Nhà văn Aziz Nesin và Những Người Thích Đùa
LGT: Trong những năm qua làm quen với mạng xã hội Facebook, có lẽ người Việt chúng ta chứng kiến qua những đăng tải trên mạng này nhiều vô kể những câu chuyện về đủ thứ dạng, hạng người trên thế giới và trong đất nước mà khi xem, đọc xong thì không biết nên khóc hay cười!
Mấy ngày nay mạng xã hội tiếp tục nóng lên với sự kiện các “Hiệp sĩ đường phố”, với chuyện lão già “ấu dâm” với đủ thứ chuyện “lá cải, lá đa...” và tôi cũng xem thoáng qua với những bài viết rất thật nhưng cứ như là đùa!
Tự dưng nhớ những câu chuyện ngắn đã đọc rất lâu rồi trong tập truyện ngắn “Những người thích đùa” của nhà văn trào phúng Aziz Nesin...
Aziz Nesin tên khai sinh Mehmet Nusret Nesin (20.12.1915 - 06.7.1995), là một trong những nhà văn trào phúng nổi tiếng của Thổ Nhĩ Kỳ. Với ngòi bút sắc sảo, lối nói chuyện hóm hỉnh nhưng không kém phần sâu cay đã đưa tên tuổi của ông lên tới đỉnh cao văn học. Ông là tác giả của hơn 1000 cuốn sách đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng. Đến với bạn đọc Việt Nam truyện ngắn của ông vẫn rất gần gũi và thân thuộc
Đọc truyện của Aziz Nesin, ta có thể nhận thấy tiếng cười của ông rất sắc nhọn khi đả kích, châm biếm bọn cầm quyền thống trị đạo đức giả; và cũng nhận thấy tiếng cười của ông thật hiền lành, nhân hậu khi nói về những thói hư tật xấu của con người trong cuộc sống hàng ngày, những chuyện vặt vãnh đáng yêu của con người.
Ông đã vẽ nên một bức biếm họa về xã hội ở quê hương ông nhưng cũng rất giống với nhiều quốc gia khác trong đó có Việt Nam.
Những truyện ngắn trào phúng đặc sắc nhất của Aziz Nesin đã được chọn lọc, tập hợp trong cuốn "Những người thích đùa" với 26 truyện ngắn, đem lại cho người đọc những tiếng cười sảng khoái nhưng không kém phần sâu sắc.
Ở các tác phẩm trào phúng của ông, người đọc cảm nhận được cái hài hước, cái châm biếm sâu cay mà hiếm tác giả nào làm được. Khóc mà cười, cười mà lại trào nước mắt - những câu chuyện chỉ có thể là của Aziz Nesin. Đôi khi đọc sách của ông người ta rơi vào trạng thái không biết nên khóc hay nên cười.
Aziz Nesin tin rằng nhà văn trào phúng như người khổng lồ có sứ mệnh nâng đỡ cả thế giới, những câu chuyện của ông không viết ra chỉ để cười. Ông không viết những truyện cười vô thưởng vô phạt. Ông viết để xóa đi những bất công, phi lý trong xã hội con người, giúp con người sống tốt hơn.
Nếu có điều kiện, tôi sẽ giới thiệu cho các bạn những truyện ngắn trong tập truyện ngắn này để chúng suy ngẫm về xã hội chúng ta đang sống ...
Hoài Nguyễn - 18/5/2018
--------------------------------
Nghĩa Vụ Đối Với Tổ Quốc
Truyện ngắn Aziz Nesin
***
Cả trại giam xôn xao về cái tin ấy.
-Này, các đằng ấy đã biết tin gì chưa? Ichxan Vadelin đang ở đây đấy!
-Làm gì có chuyện!
-Tớ nói điêu tớ làm con chó!
-Hắn đã "đoạn" từ lâu rồi kia mà!
-Lại còn mở tiệm cà phê đàng hoàng nữa chứ?
