đường mà mò. Giả giả thật thật ngày hôm nay cứ nhan nhãn để rồi làm cho con người ta không tin tưởng nhau nữa. Mạng xã hội xem chừng là giả nhưng nó là thật và cũng có những người được mạng xã hội tung hứng nhưng cuối cùng lại là giả.
Mấy ngày nay và nhất là từ trưa đến nay, nhiều và rất nhiều người điện thoại, nhắn tin cho tôi hỏi thăm tôi về chuyện đời. Câu chuyện những người đó hỏi xoay quanh về niềm tin về người mà họ cho là thật và bao lâu nay họ tin tưởng.
Thương cho họ. Họ là những người lớn tuổi hơn tôi. Họ nhắn tin mà tôi đọc xem chừng rơi nước mắt : “Con không tin điều đó Cha ơi !”. “Con không tin sự thật là như vậy Cha ơi !”. “Làm sao mà có chuyện đó được Cha ơi !”. Phải nói rằng rất nhiều dòng tin nhắn mà tôi đọc tôi thấy chạnh lòng và phải nói là không chạnh lòng nữa mà là đau thật đau.
Những người trước mắt của nhiều người khác là lung linh, là chói lọi cũng như đầy quyền lực, danh dự và vinh quang đều quy về người đó nay coi như bị sụp đổ. Nhiều và rất nhiều người nuối tiếc khi thần tượng của họ sụp đổ.
Tôi thì khác ! Tôi chả có gì sụp đổ cả ! Đơn giản vì tôi xác tín đời tôi, tôi chỉ đi theo một mình Đức Ki tô và tin vào Đức Kitô mà thôi. Đơn giản, Đức Kitô khẳng định Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Ai đến với Ngài sẽ được sống và không phải chết bao giờ”. Chính vì lẽ đó cứ đường tôi tôi đi, tôi chả bận tâm ai khác. Tất cả cũng chỉ là phàm nhân :
Nhưng nào có ai tự chuộc nổi mình
và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa?
Mạng người dù giá cao mấy nữa,
thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời.
Nào phàm nhân sống mãi được sao
mà chẳng phải đến ngày tận số?
Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,
kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong,
bỏ lại tài sản mình cho người khác.
Tuy họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
nơi họ ở muôn đời muôn kiếp.
Dù sống trong danh vọng,
con người cũng không thể trường tồn;
thật nó chẳng khác chi
con vật một ngày kia phải chết. (Tv 49)
Tất cả cũng chỉ là phàm nhân. Chỉ tội nghiệp cho con người khi người ta tin tưởng cũng như thậm chí phong thánh cho ai đó quá sớm. Chỉ một mình Thiên Chúa mới là Đấng Thánh mà thôi.
Chả biết phải nói làm sao nữa. Nhiều và nhiều người đến “méc” tôi và như xưng tội kiểu tòa trong. Họ nói cho tôi quá nhiều đến độ tôi bị bão hòa về những khuôn mặt mà nhiều người tôn vinh và xem chừng ra rất thánh thiện. Họ kể ra những nhân vật mà xem chừng ra khi nói ra người ta bảo mình dựng chuyện hay chuyên gia ngồi đó bới móc người khác.
Mới sáng hôm nay thôi, một người em linh mục nọ bị khủng hoảng đời sống đức tin. Anh chàng ấy cũng là cựu tu sinh. Anh theo đường tu nhưng không trọn. Bạn bè linh mục cùng thời của Anh rất nhiều. Chả hiểu sao Anh lại tìm đến tôi và kể hết sự tình. Nghe xong về chuyện Anh nói về linh mục, tôi xin phép đại diện cho những linh mục đó xin lỗi Anh và nói Anh hãy bình tĩnh và giữ vững đời sống đức tin.
Câu nói mà Anh nói tôi nghe nhói cả lòng : “Cha ! 2 tuần nay con không đến Nhà Thờ. Con không thể nào nghe lời của các cha giảng nữa. Đều giả dối hết Cha ơi ! Con đến Chùa. Mấy ngày nay con đến đó con nghe tiếng chuông chùa và lòng con bình an lắm !”.
