Thứ Hai, 14 tháng 11, 2022

Một Mẩu Chuyện Đời: BỨC MÀN BĂNG GIÁ

 Một Mẩu Chuyện Đời: BỨC MÀN BĂNG GIÁ ( Đào Ngọc Phong )

Tôi sắp kể chuyện đời tôi, một câu chuyện nhạt-nhẽo về một phụ nữ bình thường, và tầm thường; vì tôi chẳng có một tài năng gì đặc biệt, chẳng có một ước vọng gì cao cả, xa vời.
Năm nay tôi 80 tuổi, tức là sinh năm 1942, tuổi ngọ. Nhiều người nói nữ tuổi ngọ giỏi giang, nhưng bươn-chải, bôn- ba đường đời. Tôi chẳng bôn-ba đây đó, chẳng mạo hiểm kinh doanh làm giàu, chỉ yên phận với một ít tiền hưu. Ấy vậy mà suốt đời tôi cứ ray-rứt, không trọn vẹn được những việc bình thường, như một người con, một người vợ, một người mẹ, một người bạn, nói chi đến những bổn phận đối với dân tộc, với nhân loại. Đời tôi giống như một con thuyền nhỏ-nhoi giữa biển lớn, mà cha tôi là vì sao Bắc Đẩu, mẹ tôi là cái la-bàn, hai con tôi là thùng nước ngọt, bạn Johnny người Mỹ là tài công, còn chồng tôi lại là một loài thủy ngư đục thủng đáy thuyền. Tâm hồn tôi như một giải lụa trắng; chồng tôi như một vệt mực đen quệt ngang.
Khi tôi sinh ra năm 1942 tại Hà Nội, quân Nhật đã chiếm đóng toàn cõi Đông Dương, như lời mẹ tôi kể. Mẹ tôi lúc ấy mới hai mươi tuổi, bố tôi 22. Sau này đọc hồi ký của bố, tôi mới biết hồi đó bố mẹ tôi cùng hoạt động bí mật trong một tổ chức thanh niên chống cả Pháp, Nhật lẫn cộng sản. Hai người yêu nhau giữa những hiểm nguy của công tác. Ngoài đời, mẹ tôi đang học nghề y tá; bố tôi đã đậu tú tài Pháp, có năng khiếu hội họa, sinh sống bằng cách đi dạy học trường tư, viết và vẽ cho mấy tờ báo.
Đối với tôi, cuốn hồi ký của bố là một bảo vật vô giá, mà hơn mười năm nay tôi đã nâng niu, cẩn mật dịch ra tiếng Anh từng chữ từng câu, theo di nguyện của bố. Tôi đang đặt nó trên bàn trước cửa sổ, từ lầu hai một chung cư, nhìn xuống phố chợ đông đúc của Little Sài Gòn.
Căn hộ này, hai con tôi, một trai, một gái đã chung tiền mua cho mẹ ở một mình, dọn từ tiểu bang Pennsylvania về được ba năm rồi. Từ nơi ít người Việt, về đây tôi như được hồi sinh. Tôi cám ơn cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đã cho tôi sống những năm cuối đời giữa đồng hương, với sinh hoạt giống như vùng chợ Bàn Cờ của Sài Gòn xưa. Rẽ bên phải có phở, bún bò; quẹo bên trái có hủ tiếu, bánh cuốn; trước mặt có đậu hũ chiên hành, bắp nướng xối mỡ, sau lưng có bánh xèo, mì Quảng…Đến Mỹ từ tháng tư 75, tôi không thể tưởng tượng tôi đã sống gần nửa thế kỷ ở miền Đông vắng- vẻ giá lạnh.
Mặc dù ở tuổi tám mươi, tôi cảm thấy sức khỏe còn tốt, đi đứng vững- vàng, mắt vẫn còn đọc rõ chữ trên Internet. Tôi đang dịch chương cuối cùng cuốn hồi ký của bố. Cả một thời đen tối nhiễu nhương đầy thảm kịch, như một trích đoạn phim diễn ra trước mắt. Nhớ thương bố mẹ mà nước mắt chảy ròng- ròng, tôi khóc thoải mái như đứa trẻ lên ba giữa căn phòng xinh xắn, một mình.
Khi nạn đói 45, 46 xảy ra ở miền Bắc, tôi mới 4 tuổi, nhưng ký ức về những chuyến xe chở xác chết trên đường phố vẫn còn rõ nét mỗi khi nhớ lại.
Cuối năm 46, kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Bố đem hai mẹ con rời thành ra khu. Mẹ sung vào ban quân y, bố vào ban văn hóa, báo chí. Vì được đọc nhiều tài liệu sách báo cập nhật hàng ngày, nên bố hiểu rõ tình hình trong ngoài. Ngay từ những năm 48, 49, bố đã tinh tế nhận ra lý tưởng chiến đấu của bố trái ngược hẳn với ban lãnh đạo. Khi Mao Trạch Đông chiếm trọn Hoa Lục vào tháng 10- 1949, thì chiều hướng cách mạng kiểu Mao càng rõ nét.
Năm 1953, bố mẹ quyết định rời chiến khu, bỏ về thành. Nhưng chưa kịp ra đi cùng nhau, thì mẹ chết trong một trận bỏ bom. Bố chôn cất mẹ xong, dắt con gái 11 tuổi bí mật rong- ruổi trốn khỏi mạng lưới công an về lại Hà Nội, nhờ dân các làng đi qua che-chở. Các chiến hữu của bố vẫn hoạt động nội thành, sắp xếp cho bố đổi tên họ và đưa ngay vào Sài Gòn. Bố vốn họ Lý, bây giờ đổi thành Nguyễn.
Vào tới Sài Gòn, nhờ tổ chức hỗ trợ, bố mua một căn nhà nhỏ ở ngoại ô, lại đi dạy tư, viết và vẽ dưới những bút hiệu khác nhau. Căn nhà cốt cho tôi ở, còn bố di động ngủ nhiều nơi khác nhau.
Khi mẹ mất, bố mới có 33 tuổi, thế mà bố ở vậy suốt đời, nuôi con học hành đến nơi đến chốn. Tôi tốt nghiệp ban Anh ngữ Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, năm 1965, vào lúc mà người Mỹ bắt đầu đổ quân vào miền Nam; các cơ sở văn hóa Mỹ được thiết lập dưới nhiều dạng. Tôi dễ dàng xin được vào dạy tại Hội Việt Mỹ, tự túc sinh kế.
Bây giờ, tôi đã tự lập, nghĩ rằng bố sẽ nhẹ nhàng xong bổn phận, có thể lập gia đình với một cô bạn cùng làm trong tòa báo rất quý bố. Nhưng bố từ chối; đêm nào trước khi ngủ, bố cũng ngồi yên lặng trước bàn thờ mẹ cả tiếng đồng hồ. Tôi cũng rón- rén ngồi sau bố, nhìn ảnh mẹ mà nước mắt chảy dài.
Hồi học Văn Khoa, hình như có một định nghiệp gì mà tôi gặp một sinh viên ban Việt Hán; anh hơn tôi hai tuổi, viết chữ Nho rất đẹp, vì anh có năng khiếu hội họa. Có lẽ bố tôi là họa sĩ, nên khi gặp anh, tôi mến ngay và hai đứa đi đến tình yêu lúc nào không hay. Khi học xong cử nhân, anh cũng đi dạy tư như bố tôi. Hai năm sau chúng tôi thành hôn, và chúng tôi có hai đứa con sinh hai năm liên tiếp 70,71. Bố tôi vui lắm, hầu như các cháu ngoại làm vơi đi nỗi sầu muộn u uất mấy chục năm.