-Cóc tin được! Cậu nói láo!
-Tớ nói láo tớ chết! Người ta mới giải hắn về hồi chiều, bằng tàu chở thư mà! Giải từ Aidilie về. Chính tớ nhìn thấy hắn ở dưới sân. Hắn tắm ở nhà tắm xong bị dẫn về biệt khám.
-Thế đấy! Đã tưởng dứt được rồi, thế nào mà bỗng dưng lại bị tóm gáy điệu về ở với cánh ta không biết?
-Nhưng Ichxan Vadelin là ai vậy?
-Các chú mày còn nhóc con nên không biết hắn. Hồi hắn còn làm ăn, các chú mày hãy còn bú tí mẹ! Tao quen hắn từ hồi ở Mactreckhan kia! Hồi ấy trại giam này chưa có. Mới có trại Mactreckhan thôi! Bọn ta được ngồi ở đó.
-Hồi ấy phải nói hắn nhanh thật!
Ichxan phải nằm ở biệt khám hai tuần, rồi được chuyển sang khu 2. Đó là khu giam các phạm nhân đặc ân, những kẻ tái phạm cũ biết rõ hắn.
-Chào người anh em!
Một người vừa đun xong trà trên một cái hỏa lò. Ichxan Vadelin sỗ sàng quăng tờ giấy một00 xuống khay. Người ta lại bắt đầu đun một ấm trà ngon nữa.
Người ngồi trước mặt Ichxan Vadelin là Nuri - bị kết án 60 năm tù về tội tham ô. Nuri mặc một chiếc áo choàng màu mận chín trông hết sức sang trọng. Ichxan Vadelin - chạc 50 tuổi - chỉ chuyện trò với mỗi mình, dường như không nhìn thấy ai xung quanh nữa.
-Thế đầu đuôi làm sao hả Ichxan?
-Tôi kể ra chỉ sợ anh không tin, cho tôi là nói phét. Vì chính tôi cũng thấy chuyện này thật khó tin. Ai chứ tôi thì, chắc anh biết đấy, đã như chim bị đạn rồi! Lạy chúa! Năm nay tôi đã 50 tuổi đầu, tóc đã bạc, vậy mà chưa bao giờ tôi bị một vố cay như thế này. Mà lần này tôi bị lại là do tôi tận tâm phục vụ cho tổ quốc, do tôi làm nghĩa vụ công dân của mình mới tức chứ!
Chắc anh biết đấy, lâu nay tôi vẫn có một tiệm cà phê riêng. Một hôm, có hai tay của Sở Cẩm đến nhà tôi bảo:
-Mời ông đi theo chúng tôi về Sở!
Các tay mật thám cũ tay nào tôi cũng nhẵn mặt cả. Nhưng hai tay này là lính mới, nên tôi không biết. "Được! Đi thì đi!" tôi nghĩ bụng thế, "Mình chẳng làm gì nên tội thì sợ đếch gì!".
Đến Sở, tôi thấy Haida đã ngồi chờ ở đó... Haida làm ở Sở Cẩm từ hồi tôi còn làm ăn. Bây giờ ông ta đã lên chức Chánh Cẩm. Haida có một mắt hơi lé, trông lúc nào cũng có vẻ lờ đờ, nên được mọi người tặng cho biệt hiệu là Lé. Haida Lé dữ hơn cọp.
-Bẩm quan cho gọi em có việc gì đây ạ? - tôi hỏi Haida Lé.
-Ngồi xuống đây đã Ichxan! - Haida Lé đáp và chỉ vào chiếc ghế. Tôi đoán ngay là ông ta cần tôi. Vì tính ai chứ tính Haida Lé tôi biết rõ lắm. Tôi mà có tội tình gì thì ông ta đã nhảy xổ vào tôi mà bóp cổ cho thấy ông bà vải rồi, chứ chả mời mọc tử tế như thế.