Thật sự khi gõ lại những dòng này tôi đau đớn ! Đau vì giáo dân đã bị mất niềm tin vào những vị đại diện cho Đức Kitô ở trần gian. Thế nhưng rồi hình ảnh của những vị lẽ ra sống trở thành Đức Kitô khác cho người ta noi theo nhưng rồi họ lại sống khác với Đức Kitô mà họ đã từng tuyên hứa là nói, sống những lời họ đọc và họ tin trong Kinh Thánh. Tiếc thay họ sống ngược lại và để rồi những người tin tưởng họ mất niềm tin.
Chiều nay, trong điện thoại, tôi chia sẻ về chuyện giáo dân mất niềm tin vào linh mục, một vị tôi rất quý mến là em của một Đức Giám Mục chia sẻ mà tôi thấy đau lòng : “Cha ơi ! Con cũng bị rồi Cha ơi! ...”
Nghe sao mà buồn quá ! Tiếc và thật tiếc thay khi người giáo dân bị mất niềm tin vào những người mà họ coi trọng và tin tưởng. Sau một thời gian, niềm tin của họ bị sụp đổ vì phát hiện ra con người mà bấy lâu nay họ tin đó lại là giả.
Thật sự không đơn giản để sống thật với con người giữa cuộc đời này. Trước hết là ai ai cũng thích cái vẻ bề ngoài, lung linh và khéo ăn khéo nói. Thứ đến là người ta không chấp nhận lời thật và thù ghét lời thật.
Tôi vừa bị một giáo dân mạt sát : “Cha đừng phá Giáo Hội nữa ! Cha đăng bài để người ta vào người ta chửi Giáo Hội ! Xin Cha đừng phá Giáo Hội nữa ...”.
Nghe lời nhận định đó, tôi tự vấn lòng mình rằng tôi có phá Giáo Hội không ?
Nghĩ cũng buồn cười. Một số Đức Cha vẫn đọc bài của tôi, Mộ số website đăng bài của tôi để đăng thì làm sao nói tôi phá Giáo Hội Và chính bản thân tôi cũng đang phụ trách 1 trang web của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thì làm sao Đấng Bản Quyền để tôi làm chủ trang nếu tôi phá Giáo Hội (có điều trong trang này tôi cực ít đăng bài do tôi viết vì tôi không muốn mình vừa đá bóng vừa thổi còi hay khoe mẽ. Trang này tôi lấy tin tức Giáo Hội đăng cùng với những bài suy niệm và nghi thức Thánh lễ do tôi biên soạn mà thôi).
Tôi ở trong trạng thái sống thật nhưng bị người ta nghi ngại và thậm chí còn rủa. Tôi không ngán vì tôi mãi mãi vẫn là tôi. Ai tiếp xúc với tôi đều biết rõ con người của tôi : hèn yếu, nhỏ bé và ngày mỗi ngày cố gắng nên hoàn thiện. Tôi luôn bộc bạch con người chuệch choạc của tôi chứ không đánh bóng để người khác tin.
Tiếc thay người ta thích cái lung linh, cái lóng lánh để một ngày nào đó sự thật lộ diện thì họ mất niềm tin. Thôi thì sống ở đời, bớt bớt tin vào những cái lung linh và lóng lánh lại. Chưa chắc cái gì nhình lóng lánh đã là vàng đâu. Và, chỉ một mình Đức Kitô là mới chính là Sự Thật mà thôi. Và, Sự Thật sẽ giải thoát anh em (Ga 8, 32).
Lm. Anmai, CSsR

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

Ý LỰC SỐNG: ĐỂ BƯỚC VÀO MÙA CHAY 2023

 Ý LỰC SỐNG

ĐỂ BƯỚC VÀO MÙA CHAY 2023
1. Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ.