Nhưng cảnh đời bất trắc, như cơn giông ùa tới phá tan bầu trời trong xanh. Sau thảm họa Mậu Thân, chồng tôi bỗng có những lần vắng mặt cả tuần, nói với tôi, anh đang muốn tìm việc kinh doanh để có thêm tiền nuôi gia đình, chứ dạy học nghèo quá. Tôi mừng là anh biết lo gia đình, không hỏi han gì thêm.
Đầu năm 75, bố tôi gọi tôi ra phòng khách nói chuyện. Ông bảo tôi, con phải tính kế đi khỏi nước để cứu hai đứa trẻ; tình hình nguy cấp lắm, không thể để hai đứa sống trong cảnh khốn khổ sắp đến; phần bố đã có tính toán riêng với tổ chức của bố; bố theo dõi tin tức quốc tế rất sát, nên phải quyết định ngay. Tôi cũng thấy viễn tượng đen tối đang tới gần, nhưng chưa biết tính sao, vì chồng tôi cứ đi vắng hoài, không ngó ngàng gì đến nhà cửa, con cái. Kinh doanh gì nữa, lúc này.
Trong một buổi dạy tại Hội Việt Mỹ, giờ nghỉ tại phòng giáo sư, Johnny bỗng cầm ly cà phê đến mời tôi và xin được nói chuyện. Johnny tốt nghiệp cao học ban văn chương, theo phái bộ văn hoá Mỹ đến Việt Nam, làm trong ban giám học Hội Việt Mỹ. Tôi và anh, giờ nghỉ thường nói chuyện với nhau như bạn đồng nghiệp; anh rất đứng đắn, có tư cách trí thức, cũng hơn tôi hai tuổi. Chúng tôi bàn luận về văn chương Anh Mỹ rất tương đắc.
Hôm nay, vẻ mặt anh có vẻ nghiêm nghị, khác hẳn những ngày trước. Johnny dè dặt hỏi tôi, tình hình căng thẳng lắm, chị có tính rời khỏi Việt Nam không? Y như câu hỏi của bố tôi; anh ta ở trong ban giám học, chắc chắn anh ta hiểu rõ sự việc. Anh nói, chị nên quyết định sớm; khi chị nghĩ kỹ rồi, anh sẽ giúp cả gia đình đi ngay bằng máy bay.
Quả thật, đến đầu tháng tư thì sinh hoạt Hội Việt Mỹ có vẻ khác thường; hình như có dấu hiệu đóng cửa rồi; tâm trí tôi rối bời, gọi cho Johnny và nói đã quyết định cho gia đình tôi đi, hai vợ chồng, hai đứa con. Johnny sốt sắng lo giấy tờ ngay. Chồng tôi về với vẻ mặt căng thẳng, hỏi em sửa soạn đồ đạc đi đâu? Tôi báo anh tin mừng, đã nhờ Johnny lo máy bay sẵn sàng cho cả gia đình đi tuần sau. Chồng tôi ậm ừ vài tiếng rồi lại biến đi. Chiến trận tiến gần Sài Gòn; Trong lúc hỗn loạn, Johnny lái xe đến đón, thì chồng tôi không có mặt như lời hẹn. Vì hai con, như bố tôi nói, tôi phải quyết định dứt khoát không thể chần chờ, phải gạt nước mắt theo Johnny lên xe ra phi trường.
Thế là ba mẹ con đến Mỹ được một tuần thì tin Sài Gòn đã sụp đổ. Không một tin gì từ chồng tôi và bố tôi . Johnny tận tụy giúp ba mẹ con chỗ ăn ở đàng hoàng; lại giới thiệu tôi vào làm phụ giáo trong một trường trung học, vì vốn tiếng Anh có sẵn.
Tuy lương giáo chức khiêm tốn, nhưng sinh kế vững vàng giúp tôi nuôi hai con dần khôn lớn, mặc dù tâm hồn tôi gần như rã- rượi vì chờ trông bố và chồng vô vọng. Johnny chính là cứu tinh giúp tôi vượt qua bao gian- nan trong đời sống mới. Ròng- rã 15 năm khắc- khoải, có lần tôi tưởng đã ngã vào vòng tay Johnny khi anh bất ngờ tỏ tình; anh nói đã yêu tôi từ những ngày ở Hội Việt Mỹ.
Trong phút giây yếu đuối, bỗng hình ảnh bố tôi ngồi yên lặng mỗi đêm trước bàn thờ mẹ làm tôi hoảng sợ. Tôi quỳ xuống tạ ơn Johnny bao năm cưu mang mẹ con tôi, nhưng tôi chưa thể chấp nhận, mặc dù hình như hai con tôi, nay đã vào đại học, tỏ ra thương quý anh và đồng ý. Đó là vào năm 1990.
Một lần tôi đi siêu thị, bất ngờ nhìn thấy một phụ nữ trông quen quen. Tôi tiến đến nhìn mặt cô ta cho rõ; vừa thấy tôi, cô có ý lẩn tránh, rẽ qua lối khác, lẫn vào đám đông. Tôi cứ tiến đến chặn đầu, quả nhiên đó là người em họ chú bác của chồng tôi.
Cô ta đành phải dừng lại. Rồi bất ngờ cô ôm chầm lấy tôi khóc nức nở.
-Chị ơi, em qua theo diện kinh doanh vài tuần lễ. Chúng mình vô góc quán vắng này, em kể hết mọi chuyện cho chị nghe.
Số là, sau thảm họa Mậu Thân, chồng tôi trốn quân dịch, nhưng lại sa vào mạng lưới của cộng sản. Trong thời gian sinh hoạt bí mật, anh quen với một nữ đồng chí; hai người tằng tịu với nhau có một đứa con. Đó là thời gian chồng tôi nói dối tôi là làm kinh doanh. Khoảng năm 1974, cô ta có lệnh về Bắc, mang theo đứa con trai. Vào những ngày tháng tư 1975, anh được tin cô ta sẽ theo đoàn quân chính quy vào xâm chiếm miền Nam; vì thế anh cố ý ở lại chờ cô ta, không theo tôi đi Mỹ. Nhưng vài năm sau, cô ta bỏ anh, cả đứa con cũng không nhận anh là cha; về mặt chính trị, anh không được chế độ mới tin dùng; hiện giờ anh ấy sống vất- vưởng, thân tàn ma dại.
-Khi em sắp đi Mỹ, anh ấy gặp em, nói em cố tìm gặp chị, nói với chị là anh ấy xin quỳ xuống tạ tội cùng chị và hai con.
Cô ta vừa kể xong, tôi bỗng cảm thấy người tôi rũ xuống như không còn xương sống, tim tôi lạnh cứng như cục đá, một bức màn băng giá quây tròn quanh tôi, ngăn tôi với cuộc đời, với loài người. Tôi mơ hồ nghe cô ấy thét lên, nhiều người ùa tới; người ta khiêng tôi lên xe cứu thương. Không biết thời gian bao lâu, tôi mở mắt lờ- mờ thấy Johnny và hai con ngồi cạnh giường bệnh viện.
-Mẹ tỉnh rồi anh ơi, chú Johnny ơi!
Con gái tôi vui mừng reo lên. Tôi nằm bệnh viện vài bữa, được bác sĩ cho về nhà tĩnh dưỡng. Hai con đi học, một mình Johnny chăm sóc tôi. Anh chăm sóc tôi như một người chồng chung thủy; không…. , hơn một người chồng. Nhưng trong lòng tôi chỉ dâng lên một tình cảm kính ngưỡng anh như một vị thánh, mà không hề là một tình yêu nam nữ. Cái bức màn băng giá xuất hiện hôm trước trong siêu thị đã làm tê liệt mọi xúc cảm nam nữ trong tôi rồi. “Tha thứ cho em, Johnny. Em không thể nào trở thành một người vợ bình thường nữa”.