-Thưa ngài Haida - tôi nói - em đã đoạn tuyệt hẳn nghề cũ rồi! Sau cái lần cuối vớ được một mẻ bẫm, em đã thanh toán sòng phẳng các món, và còn dư một ít thì mở tiệm cà phê để làm ăn sinh sống. Bây giờ quan muốn gọi em có việc gì vậy ạ?
Haida Lé nghe tôi nói rồi bảo:
-Đúng. Các khoản cũ coi như đã thanh toán xong. Hôm nay ta cho gọi anh đến đây là muốn anh thực hiện nghĩa vụ công dân của anh đối với tổ quốc.
Tôi nghĩ bụng: không biết nghĩa vụ đối với tổ quốc là nghĩa vụ gì? Chắc chỉ có chuyện đi lính thôi! A! Ra người ta muốn bắt tôi đi lính!
-Bẩm quan! - tôi nói - Em xin thưa với quan là em đã hoàn thành nghĩa vụ công dân rồi ạ! Em đã phục vụ trong hải quân đúng 6 năm chẵn, không kém một ngày. Ấy là chưa kể em còn nằm mấy tháng trong hầm nhà thờ Divankhan ở Casumpasa. Bây giờ em đã ngoài 50 rồi, quan còn muốn gì ở em nữa ạ?
Haida Lé sai mang cho tôi tách cà phê và rút thuốc lá mời. Tôi lại nghĩ ngay: chắc ông ta muốn mình làm chỉ điểm đây!
-Thưa ông anh, nếu ông anh có ý định gì khác thì xin ông anh cứ nói thẳng. Nếu giúp được, em sẵn sàng ngày... Còn cái tiệm cà phê của em thì ông anh cứ coi là của ông anh!
-Anh nghĩ nhầm rồi, Ichxan ạ! - Haida Lé đáp - Không ai định bắt anh đi lính! Nhưng tổ quốc muốn giao cho anh một nhiệm vụ khác. Anh phải cứu lấy danh dự cho quốc gia, cho chính phủ! Chính phủ rất cần đến sự giúp đỡ của anh.
-Ấy chết! Sao ông lại giễu em thế! Có đâu một quốc gia hùng mạnh như nước ta mà lại cần đến sự giúp đỡ của một tên trộm già như em!
-Chuyện gì mà không thể có! - Haida Lé đáp - Việc quốc gia nó phức tạp lắm, nên đòi hỏi phải có sự giúp đỡ của mỗi người công dân. Và bây giờ đến lượt nó đòi hỏi sự giúp đỡ của anh.
-Thôi được! Nếu ông anh đã nói là nghĩa vụ quốc gia thì em đâu dám từ chối. Ông anh có bảo chết em cũng xin chết ngay...
Đến đây Haida Lé mới nói thật cho tôi biết rõ sự thể.
Hóa ra là có một đoàn khách quốc tế sang thăm nước ta. Đoàn rất đông người. Có đủ cả người Mỹ, người Đức, người Đan Mạch, người Pháp. Có cả thương gia, bác sĩ, kỹ sư, giáo sư... Họ muốn đến tìm hiểu tình hình để viện trợ kinh tế cho ta. Nhưng đến chỗ nào họ cũng thấy tình trạng hết sức bí bét. Nghe nói tình hình lâm nghiệp họ phát ớn, tìm hiểu tình hình y tế họ thấy ngán ngẩm. Đến xem các nhà máy họ lại càng kinh. Tóm lại là đi đến đâu ta cũng ngượng chính mặt với họ đến đấy. Vì thế chính phủ ta mới quyết định bằng bất cứ giá nào phải làm cho họ kinh ngạc một phen.
-Bởi vậy, Ichxan ạ! Bây giờ là trách nhiệm của anh đối với tổ quốc. Anh phải cố mà làm tròn nó!