2. Không thấy quan tài, không đổ lệ.
3. Thấy quan tài, sao không đổ lệ ?
1. Chưa thấy quan tài, chưa đổ lệ.
Hôm đó, khi mình còn đang là cha sở giáo xứ Đức An ở thành phố Pleiku, một nữ tu dòng Phaolo phụ trách người phung cùi huyện Ia Grai, tỉnh Gialai, dẫn hai vợ chồng người Pháp và một đứa con trai 11 tuổi đến thăm mình. Mình hỏi sao đang trong năm học mà lại rủ nhau đi du lịch vậy. Được trả lời là vợ chồng cũng đang làm việc, nhưng mà phải đưa con đi theo yêu cầu của con mình. Chuyện là có một người bạn của gia đình họ đã đi thăm làng người phung cùi là làng Tar huyện Ia Grai cách thành phố Pleiku khoảng 75 km gần biên giới Campuchia. Khi về thì tặng cho gia đình một video clip về những sinh hoạt của người cùi làng này. Con trai chúng tôi đã xem và nhất định xin bố mẹ dẫn cháu đi tới nơi đó. Chúng tôi trình bày với nhà trường. Nhà trường đồng ý cho cháu nghỉ một tuần với điều kiện là cháu phải tường trình với hình ảnh cho cả trường sau chuyến đi. Vậy là vợ chồng phải xin nghỉ việc để đưa con mình đi. Họ kể :
“ Bây giờ chúng tôi rất bằng lòng về chuyến đi này. Cháu đã rất ngỡ ngàng khi thấy những bệnh nhân phong vui vẻ, tươi cười tiếp đón . . . Con chúng tôi đã xin bố mẹ cho học làm bác sĩ để sau này chữa bệnh cho người nghèo. . . Một quyết định, định đoạt cả cuộc đời của cháu ! Chúng tôi sẽ nhắc nhở con về quyết định này . . . “
Vậy đó, nên chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Thấy quan tài rồi là đổ lệ. Cháu bé này chỉ mới 11 tuổi ? Bạn bao nhiêu tuổi ?
2. Không thấy quan tài làm sao mà đổ
lệ được ?
Không thấy các em nhà nghèo người Thượng ăn cơm với muối; không gặp các trẻ em suy dinh dưỡng trong các buôn làng vì thiếu sữa; không gặp những người chạy thận ở bệnh viện xanh xao ốm yếu đi lượm ve chai để có tiền ăn để được ở lại chờ đến phiên, vì không có tiền xe đi xe về. . . Không bao giờ vào thăm bệnh viện để gặp các bệnh nhân nghèo thiếu tiền mua thuốc hoặc không có tiền chuyển lên tuyến trên để được chữa lành . . . Không kể nổi hết đâu ! Ngay cả những người có bổn phận “mang vào mình mùi chiên” cũng không hề biết đến đàn chiên, nhất là những con chiên nghèo, thì làm sao mà đổ lệ được ? Có những người khóc không còn nước mắt; có những người không có chút nước mắt để khóc với đời !
3. Thấy quan tài, sao không đổ lệ ?
Ai cũng biết chuyện ông ngoại đạo người Samari. Dụ ngôn này là bài học của Chúa Giêsu dạy chúng ta biết thế nào là đổ lệ. Thầy tư tế lúc bấy giờ phải chăng là linh mục thời bây giờ và mình đang là linh mục ! Rồi thầy Lêvi cũng thuộc hàng cao cấp trong Do Thái giáo. May mà hồi đó chưa có ma xơ các dòng ! Thấy không ? Rõ ràng là hàng đạo đức thấy quan tài mà không đổ lệ ! Ông “ngoại đạo” lại đổ lệ ! Chúa Giêsu đâu có tưởng tượng để công kích hay chê bai ai ! Đấy là một thực trạng thời Chúa Giêsu. Thời bây giờ thì sao ? Mỗi người chúng ta nên tự xét và tìm câu trả lời cho chính mình. Nhiều lần thấy quan tài mà không đổ lệ vì ích kỷ và tiếc của.
Suy Niệm : Thưởng và phạt ở ngày Chúa phán xét. Không phải làm giáo hoàng, làm chủ tịch nước hay làm tổng thống,hoặc làm đại gia hay hoa hậu mà được thưởng . Hãy vào hưởng hạnh phúc ngàn đời dành sẵn cho các ngươi, vì xưa Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống . . . Và Chúa cũng nói với những kẻ ích kỷ: Cút khỏi mắt Ta vì khi Ta đói các ngươi không cho ăn, Ta khát các ngươi không cho uống . . . Chắc chắn là bạn đã nghe bài Dụ Ngôn này nhiều lần rồi.