Khi thân xác tôi khỏe trở lại, tôi tự hứa sẽ không để cho tâm mình suy sụp như thế nữa. Tôi quyết định cho Johnny và hai con biết tất cả sự thực. Chúng tôi hẹn nhau cùng đi ăn tối tại một nhà hàng thanh lịch.
Tôi kể lại mọi sự, rồi nói thêm ngay :
-Bây giờ, người đàn ông đó không còn là gì đối với mẹ. Nhưng ông ta vẫn là bố ruột của hai con. Ông ta sống rất khổ cực; tùy các con xử sự.
Hai con tôi quyết định ngay, chỉ gởi một món tiền thích hợp để nuôi bố, mà sẽ không thư từ liên lạc. Lòng tôi thư thái nhẹ nhàng, đi dạy học trở lại với niềm tin vững mạnh vào cuộc sống. Tôi dùng nhiều cách để tìm bố tôi, nhưng tôi biết ông làm việc cẩn mật lắm. Tôi cho đăng trên nhiều báo một thứ mật hiệu mà chỉ hai bố con biết. Quả nhiên, vào năm 1993, khi hệ thống Liên Xô đã sụp đổ, tôi nhận được một cú điện thoại với số lạ :
-Hello, tôi muốn nói chuyện với bé…..
-Vâng tôi là bé…Xin lỗi ông là…
-Tôi là đàn em của cụ X….Cụ nói là cụ mừng lắm khi biết tin bé…Cụ đang sống ở một nơi an toàn. Khi nào bé cần gì, thì cứ gọi số này.
Tôi sung sướng như được hồi sinh. Tôi đã tìm được người cha kính yêu của tôi. Nhưng theo cách sống của bố, tôi không cho Johnny và hai con biết việc này.
Gần hai tháng, tôi không thấy Johnny gọi, tôi cảm thấy lòng tôi dậy lên một tình cảm nhớ nhung. Nguy quá, tôi phải tự trấn áp. Không, không thể bước vào sai lầm một lần nữa. Mỗi lần như vậy, tôi lại ngồi trước bàn thờ mẹ tôi, và nhìn vào bức tranh của họa sĩ Toulouse-Lautrec mà bố tôi rất thích, bức họa quảng cáo cho ca sĩ quán rượu Aristide Bruant năm 1892. Bức tranh này thay cho hình ảnh của bố, vì khi rời Việt Nam gấp quá tôi không kịp mang gì hết.
Mới đây, con gái tôi cho tôi biết chú Johnny tâm sự, đời chú chỉ có mẹ là người chú yêu, không lấy được mẹ, chú cũng không lấy ai; hai tháng nay chú đang dự một khóa thiền trong rừng. Tôi xúc động muốn khóc, nhưng nói với con gái rằng mẹ không thể nào sai lầm lần nữa; mai sau chú già, có việc gì các con phải đền ơn chú.
Năm 2000, tôi báo tin cho bố tôi biết hai cháu lập gia đình năm ngoái, năm nay đều sanh hai đứa chắt cho ông ngoại. Bố tôi cười sung sướng. Giọng cười của bố vẫn sang sảng. Nhưng không bao giờ tôi dám hỏi bố đang ở đâu. Được nói chuyện với bố là tôi hạnh phúc rồi.
Niềm vui lớn của tôi bây giờ là sau khi ở trường về, tôi săn sóc chơi đùa với hai cháu nội ngoại. Mùa hè năm 2005, tôi nhận một cú điện thoại vào nửa đêm:
-Hello, bé…tôi là đàn em của ông cụ. Cụ đã mất cách đây một tuần, chúng tôi đã lo tang lễ cho cụ hoàn toàn trang nghiêm với di huấn hỏa thiêu. Trước khi mất, cụ trao cho tôi một hộp, dặn dò sau đám tang mới gởi cho bé. Ngày mai bé sẽ nhận bằng bưu điện khẩn cấp, nhớ ở nhà đón nhận.Chúng tôi chỉ biết chia buồn cùng bé. Xin chào.
Tôi buông điện thoại, khóc òa. Các con cháu chạy ùa vào phòng, hoảng hốt. Tôi chỉ tay lên bức tranh của Toulouse Lautrec treo trên tường:
-Ông ngoại các con đã mất rồi, cách đây một tuần.
Các con tôi báo cho Johnny biết. Anh cư xử như một người con rể Việt Nam. Anh phân công ngay, sắp xếp các con đi mua sắm thức ăn đồ uống, để ngày mai làm một tang lễ đơn giản trong vòng gia đình.
Tôi hoàn toàn tê liệt, thụ động, chỉ ôm cái hộp di sản của bố nhận được sáng nay.
* ****
85 năm đời bố nằm trong cuốn hồi ký. Bố dặn dò tôi phải dịch ra tiếng Anh cho các con cháu đọc hiểu được, nhớ về cội nguồn dân tộc, nhưng trước hết là cội nguồn gia tộc họ Lý. Bố viết và vẽ bản đồ thôn làng, nơi mà bố đã chôn mẹ, dặn con cháu về tìm và bốc mộ cho mẹ, rồi hỏa thiêu. Bố cũng viết kỹ về quê nội, quê ngoại, dặn con cháu phải về trùng tu nhà thờ tổ. Đó là di chúc về những việc cụ thể; còn những chương sách phê phán những lý thuyết chính trị, xã hội, nhân sinh, tôi không mấy quan tâm, mặc dầu tôi cố gắng dịch thật sát.
Năm 2007, tôi chính thức về hưu. Tôi dành nửa thời gian chăm sóc hai cháu nội ngoại, nửa thời gian dịch cuốn hồi ký của bố, chỉ lo ngã bệnh hay qua đời giữa đường đứt gánh thì không chu toàn được di ngôn của bố.
Tôi nhận được một lá thư của Johnny gởi từ một thiền viện, chúc mừng tôi đã về hưu hưởng tuổi già. Anh nói lúc này anh mới yên tâm hoàn toàn, khi mẹ con tôi đã ổn định mọi mặt.
Kể từ năm này, anh sẽ ở luôn trong thiền viện như một tu sĩ. Anh viết, những việc anh làm cho ba mẹ con mấy chục năm nay, chỉ như hạt muối bỏ biển so với cả triệu sinh mạng người Việt chết trong tù cải tạo, trong rừng sâu, dưới biển mà “chúng tôi” có trách nhiệm.
Tôi không hiểu tại sao tôi đa cảm quá; đọc thư Johnny mà lòng thổn thức không nguôi.
"Johnny ơi, dù anh nói thế nào, em vẫn nợ anh một món nợ. Nếu kiếp này em chưa trả anh được món nợ phu thê, thì em nguyền hẹn anh vào một kiếp khác”.
Năm 2019, hai cháu nội ngoại của tôi đã vào đại học, hai con tôi bàn đưa mẹ về vùng Little Sài Gòn, California ấm áp, vui hưởng tuổi già trong cộng đồng đông đảo người Việt.
Bây giờ tôi đang ngồi trước bàn laptop, đánh máy những trang cuối cùng bản dịch hồi ký của bố. Sáng nay, tôi thấy nhẹ-nhõm, đã hoàn thành một phần di chúc; phần còn lại đành phải để cho con cháu tiếp tay thực hiện.
Điện thoại reo, con trai tôi báo cuối tuần tất cả con cháu sẽ bay về Cali làm lễ mừng mẹ thọ tám mươi.
Đào Ngọc Phong
LeVanQuy share từ FB chị MaiLan Hà
❤ ❤
Có thể là hình ảnh về chim cao cẳng, thiên nhiên và thủy vực
Nguồn bài viết : Thu Hương.