Tôi đoán chắc chính phủ ta không có cách gì làm cho các quan khách quốc tế hài lòng, nên quyết định chứng tỏ cho họ thấy trình độ chống nạn trộm cắp của ta cao đến mức nào. Tôi bảo:
-Thưa Haida, em hiểu, xin Haida tin rằng chắc chắn em sẽ cho họ biết trình độ ăn cắp của ta rất cao, chứ không như các nghề khác!
-Anh đoán gần đúng - Haida xác nhận - Chúng ta phải cho họ biết cảnh sát của chúng ta mạnh như thế nào, và biết cách làm việc ra sao.
-Thế thì em thấy hơi khó... - tôi thở dài.
-Tất nhiên là khó rồi! Có thế mới gọi anh đến...
Anh là một tên móc túi chuyên nghiệp, đã từng nhiều lần vào tù ra tội. Anh rất sành sõi cái việc này. Vậy anh hãy thi hành nghĩa vụ công dân của mình.
-Xin ông anh cho em biết rõ hơn là em phải làm gì ạ? - tôi yêu cầu ông ta.
Haida Lé giảng giải cho tôi biết nhiệm vụ. Người ta sẽ chỉ cho tôi cái khách sạn có đoàn quốc tế ở. Nhiệm vụ của tôi là phải vét nhẵn túi các vị trong đoàn, không để sót một thứ gì. Tất nhiên các quan khách sẽ thi nhau kêu trời và chạy đến báo cảnh sát. Ở sở cảnh sát người ta sẽ bảo họ: "Xin các vị yên trí! Cảnh sát của chúng tôi làm việc rất cừ! Chỉ 5 phút nữa chúng tôi sẽ tóm hết những tên ăn trộm!". Còn tôi thì ngay sau đó đem tất cả những thứ lấy được về nạp cho Sở. Thế là những người bị mất cắp sẽ nhận được nguyên vẹn tài sản của họ.
"Đây! Xin mời các vị nhận lại đồ vật của mình!". Cảnh sát của ta sẽ giơ tay chào và bảo họ như vậy. Các vị khách ngốc nghếch kia tất nhiên sẽ phải nghĩ: "Chà! Thế mới gọi là làm việc chứ!"
-Em không làm được đâu, Haida ạ! - tôi từ chối - Bây giờ em thấy không đang tâm...
-Sao vậy? - Haida Lé hỏi.
-Thứ nhất là vì em bỏ nghề đã lâu, bây giờ chân tay ngượng nghịu sợ không làm nổi...
-Không lo! Anh vẫn làm được thôi!
-Thứ hai, bấy lâu nay em đã giữ được mình không nhúng tay vào chuyện ấy...
-Giữ mãi rồi cũng có ngày không giữ được đâu! Cũng như đôi giày mới ấy rồi cũng có lúc nó phải nhúng bùn.
-Tụi trẻ bây giờ có nhiều đứa bợm lắm! Ông anh giao cho chúng nó việc này có lẽ tốt hơn.
-Nhưng lũ ôn con ấy chúng lưu manh lắm! Xoáy thì chúng xoáy được đấy. Nhưng xoáy xong chúng nó biến thì có mà thánh tìm!... Lúc ấy thật là bẽ mặt với các vị khách quốc tế. Vì thế chúng ta mới cần một tên trộm thật thà như anh.
-Đội ơn ông anh đã có lòng tin em. Nhưng quả thật em không làm được đâu ạ!
-Tùy đấy, Ichxan ạ! Có điều nếu anh không chịu làm, ta buộc phải đóng cửa tiệm cà phê của anh lại. Ta còn lạ quái gì cái tiệm của anh! Nó vừa là sòng bạc, vừa là ổ thuốc phiện lậu...
Thế là tôi đành phải nhận lời.
-Thôi được em xin làm - tôi nói - nhưng làm nghĩa vụ cho tổ quốc thì em cũng được cái gì chứ ạ? Chả lẽ em lại làm không công?
Haida Lé nổi cáu quát:
-Người ta nghĩ đến nghĩa vụ công dân, mà anh thì lo chuyện lợi lộc. Thật không biết xấu hổ!