Mùa Chay hãy giảm bớt những chi tiêu xa xỉ, giảm bớt những chi tiêu thôi nôi, sinh nhật . . . để giúp người nghèo khổ.
Hãy tập chia sẻ cả những thứ chúng ta đang cần thiết, đừng có đợi cho đến lúc dư thừa.
Lạy Chúa, xin cho chúng con có được một Mùa Chay biết hướng đến người nghèo để chúng con được Hạnh Phúc Nước Trời. Amen
Nguồn: Lm Phêrô Nguyễn Văn Đông.

Có thể là hình ảnh về 2 người và trẻ em
NguôTất cả

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2023

TẠI SAO PHẢI CÓ TẾT???

 TẠI SAO

phải có TẾT??? Tết có giống Noel hay Thankgivings không???
Nghe em hỏi bằng giọng tiếng Việt lơ lớ, tự nhiên tôi sững người lại. Thật sự... tôi rất vui khi nhận được câu hỏi đó từ em (một công dân thế kỷ 21, sinh ra và lớn lên tại Pháp quốc - nơi cha mẹ em cùng hơn 300.000 kiều bào Việt Nam đang sinh sống và làm việc lâu nay). Tôi - hơn em tuổi đời, lại sinh trưởng trên đất nước (em vẫn nghe qua người thân và internet) nên đối với tôi: TẾT là “một dịp rất đặc biệt”, “một lễ tiết trọng đại” có nội hàm ý nghĩa vô cùng phong phú và sâu sắc!
“TẾT” là tên gọi ngắn gọn của Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền. Nguyên nghĩa của chữ Tết là "tiết", còn "Nguyên Đán" có gốc chữ Hán: "Nguyên" là sự khởi đầu và "Đán" là buổi sáng sớm. Cho nên, “Tết Nguyên Đán” chính là buổi sáng đầu tiên của một năm mới tinh khôi. Và theo chu kỳ vận hành của mặt trăng (lịch âm) nên thời gian của Tết Nguyên Đán thường bị lệch so với Tết Dương lịch (Tết Tây), và cứ 4 năm sẽ có 1 năm nhuận. Hàng năm, Tết Nguyên Đán thường kéo dài trong khoảng 6-7 ngày cuối năm và 3 ngày đầu năm mới (từ 23 tháng Chạp đến hết mùng 3 tháng Giêng).
Với tôi, tôi thích gọi Tết Nguyên Đán bằng cái tên gần gũi là: “Tết Việt”chứ không phải "Lunar New Year Festival", lại càng không là "Chinese New Year". Một lễ lớn nhất trong các lễ hội truyền thống, lưu giữ hầu hết các giá trị văn hóa tốt đẹp trong đời sống sinh hoạt và tâm thức của con dân Lạc Việt qua bao đời nay. Mặc dù Việt Nam, Trung Quốc và một số nước khác có thể cùng chào đón năm mới âm lịch, nhưng mỗi nơi có những nét đẹp đặc thù riêng. Vì thế, Tết Việt - là của người Việt, gói ghém trọn vẹn những giá trị văn hóa tự thân của đất nước Việt Nam và hoàn toàn khác biệt so với những ngày lễ có xuất xứ phương Tây nói trên.
Trước hết, Tết Nguyên Đán từ buổi “khai thiên lập địa” đã biểu hiện những giá trị nhân văn từ sự giao cảm giữa trời đất, con người với thần linh. Tết - do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, luân chuyển các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông - có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong một xã hội có nền kinh tế nông nghiệp là chính. Bên cạnh đó, theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm "Ơn trời mưa nắng phải thì", người nông dân còn cho đây là dịp tưởng nhớ các vị thần có liên quan đến sự được - mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời hay những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ từ hạt lúa, củ khoai cho đến con trâu con bò và cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa.