VÌ SAO MIỀN NAM VẪN CHƯA THÂN QUEN MIỀN BẮC

 VÌ SAO MIỀN NAM VẪN CHƯA THÂN QUEN MIỀN BẮC

Trịnh Hửu Long Luật Khoa
Sự khác biệt vùng miền là chuyện hết sức bình thường, ở nước nào cũng có. Nhưng để cho những sự khác biệt đó trở thành lối ứng xử kỳ thị vùng miền thì là đại họa, bởi nó là ngọn nguồn của bạo lực. Hiểu về những điều khác biệt đó để tìm ra cách ứng xử phù hợp, do vậy, trở nên đặc biệt quan trọng.
Sự khác biệt, và cả kỳ thị, mang tên Bắc Kỳ – Nam Kỳ là một câu chuyện bắt buộc phải có lời giải trong một cộng đồng dân tộc. Trong bài này, tôi xin chia sẻ một số hiểu biết rời rạc của bản thân nhằm giúp những người miền Bắc như tôi hiểu hơn về vài điều nhạy cảm về chính trị của miền Nam. Không có gì là tuyệt đối, tôi không quy chụp mọi thứ cho một vùng miền nào, nhưng có những khác biệt đáng kể mang tính phổ biến.
Tôi KHÔNG CỐ Ý LÊN ÁN những người miền Bắc thiếu tế nhị trong cách hành xử với người miền Nam, bởi chính tôi cũng chỉ học được những điều dưới đây khi ngấp nghé độ tuổi 30. Và tôi viết những điều này với ý thức rằng sự kỳ thị có thể đến từ cả hai phía. Không có tham vọng giải quyết hết được mọi vấn đề trong một bài viết, tôi mạn phép thảo luận chuyện này từ một góc còn ít được nói đến hiện nay.
❤️1. NGƯỜI MIỀN NAM NHÌN CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC KHÁC NGƯỜI MIỀN BẮC
💙Người miền Bắc
không có cách nào khác để nhìn nhận giai đoạn lịch sử 1954 – 1975 ngoài “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Họ coi việc đất nước bị chia cắt là không thể chấp nhận, coi Mỹ và chính quyền Sài Gòn là kẻ thù, và coi người dân miền Nam là những nạn nhân cần phải được “giải phóng”.
Nhưng mọi chuyện rất khác khi nhìn từ lăng kính của
💙 Người miền Nam.
Họ coi một nửa đất nước – miền Nam – là một quốc gia hoàn chỉnh có tên Việt Nam Cộng hòa (từ 1955). Góc nhìn này trùng khớp với góc nhìn của công pháp quốc tế.
Họ trân trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, quốc kỳ của Việt Nam Cộng hòa. Trong khi đó, lá cờ này lại bị xa lánh, kỳ thị ở miền Bắc.
Họ KHÔNG SỐNG VỚI LÝ TƯỞNG phải “giải phóng” miền Bắc.
Toàn bộ giai đoạn 1954 – 1975 là cuộc đấu tranh Họ gìn giữ miền Nam trước các cuộc “xâm lăng” và “khủng bố” của miền Bắc.
Nếu nghe lại các bài nhạc vàng, ta dễ thấy họ gọi quân miền Bắc là “giặc”, “quân thù”.
Rất nhiều người miền Nam đã mất mạng ngay trên đất miền Nam dưới nòng súng của miền Bắc, đặc biệt là trong trận Mậu Thân năm 1968.
Họ coi chính quyền Sài Gòn là chính quyền hợp pháp của họ. Họ kính trọng Tổng thống Ngô Đình Diệm của nền Đệ nhất Cộng hòa, họ lập ra Hiến pháp 1967 và bầu ra chính quyền Nguyễn Văn Thiệu của nền Đệ nhị Cộng hòa. Và mặc dù có rất nhiều bất đồng với các quan chức, họ không coi chính quyền đó là kẻ thù.
Họ coi Mỹ là đồng minh, là một đất nước tiến bộ. Thời Việt Nam Cộng hòa, người miền Nam coi việc đi Mỹ du học là một thành tựu lớn trong đời. Họ nhìn lính Mỹ ở miền Nam như những người bảo vệ họ trước miền Bắc, mặc dù có thể họ không hài lòng với việc có quân đội ngoại quốc trên đất Việt Nam.
Khác với niềm tin mãnh liệt của người miền Bắc thời kỳ đó, người miền Nam không có nhu cầu được giải phóng. Họ có một nền kinh tế, giáo dục, kỹ nghệ, nông nghiệp phát triển hơn hẳn miền Bắc. Và đặc biệt, họ có thứ tự do chính trị mà chính Hồ Chí Minh đã tuyên xưng tranh đấu nhưng lại hoàn toàn vắng bóng ở miền Bắc.
Ngày 30/4/1975 với phần lớn người miền Nam là ngày “mất nước” và là ngày bắt đầu một chuỗi bi kịch khổng lồ.
❤️2. NGƯỜI MIỀN NAM BỊ TRUY BỨC VỀ CHÍNH TRỊ SAU 1975
Sau ngày mà người miền Bắc gọi là “giải phóng miền Nam”, người miền Nam bắt đầu BỊ TRUY BỨC VỀ CHÍNH TRỊ.
Những ai từng đi lính hay làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (kể cả giáo viên) đều bị đưa đi trại cải tạo.
Gọi là trại cải tạo (re-education camp) nhưng về bản chất không khác gì các trại tập trung (concentration camp) của phát-xít Đức ngày xưa. Có đến 21 trại cải tạo được lập ra sau chiến tranh, giam giữ khoảng 300 nghìn người, trực tiếp ảnh hưởng tới hàng triệu người khác.
Người miền Nam bị bắt vào đây mà hoàn toàn KHÔNG QUA bất kỳ một PHIÊN TÒA nào.
Họ phải lao động khổ sai. Rất nhiều người đã chết ở đây, suy kiệt sức khỏe và tinh thần ở đây. Họ bị giam giữ hàng năm, thậm chí hơn mười năm trời mà không được, hoặc rất ít khi được gặp gia đình. Những ai sống sót trở về thì gia đình hoặc là cũng đã ly tán, hoặc là khánh kiệt, bị chính quyền mới phân biệt đối xử, gặp khó dễ khi làm giấy tờ, con cái không được đi học đại học,
Nhìn chung đã rơi xuống đáy xã hội.