-Xin ông anh bớt giận! - tôi nói - Ông anh làm việc cho cảnh sát, tức là cũng làm nghĩa vụ công dân, thì ông anh được lương. Ngay cả các ngài nghị viên có lẽ cũng chả ngài nào muốn làm nghĩa vụ không công cho chính phủ. Tình bạn đi đằng tình bạn, còn công việc đi đằng công việc chứ ạ! Việc nào nó phải đi việc nấy. Nghĩa vụ là một chuyện, còn quyền lợi lại là chuyện khác chứ ạ! Tiền bạc có hại gì đến nghĩa vụ đâu!
-Thôi được. Ta thỏa thuận thế này vậy nhé! - Haida Lé dấu dịu - Ta cho anh muốn làm gì ở cái tiệm cà phê của anh thì làm. Có điều anh phải nhớ là "moi" được cái gì của khách, anh phải đem nộp cho ta ngay, rõ chưa?
-Dạ, rõ ạ!
Cầu chúa Ala phù hộ cho anh! Ta đặt mọi hy vọng vào anh đấy! Nếu anh moi được ví của ngài trưởng đoàn thì càng đáng khen. Thôi, cho anh đi! Chúc anh may mắn!
Ừ, thì tôi đi! Gì chứ cái chuyện xoáy vặt đối với tôi ngon hơn óc chó!
Tôi đến khách sạn và bắt đầu ngồi chờ.
Chờ đến tối thì thấy các vị khách bắt đầu kéo nhau về. Tôi giở tập ảnh ra xem lại. Đích thị ông trưởng đoàn đang đi cùng bà vợ kia rồi! Tôi đứng lên, đi sát hẳn vào người ông ta lần chỗ để ví, rồi bất ngờ hích nhẹ vào ngực ông ta một cái. Thế là xong! Êm như ru! Té ra tôi vẫn chưa quên nghề...
Sau đó tôi chạy ngay đến nhà vệ sinh công cộng ở quảng trường Tacxim, mở ví ra xem. Trong ví toàn giấy bạc mới tinh! Thề có thánh Ala chứng giám, tôi đã kìm được lòng tham, không lấy một tờ nào. Có bao nhiêu tôi mang nguyên về Sở.
-Anh biến đi đâu thế? - Vừa thấy mặt tôi từ ngoài cửa, Haida Lé đã quát hỏi ngay. Nhưng khi tôi chìa chiếc ví ra thì ông ta sướng đến nỗi hôn luôn tôi một cái vào trán.
-Cừ lắm! Anh đã hoàn thành tốt nhiệm vụ - Ông ta khen tôi - Ông trưởng đoàn vừa đến báo cho ta biết là bị mất cắp. Trông ông ta rất buồn. "Xin ngài cứ yên trí!" ta bảo với ông ta như vậy, "Chậm nhất là ngày mai chúng tôi sẽ tìm lại cho ngài chiếc ví. Cảnh sát của chúng tôi làm việc rất giỏi!"
-Em đã hoàn thành nghĩa vụ đối với tổ quốc rồi, bây giờ xin chào ông anh! Chúc ông anh mọi sự tốt đẹp! - tôi nói với Haida thế, nhưng ông ta bảo:
-Khoan đã! Mới một lần thế thì ít quá! Chú em phải lần lượt moi túi tất cả các ông khách ấy cho ta!
-Nhưng em chỉ sợ làm mãi quen tay, đến lúc muốn thôi không được.
Nhưng Haida chẳng thèm nghe tôi.