TẾT cũng chính là dịp đoàn viên của mọi gia đình Việt mỗi độ xuân về. Dù là ai, đang làm gì, ở bất cứ đâu cũng đều mong muốn được trở về sum họp với gia đình, người thân để cùng quây quần ăn bữa cơm Tất Niên chiều 30; để khấn vái tri ân trước ban thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ tộc, mồ mả ông bà hay giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý: Tình xóm làng, thầy - trò, bạn bè ôn cố tri tân… Tết Cả của Việt Nam còn là thời điểm quan trọng để “Tống cựu nghinh tân” - rũ bỏ những điều không tốt, những gì đã cũ để hướng đến những điều tốt đẹp hơn trong năm mới. Bởi vậy, trước Tết - người Việt mình thường hay dọn dẹp nhà cửa, vệ sinh đồ dùng; trang trí nhà bằng những chậu hoa Đào (miền Bắc), hoa Cúc (miền Trung), hoa Mai (miền Nam)... Người lớn lẫn trẻ em đều xúng xính trong những bộ đồ mới, mọi người cùng gạt bỏ hiềm khích, buồn đau, nợ nần để chào đón một năm mới bình yên, thịnh vượng.
Trong sự hiểu biết của mình, tôi cũng kể em nghe về sự tích bánh Chưng bánh Dày; tục thờ ông Táo, lễ dựng cây Nêu trước nhà; tục hái lộc đầu năm, xông đất ngày mùng 1, chúc thọ ông bà hay lệ mừng tuổi (lì xì), xin chữ cầu may.v.v... Tất cả, đều là những giá trị hiện sinh, thành quả của cả dân tộc Việt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Tết - vì vậy, không thể thiếu trong nếp ăn - ở của người Việt và người Việt mình cần duy trì lẫn phát huy những mỹ tục đẹp của Tết trong đời sống thực tại hôm nay.
Em chăm chú theo lời tôi kể rồi lại hỏi:
- Nhiều phong tục quá. Sao không gộp chung tết Tây với tết Ta làm một???
Tức thì... tôi nhe miệng cười, nhìn em rồi nói tiếp:
- Bỏ sao được “Tết cổ truyền” hả em? Lẽ nào lại từ bỏ chính nguồn cội, gốc rễ của dân tộc mình??? Cớ gì phải đánh đồng giữa Tết người và Tết ta??? Ai lại đi “Tây hóa” chính "bản sắc cổ truyền" của quê hương mình??? Nếu đánh mất những giá trị trầm tích của Tết Việt cũng chính là đánh mất đi lòng tự tôn, vẻ đẹp tâm hồn và bề dày văn hóa truyền thống của xứ sở mình.
Bởi có Tết mà văn hóa Việt được nuôi dưỡng và bảo tồn. Những phong tục ấy không chỉ có giá trị trong xã hội cũ, mà còn có vai trò quan trọng trong xã hội đương đại qua việc giáo dục đạo đức, tinh thần, lối sống của mỗi con người, mỗi gia đình...
Bởi có Tết mà niềm khát khao của con người về một cuộc sống tốt lành, một năm mới nhiều may mắn: có ý nghĩa lớn lao trong thế giới tâm linh của người Việt. Ngoài ra, ngày Tết còn khiến người với người xích lại gần nhau hơn, lòng người cũng rộng mở hơn trong những mối tình đồng bào, đồng chủng anh em...
Bởi có Tết mà triệu triệu người con xứ Việt, trong đó có cộng đồng người Việt ở hải ngoại, có cha mẹ em, có những người tha hương khắp dải đất Ét Xì (S) đều mong ước được về lại nơi "chôn nhau cắt rốn", về với gia đình, với miền ký ức của những ngày Tết tuổi thơ!.. Tết như vậy là tạm gác mọi lo toan, bộn bề lại một góc; là “tiếng gọi” trở về vang lên trong tâm khảm của mỗi người. TẾT sẽ không bao giờ trọn đầy khi xa cách, khi cô độc và khi không còn nơi để đi-về, em à!