Người miền Bắc hay đùa cợt về việc “đi cải tạo”, biến nó thành một thành ngữ mà không cân nhắc kỹ đến bi kịch khủng khiếp này của hàng triệu người miền Nam. Với người miền Nam ngày nay, “đi cải tạo” vĩnh viễn là MỘT CƠN ÁC MỘNG, một nỗi đau không bao giờ dứt.
❤️3. NGƯỜI MIỀN NAM BỊ BẦN CÙNG HÓA SAU NĂM 1975
Sau khi “giải phóng” xong, chính quyền mới áp đặt nền KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA, tập thể hóa lên toàn miền Nam.
Ngày nay, chúng ta biết rằng đó là một thảm họa kinh tế đã dẫn toàn bộ đất nước tới khủng hoảng trầm trọng và ngấp nghé bờ vực sụp đổ vào thập niên 1980. Cuộc khủng hoảng đó nghiêm trọng tới nỗi Đảng Cộng sản PHẢI THỪA NHẬN SAI LẦM
Và TỪ BỎ giáo điều kinh tế Mác – Lê-nin để “đổi mới”, CHUYỂN SANG KINH TẾ TƯ BẢN chủ nghĩa, mà ngày nay họ gọi là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cái nền kinh tế thị trường ngày nay, trên thực tế, đã từng là một hiện thực ở miền Nam trước năm 1975. Chuyện mở công ty làm ăn, phát hành cổ phiếu, giao thương với nước ngoài, tiếp nhận các nhà đầu tư nước ngoài ĐÓ là chuyện hết sức bình thường.
Với một nền kinh tế thị trường tự do như vậy, miền Nam đã có các đô thị thịnh vượng. Mặc dù mức sống ở nông thôn còn thấp nhưng không đến mức đói khổ như miền Bắc, và cơ hội làm giàu luôn hiện hữu, khác với miền Bắc coi làm giàu là chuyện sai trái.
Người miền Nam sau năm 1975 như bị đẩy xuống vực sâu, bởi tài sản của họ bị tịch thu, doanh nghiệp phải đóng cửa, việc làm ăn buôn bán bị cấm đoán, hàng hóa tắc nghẽn vì ngăn sông cấm chợ, đường nhựa ở đô thị bị cày lên trồng khoai, rất nhiều người bị đưa đi các vùng kinh tế mới, v.v.
Cùng với nạn truy bức chính trị thì việc bị bần cùng hóa về kinh tế như vậy càng làm dày thêm tấn bi kịch của họ.
❤️4. NGƯỜI MIỀN NAM PHẢI LIỀU MẠNG BỎ NƯỚC RA ĐI
Người miền Bắc hay đùa cợt chuyện “vượt biên” nhưng không biết gì đáng kể về phong trào vượt biên ở miền Nam sau năm 1975.
Vì bị truy bức chính trị, bị bần cùng hóa về kinh tế, và bị phân biệt đối xử nặng nề, rất nhiều người miền Nam đã đi đến một quyết định táo bạo, và với họ là quyết định duy nhất hợp lý: liều mạng vượt biên đi tìm một cuộc sống mới.
Ước tính có hơn một triệu người đã vượt biển bằng thuyền với hy vọng được tàu nước ngoài cứu hoặc đến được với bờ biển của các nước, vùng lãnh thổ láng giềng như Philippines, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Hong Kong. Họ trở thành một hiện tượng lịch sử, một thảm họa nhân đạo có tên “Thuyền nhân Việt Nam” (Vietnamese Boat People).
Hàng trăm ngàn người trong số họ chết trên biển. Số còn lại đạt được mục đích và sau này đi định cư ở các nước như Mỹ, Canada, Úc và một số nước châu Âu. Một số ít khác đến Ấn Độ, Nhật, tùy thuộc vào việc họ được tàu nước nào cứu. Họ ngày nay trở thành phần lớn của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Một số khác thì vượt biên đường bộ sang Campuchia rồi tới Thái Lan. Số này không nhiều bằng thuyền nhân.
Khi ra đi, họ mang tâm thế rằng nếu đi được sẽ liên lạc về gia đình, gửi tiền về nuôi gia đình, và nếu thuận lợi thì sẽ tìm cách đưa gia đình ra nước ngoài. Thực tế là sau khi đã định cư được ở các nước tự do, họ đã làm thủ tục bảo lãnh đưa gia đình sang.
“Tị nạn” là một từ hay bị mang ra để chế giễu ở miền Bắc, nhưng họ không biết rằng với hàng triệu người miền Nam, đi tị nạn từng là lối thoát duy nhất cho cuộc sống của họ.
❤️5. BI KICH CỦA NGƯỜI MIỀN NAM CHƯA BAO GIỜ ĐƯỢC THỪA NHẬN
Tất cả những bi kịch khổng lồ như vậy của người miền Nam chưa bao giờ được thừa nhận
Chứ chưa nói gì đến một lời xin lỗi từ chính quyền.
-Họ không được thừa nhận là đã bị truy bức chính trị.
-Họ không được thừa nhận là đã bị cướp mất kế sinh nhai.
-Họ không được thừa nhận là đã bị phân biệt đối xử nặng nề.
-Họ không được thừa nhận là ĐÃ BỊ ÉP vào đường cùng PHSIR LIỀU MẠNG bỏ Tổ quốc ra đi.
Không những không được thừa nhận, không được xin lỗi, năm nào người miền Nam cũng phải chịu đựng những lời ngợi ca “chiến thắng 30/4”. Nghĩa trang quân nhân Việt Nam Cộng hòa không có mấy ai chăm sóc, bị hoang hóa đi theo thời gian. Thương phế binh Việt Nam Cộng hòa bị chính quyền bỏ mặc, phải nương tựa vào nhau và vào sự hỗ trợ của cộng đồng. Trong khi đó, những người miền Nam xưa kia bỏ nước ra đi giờ đây đang gửi mỗi năm hàng chục tỷ đô-la tiền mặt về nước (trong tổng số kiều hối năm 2020 là 17,2 tỷ USD).
Với chừng ấy vết thương mà lịch sử để lại, người miền Nam trở nên ĐẶC BIỆT NHẠY CẢM với hàng loạt từ, ngữ, diễn ngôn chính trị cũng như cách hành xử.
Người miền Bắc nên biết rằng những vết thương này chưa bao giờ được vá lại và nên chọn lấy cách ứng xử phù hợp nhất trong cả lời nói lẫn hành động.