Tôi lại bắt đầu đi moi các đại biểu khác. Có một ông rất khù khờ, bị tôi moi nhẵn cả túi quần túi ấo, lấy hết cả ví, cả chìa khóa buồng, khăn mùi soa, bật lửa, hộp thuốc lá, thậm chí cả ghim cài ve áo, mà vẫn chẳng hay biết gì hết. Không khéo bị lột cả quần ngủ mà ông ta vẫn không biết gì cũng nên!... "Hay ta thử cắt hết cúc áo của hắn ta xem sao?" Tôi nghĩ bụng như vậy, rồi cắt thật, không để lại một cái nào. Sau đó tôi đem ngay tất cả về Sở, bày ra trước mặt Haida.
-Giỏi lắm, Ichxan ạ! - ông ta bảo - Anh làm việc khá lắm!
Tôi bảo ông ta:
-Ông anh ạ! Em đã định lột truồng hắn ra, nhưng sau nghĩ thương hại...
Tóm lại là suốt một ngày tôi cứ đi moi hết vị này đến vị khác trong đoàn... Tôi làm việc như một nhà phẫu thuật lành nghề. Nói thật chứ, giá tôi có lấy mất một lá phổi của những anh chàng đù đờ này thì có lẽ họ cũng hay biết gì.
Haida nghe tôi kể thì cứ ôm bụng mà cười.
Một hôm, tôi moi nhẵn được ví đầm của một bà và đem đến cho Haida Lé. Nhưng không thấy bà này đến báo cảnh sát gì cả. Thấy vậy một viên cảnh sát biết tiếng nước ngoài bèn gọi điện về khách sạn:
-Các ngài có bị mất gì không?
-Không - người ta trả lời.
-Các ngài cứ soát kỹ lại tất cả các ví xách và túi quần túi áo xem sao!
Một lát sau bỗng có tiếng chuông.
-Có một bà của chúng tôi bị mất sạch các thứ trong túi sắc.
-Bà đó có một chiếc khăn tay màu hồng phải không ạ?
-Phải rồi! Sao các ông biết?
-Cảnh sát của chúng tôi cái gì cũng biết hết!
Cảnh sát của chúng tôi cừ thế đấy! Họ báo cho người mất trộm biết bà ta bị mất trộm, và tên trộm đã bị bắt!...
Trước khi đoàn về nước, một phóng viên nhà báo hỏi vị trưởng đoàn:
-Ở nước chúng tôi ngài thích nhất cái gì ạ?
Vị trưởng đoàn là một người có học thức, ông ta im lặng không đáp.
Một nhà báo khác nói:
-Cảnh sát của các ông rất mạnh!
Bấy giờ vị trưởng đoàn mới trả lời như thế này:
-Đoàn chúng tôi có 9 người cả thảy. Chúng tôi ở Xtămbun có một hôm, mà mỗi người trong đoàn chúng tôi đã bị mất cắp 9 lần!... Cảnh sát của các ông cũng có thể là mạnh, nhưng những tên trộm của các ông còn mạnh hơn nhiều!
Lập tức sáng hôm sau những lời phát biểu này được đăng ngay trên các báo: Ngài trưởng đoàn tuyên bố rằng nạn trộm cắp ở Thổ Nhĩ Kỳ hết sức phát triển!
Nhưng thế thì việc gì đến tôi kia chứ? Tại sao mấy ông cảnh sát lại nổi cáu và hạ lệnh tống giam tôi? Hay tôi đã thực hiện vượt mức yêu cầu của họ?
Tôi bảo họ:
-Nhưng chính các ông bảo tôi phải đi ăn cắp để thực hiện nghĩa vụ đối với tổ quốc cơ mà! Tôi sẽ đưa chuyện này ra tòa. Tôi sẽ kể hết với mọi người cho mà xem! - tôi dọa Haida Lé.
-Nếu anh làm như thế, ta sẽ đổ cho anh là thủ phạm của tất cả các vụ trộm chưa tìm ra. Những vụ như thế ta có hàng trăm. Anh tin ta đi! Ta sẽ có cách làm cho anh phải nhận và ký vào biên bản hỏi cung. Anh sẽ phải chịu 1000 năm tù là ít!