Bởi có Tết mà người Việt mình vẫn còn tồn tại, vẫn độc lập riêng biệt trong nền văn hóa đa sắc màu của thế giới. Tết, Tết đến từ ngôn ngữ tiếng Việt của tất cả chúng ta; từ tà áo Dài thướt tha của Bà, của Mẹ, từ tấm áo The khăn đống của Ông và của Cha; từ cách bày mâm ngũ quả; bức tranh Đông Hồ “gà lợn nét tươi trong”; từ làn điệu Quan Họ “khách đến chơi nhà”, qua cánh Đào, nụ Mai trĩu lộc; mùi thơm bánh Tét Nam Bộ, hay những chuyến tàu nối 3 miền Trung - Bắc Nam.v.v... Tất cả, tất cả đều bình dị vậy nhưng lại hồn hậu, thân thương và thiêng liêng đến vô ngần.
Tôi vừa ngắt lời... em cười tươi rồi khoe ngay:
- A... em cũng thích mặc áo Dài, thích được mừng tuổi nữa. Ba em vẫn gói giò lụa, mẹ vẫn lau dọn nhà mỗi dịp tết. Thì ra, đó đều là những phong tục của Tết Việt!
Vâng! Với một hệ thống lễ nghi, tục lệ đa dạng và giàu ý nghĩa nhân văn, Tết Nguyên Đán đã trở thành ý thức hệ dân tộc, là “Di sản văn hóa phi vật thể” cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của con dân nước Việt chúng ta đấy mà? Vậy nên, lưu giữ Tết tồn tại trong nguyên giá trị của nó mới khó, còn một khi đã loại bỏ Tết - chúng ta sẽ chẳng bao giờ lấy lại được!!! Chúng ta rồi cũng dần biến mất mà thôi! Thêm nữa, những tập tục, những giá trị truyền thống của Tết Việt không thể áp dụng trong mỗi dịp Tết Tây. Đơn giản, vì những giá trị đó cần một không gian, một thời điểm để vận hành, một hệ tinh thần cốt lõi để thực hiện và luân chuyển. Nếu chúng ta phá vỡ không gian tinh thần và bản nề ý nghĩa của ngày Tết, cũng chính là phá vỡ những căn nguyên cần thiết để chúng còn tồn tại trong đời sống của chính mình đấy ư???
Kia... trời đất sẽ giao hòa làm một trong thời khắc giao thừa, cây cối cũng đua nhau cựa mình nảy lộc sau những ngày đông giá. Những phiên chợ quê cũng trở nên đông đúc hơn, những câu đối đỏ lại được treo trang trọng trong mỗi mái nhà, những ban thờ lại nghi ngút khói hương - cháu con tưởng nhớ Tiên tổ, những người cô người chị lại nô nức viếng chùa, những hội hè lại chuẩn bị khai mở chào đón muôn người vui trẩy trong tiết mưa xuân...
Thấy tôi cứ thao thao kể những “hương vị” Tết Việt, chợt... em cắt lời rồi nói:
- “Ồ! hay quá! Em sẽ theo cha mẹ về Việt Nam ăn tết, sẽ đọc thêm sách văn hóa Việt Nam...” Tôi nghe xong, nước mắt như trực chảy tràn trong vui sướng!.. Tiệc tan, tôi chia tay em và hẹn có ngày gặp lại.
Ơi... vậy là một MÙA XUÂN mới đang đến gần! Mùa của những khát khao và hy vọng mới. Mùa của con Lạc cháu Hồng khắp bốn biển năm châu cùng hành hương trở về đất Mẹ... “Mùa” mà tôi, em và hàng triệu người Việt lại được tắm gội trong các tập tục, giá trị văn hóa truyền thống đã ăn sâu trong huyết quản đọi máu của mình. Thế thì... nỡ nào lại bỏ Tết??? Bài trừ Tết??? Không cần Tết??? - Tết cổ truyền! Tết Dân tộc! Tết Quê hương! Tết của Nước non mình! TẾT VIỆT của NGƯỜI VIỆT.
(26 tháng Chạp, Nhâm Dần.
Thanh Phùng).
Nguồn bài viết : Đình Dũng.

Tất cả c