Chủ Nhật, 13 tháng 11, 2022

CHẾT THAY CHO NGƯỜI.

 NĂM 1919

Nội chiến ở Liên Xô.
Gần điền trang cũ của một gia đình Bá tước, có một trung đoàn Hồng quân dừng nghỉ đêm.
Đêm khuya, nghe tiếng gõ cửa, nữ bá tước mở cửa và thấy một cô y tá đang đứng ở ngưỡng cửa.
- Chào bà, cô y tá nói: -Tôi tình cờ nhìn thấy họ lập “Danh sách kẻ thù của nhân dân”. Bà sẽ bị bắt vào đêm nay. Nếu bà không chạy thoát thì bà sẽ bị bắn!
- Tôi có thể chạy đi đâu được? Tôi có hai con nhỏ, một đứa đang bị bệnh nặng. Họ sẽ chặn bắt tôi ở ngay ngã tư đầu tiên.
- Tôi biết cần phải làm gì. Khi họ tới, tôi sẽ xưng bằng tên của bà. Như vậy họ sẽ bắn tôi và không tìm kiếm bà nữa.
- Sao cô lại làm điều này?!
- Tôi bị bệnh rất nặng khi còn nhỏ. Và tôi đã thề với Chúa rằng nếu Chúa ban cho tôi sức khỏe thì tôi sẽ dâng mình cho Chúa. Năm mười tám tuổi, tôi trở vào tu viện. Khi cách mạng đến, tu viện bị đóng cửa, các nữ tu sĩ bị giải tán. Tôi trở thành y tá cho những người Bolshevik. Tuy nhiên, tôi cảm thấy rằng tôi chưa hoàn thành lời thề của mình…
- Xin bà hãy chấp nhận lời đề nghị của tôi. Bà có con cái, bà cần cuộc sống trần thế hơn tôi. Đối với tôi, sự sống là Đấng Christ, và cái chết là có ích.
Nghe cô gái nói vậy, nữ bá tước bật khóc.
Một năm đã trôi qua. Người nữ y tá bị xử bắn, và nữ bá tước trốn thoát sang Pháp cùng các con.
Người phụ nữ có học thức và xinh đẹp xuất thân từ một gia đình quý tộc này đã nhận làm một công việc như một y tá tại một bệnh viện tỉnh lẻ. Dù nhận được những lời mời hấp dẫn cho những việc làm phù hợp, lương cao, nhưng bà đã từ chối tất cả.
Một nữ nhà báo Pháp đã phỏng vấn nữ bá tước Nga. Những lời nói của bà đã khiến người phụ nữ Pháp này vô cùng sốc. "Tại sao bà lại nhận công việc khó khăn và thấp hèn này?" nhà báo hỏi.
- Có một người con gái đã hy sinh cả cuộc đời của mình cho tôi và các con tôi. Tôi biết rằng cô gái hiện ở với Chúa trên thiên đường, và đang nhìn tôi. Tôi muốn cô ấy biết rằng cô đã không đổ máu cho cho hạnh phúc ích kỷ của tôi. Tôi cảm thấy rằng bằng cách nào đó tôi phải đáp lại hành động của cô gái đó, vì vậy tôi quyết định tiếp tục cuộc sống của cô.
(Nguồn mạng-Svi Doan st.& dịch).
Có thể là tác phẩm nghệ thuật về 1 người
Nguồn bài viết: Đình Dũng.

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2022

 Bài Suy Niệm 185. CN33TN C.

13.11.2022
Kính Trọng Thể Các Thánh Tử Đạo
Tại Việt Nam.
Bài Tin Mừng : Lc 19,23-26
( Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình.)
TỬ VÌ ĐẠO LÀ CHẾT VÌ KHÔNG CHỊU
BỎ ĐẠO !
1. Theo lịch Hội Thánh trên cả thế giới thì ngày 24.11 hằng năm là lễ “Thánh An-rê Dũng Lạc, linh mục và các Bạn Tử Đạo tại Việt Nam “. Lễ này cũng là lễ Bổn Mạng Hội Thánh Việt Nam.
Nếu lễ này mà nhằm ngày trong tuần thì lại được dời vào ngày Chúa Nhật để đông đảo giáo dân có thể tham dự. Năm nay lễ này được mừng vào ngày CN 33 Thường Niên, ngày 13.11.2022.
2. “ Trong lịch sử Công giáo tại Việt Nam, suốt hai thế kỷ bị bách hại, sổ sách đã ghi tên hơn một trăm ngàn người đã chết vì đạo, với 58 giám mục và linh mục ngoại quốc, 150 linh mục Việt Nam, 340 thầy giảng, 1 chủng sinh, 270 nữ tu Dòng Mến Thánh Giá và 99.182 giáo dân. Đã có 117 vị được phong hiển thánh ngày 19.6.1988 “ (Giám Mục Anton Vũ Huy Chương).
3. 117 vị Thánh Tử Đạo tại nước Việt Nam :
- 11 người Tây ban nha, dòng Đaminh: 6 giám mục và 5 linh mục.
- 10 người Pháp, Hội Thừa Sai Paris:
2 giám mục, 8 linh mục.
-96 người Việt Nam: 37 linh mục,17 thầy giảng, 42 giáo dân.
Các Ngài tử đạo vào các thời:
* Trịnh Doanh (1740-1767) : 2 vị.
* Trịnh Sâm (1767-1782): 2 vị.
* Cảnh Thịnh (1782-1802): 2 vị.
* Mình Mạng (1820-1840) : 58 vị.
* Thiệu Trị (1840-1847) : 3 vị.
* Tự Đức (1847-1883) : 50 vị.
Các Ngài đã bị :
* Xử trảm (chặt đầu) : 75 vị.
* Xử giảo (thắt cổ) : 22 vị
* Thiêu sống : 6 vị
* Voi dày, ngựa kéo: 5 vị
* Chết rũ tù hay bị tra tấn: 9 vị
(Thầy Giảng An-rê Phú yên bị xử trảm ngày 26.7.1644, ĐGH Gioan-Phaolo 2 tôn phong thầy lên Bậc Chân Phước ngày 5.3.2000 tại Roma) .
4. Một chuyện trong hàng ngàn chuyện chết vì đạo :
Cha Phaolo Lê đình Bang, (1881-1945) gốc Nhà Đá của mình, ngài là linh mục địa phận Kontum, viết lại câu chuyện thương tâm này: “Hồi Văn Thân (1883), các giáo dân thuộc địa sở Nhà Đá như Suối Nổ, Mương Lở ( Hoà Mục) , Bình Sơn, Gò Đồng . . . đều tập trung về xứ chính, cố Lựu (Hamon) là cha xứ Nhà Đá từ 1882 đến 1908, sẽ lo tổ chức dẫn về Qui Nhơn để lánh nạn. Ở Suối Nổ có một bà tên Hiên mang thai gần ngày, nên hồi lên Nhà Đá ( cách nhà bà chừng 6 cây số) thì bà không đi đặng. Chồng bà không nỡ bỏ vợ một mình, nên đều ở lại với hai đứa con nhỏ. Văn Thân tới bắt chồng và hai đứa con, trói và thiêu sống ! Còn bà thì nó không thiêu, song chặt đầu, bà chết rồi thì con trong bụng còn máy, tức thì chúng nó lấy dao mổ ruột, xách đứa con ra, đem bỏ trong cối mà đâm cho nát. Ôi ! Không có quỷ giục, thì không lẽ gì người ta thù ghét kẻ có đạo như vậy! “
Cha Ban là một nhà văn, năm 1933, ngài và cha Simon Thiệt viết cuốn “Mở Đạo Kontum” rất có giá trị về sử liệu truyền giáo Kontum.
5. Thời bắt đạo là hàng hơn 200 năm, những người có đạo phải chịu trăm bề khổ cực :
- Thứ nhứt là phải sống chui sống nhủi trong rừng trong núi, chẳng hạn như Nhà Đá mình có tên đầu tiên là Truông Dốc, nơi khỉ ho cò gáy để giữ đức tin. Nếu chẳng may bị phát hiện, nhất là thời Văn Thân, thì phải bị giết chết rất thảm thương, khi thì tất cả lớn bé trẻ già bị bỏ giếng rồi chất bổi lên mà đốt ! Có khi như ở Bà Rịa bị nhốt chung rồi đốt nhà cho chết hết ! Lịch sử ghi rất nhiều nơi như vậy trong cả nước.
- Thứ hai là nếu chẳng may bị phát hiện thì nhà quan lấy con dấu sắt đã được nung đỏ có chữ “tả đạo” rồi áp vào má người có đạo. Hai chữ này theo họ cho tới chết ! Phải chăng đó là dấu chỉ của con cái Chúa ?
- Thứ ba thương tâm nhất là nạn “Phân Sáp” : Nhà quan có quyền chia ly các gia đình có đạo, chồng ở một nơi, vợ ở một nẻo , con cái bị cho ở nhiều chỗ. Chồng không biết vợ mình ở đâu, vợ không biết chồng mình ở đâu. Cha mẹ không biết con cái mình ở đâu, anh chị em ruột không biết anh chị em mình ở chỗ nào ! Như vậy có tàn ác không ? Người có đạo đâu có làm gì nên tội để phải bị như vậy ? Nghe nói hai chị em bà nội của mình cũng bị phân sáp được cố Lựu chuộc về, và ở nhà mồ côi cho đến khi lập gia đình.
6. Suốt 2.000 năm của lịch sử Hội thánh Công giáo khởi đầu từ Chúa Giêsu bị giết chết cho đến tận hôm nay, hàng ngàn người, hàng vạn người, hàng triệu người… trên cả và thế giới đã anh dũng chết vì niềm tin của mình. Máu của các Thánh tử vì đạo là hạt giống gieo nên người có đạo.
Lạy các Thánh tử đạo Việt Nam xin cầu bầu cùng Chúa cho mọi người Việt Nam ơn biết Chúa, xin cho các nhà lãnh đạo của đất nước chúng con biết cai trị dân chúng trong tinh thần yêu thương và biết tôn trọng quyền lợi của con người. Amen
Nguồn bài viết: Lm. Phêrô Nguyễn Văn Đông.

 Ngô Đình Diệm - Một Nhân Cách Lớn…

(Bài đăng lại nhân 59 năm, ngày Tổng thống Ngô Đình Diệm bị sát hại)
Một con người bình thường thì ai cũng có một “nhân cách” và có điều những nhân cách khác nhau do sự đánh giá qua thể hiện của con người đó. Một con người làm chính trị, quân sự, văn học, nghệ thuật … đều có những nhân cách riêng theo cái “nghề” mà họ đã chọn…
Một con người “làm chính trị” thì cái nhân cách lại càng quan trọng và sự đánh giá nhân cách của họ là do chính dân tộc họ quyết định. Họ rất hiểu điều này vì họ chính là “người của công chúng”, họ cũng có nhiều đối thủ và cũng không phải không có kẻ thù luôn “soi” vào từng hành động, lời nói, ứng xử mà các phương tiện thông tin đại chúng vẫn thường hay đề cập đến họ…
Một nguyên thủ quốc gia lại càng đòi hỏi có một “nhân cách đặc biệt” hơn những “chính trị gia” bình thường khác vì họ là đại diện cho cả một quốc gia và dân tộc. Họ là hiện thân của “quốc hồn, quốc túy” nếu có thể gọi là như vậy!
Lịch sử như một dòng chảy lạnh lùng và thời gian chẳng bao giờ lấy lại được nhưng nếu “ngược dòng lịch sử” để chúng ta bình tâm “soi” lại các nhân vật lịch sử, dẫu họ là người “thiên cổ” nhưng lớp hậu sinh chúng ta có những lúc cần phải đánh giá “công- tội” một cách khách quan.
Lẽ thường tình thì “Thắng làm vua, thua làm giặc”, thiên hạ thì “phù thịnh chứ không ai phù suy”… nhưng lịch sử cần phải công bằng trong đánh giá, nhất là đánh giá về nhân cách của những lớp tiền bối, có vai trò hệ trọng trong lịch sử…
Miền Nam Việt Nam thời Đệ Nhất Cộng hòa do ông Ngô Đình Diệm làm Tổng thống trong thời điểm hiện nay rất được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử khai thác và phân tích nhất là “nhân cách và cái chết” của Ông Diệm.
Bỏ qua những yếu tố tuyên truyền, xuyên tạc và bôi nhọ lúc đó nhất là lúc ông Diệm bị “thảm sát” bởi đám “tay chân” của ngoại bang vào năm 1963, các nhà nghiên cứu khai thác qua các tư liệu trong và ngoài nước, của các người thân cận và đối thủ, kẻ thù của ông Diệm thì đánh giá chung nhất là ông Diệm có cuộc sống “khổ hạnh và khắc kỷ”, “Lời nói và Nhân cách” xứng đáng của một vị Tổng thống.
Lịch sử cũng ghi nhận ông Diệm là người xuất thân Nho học, được học hành từ Mỹ, được người Mỹ đưa về nước “tham chính” trong một giai đoạn đất nước phân tranh hai miền nhưng có thể nói là ông là một “nhân sĩ”, một “chí sĩ” có một nhân cách và tinh thần dân tộc mà lớp “hậu sinh” ngày này chắc khó lòng có được!
Những đối thủ, kẻ thù chính trị của ông thường cho rằng ông Diệm là một nhà cai trị “độc tài, gia đình trị” … để tìm cách bôi nhọ, hạ thấp uy tín và nằm trong mưu đồ “hạ bệ “ ông theo một lộ trình nhất định nào đó…
Nhưng những tài liệu được “giải mã” gần đây cho thấy ông Diệm bị chính người Mỹ sát hại chỉ vì cái chất “sĩ” khảng khái, “uy vũ bất năng khuất” này…
Trên cương vị một Tổng thống một quốc gia độc lập mặc dù là đồng minh của Hoa Kỳ nhưng ông Ngô Đình Diệm đã cương quyết không chấp nhận bốn yêu sách của chính quyền John Fitzgerald Kennedy thông qua Đại sứ Henry Cabot Lodge tại VNCH:
- Miền Nam Việt Nam phải nhường hải cảng Cam Ranh cho Hoa Kỳ 99 năm.
- Chấp thuận cho Hoa Kỳ đưa 200.000 quân vào miền Nam Việt Nam
- Đặt Bộ Quốc Phòng VNCH dưới quyền chỉ huy của Quân Đội Hoa Kỳ.
- Phải đưa ông cố vấn Ngô Đình Nhu ra nước ngoài.
Và cũng với tinh thần độc lập dân tộc và tính khảng khái của một nguyên thủ quốc gia có “nhân cách lớn” mà ông Diệm cùng bào đệ Ngô Đình Nhu bị “thảm sát” vào ngày 02/11/1963 dưới bàn tay của đám tướng tá đảo chính mà người giật dây không ai khác là Mỹ.
Nếu tin vào “quả báo” thì sau khi “hạ thủ” Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm chỉ 20 ngày sau tức ngày 22/11/1963 chính Tổng thống John Fitzgerald Kennedy cũng bị người khác sát hại!
Trước những thời khắc diễn ra cuộc đảo chính của nhóm “Quân nhân Cách mạng” vào ngày 01/11/1963, khi Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge đề nghị Tổng thống Ngô Đình Diệm ra đi để bảo tòan tính mạng, ông Diệm vẫn tỏ ra can đảm và bất khuất, lớn tiếng nói thẳng với Cabot Lodge rằng:
“Ông Đại sứ có biết ngài đang nói chuyện với ai không? Tôi xin ngài biết cho rằng, ngài đang nói chuyện với Tổng thống của một nước độc lập có chủ quyền. Tôi không bỏ dân tộc tôi. Tôi chỉ rời nước tôi, nếu đó là ý muốn của toàn dân tôi. Tôi sẽ không ra đi theo lời yêu cầu của ông Đại sứ và của các tướng làm loạn. Chính phủ Hoa Kỳ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước thế giới về vấn nạn khốn nạn này.”
Thời kỳ tương đối thanh bình với “gạo trắng nước trong”, “giã gạo đêm trăng” … ở miền Nam Việt Nam qua mau khi sau cái chết của ông Diệm một năm thì đến 1965, quân đội Mỹ ồ ạt đổ bộ vào miền Nam và cuộc chiến tranh hai miền kéo dài hơn 10 năm trời nữa với bao tàn phá vật chất, tinh thần, sinh mệnh của cả hai miền!
Lịch sử và nhiều nhà phân tích cũng nhận định về sự kiện này, cho rằng người Mỹ quá “ngu” khi giết hại ông Diệm, giết hại một người có tinh thần quốc gia dân tộc để giành quyền điều khiển chiến tranh “chống lại chủ nghĩa Cộng sản” tại “tiền đồn của Thế giới tự do” này!
Sự “thay ngựa giữa dòng” của người Mỹ rốt cuộc không thể nào tìm người điều hành quốc gia VNCH hữu hiệu hơn ông Diệm và hệ lụy tất yếu của sự sụp đổ của thể chế dân chủ ở miền Nam vào ngày 30/4/1975 mà “Chính phủ Hoa Kỳ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước thế giới về vấn nạn khốn nạn này.”
Hoài Nguyễn - 02/11/2022
Có thể là hình ảnh về 14 người và mọi người đang đứng