Cuối cùng trước tòa tôi đành phải câm như hến và người ta kết án tôi 2 năm tù. Ichxan Vadelin kết thúc câu chuyện của mình.
-Hai năm cũng chả mấy! Ngoảnh đi ngoảnh lại là hết ngay thôi! - một người ngồi nghe chuyện lên tiếng an ủi.
Ichxan Vadelin bảo:
-Đã đành thế rồi. Nhưng tuổi tôi đâu còn ít ỏi gì để mà ngồi tù. May phước là chỉ bị có 2 năm! Làm nghĩa vụ của tổ quốc sướng thế đấy! Hoan hô nước ta!
***
Cái Kính
Truyện ngắn Aziz Nesin
***
Một hôm, cách đây chừng 7, 8 tháng, có người bạn hỏi tôi:
-Tại sao anh không đeo kính?
-Làm sao tôi phải đeo?
-Tuổi anh bây giờ là phải đeo rồi chứ còn sao nữa. Không đeo, đến lúc mắt hỏng nặng, không nhìn thấy gì đâu!
Từ lúc người bạn đó ra về, mắt tôi tự dưng mờ hẳn. Nhìn gần nhìn xa đều không rõ nữa.
Lâu nay tôi vẫn thầm mong cho tóc chóng rụng, cho trán hói đi. Rồi đeo thêm chiếc kính vào cho ra dáng trí thức. Vì tôi cho như thế là dấu hiệu của một anh trí thức. Ngay như anh bán thịt bây giờ mà để trán hói và mang kính vào, tôi cho trông cũng không khác gì giáo sư đại học! Nhưng cái mơ ước ấy của tôi không thực hiện được, vì tóc tôi mỗi ngày một dày thêm. Thế thì ít ra tôi cũng nên sắm cái kính mà đeo vậy. Ai nhìn thấy tôi, người ta phải bảo: bác học đấy!
Vậy là tôi đi khám đốc tờ. Khám xong, ông này bảo tôi:
-Anh bị cận thị! một, 75 đi-ốp!
Theo đơn ông ta dặn, tôi sắm một cái kính. Nhưng cứ động đeo vào là tôi thấy mặt mày sa sầm, buồn nôn không chịu được. Thậm chí có lần, nói vô phép các bạn, tôi nôn thật! Nôn thốc nôn tháo, nôn ra cả mật xanh mật vàng. Không đeo thì không nhìn thấy gì, mà đeo thì tuy nhìn thấy được, nhưng lại bị cảm giác buồn nôn. Thật đúng là khổ!
Một ông bạn khác thương hại bảo tôi:
-Tôi có thể giới thiệu với anh một ông bác sĩ giỏi. Anh hãy đến ông ta khám xem!
Ông bác sĩ này xem mắt tôi, rồi xem chiếc kính.
-Thằng cha lang băm nào cho anh đơn mua cái kính này thế? Có phải anh bị cận thị đâu!
-Thế tôi bị làm sao ạ?
-Viễn thị! 2 đi-ốp!
Tôi lại mua kính mới. Đeo chiếc kính này tôi không còn thấy chóng mặt buồn nôn nữa, nhưng lúc nào cũng bị chảy nước mắt. Đâm ra mắt tôi lúc nào cũng đỏ hoe; như khóc ai vậy. Tôi bị cái cảm giác thương xót rất lạ. Cặp kính này chỉ có đeo để đi đưa đám là hợp.
Một ông bạn thân tỏ vẻ ái ngại cho tôi:
-Thế này thì cậu đến mù mất! Cậu phải đi khám bệnh viện nhà nước xem sao! Ở đấy họ khám cẩn thận. Lại có giáo sư nhãn khoa nữa, chứ không như mấy ông bác sĩ tư!
Bệnh viện nhà nước quả là có khác thật: máy móc nhiều, mà dụng cụ cái gì cũng sáng loáng.
Tôi được một giáo sư khám. Tôi kể cho giáo sư nghe cái bất hạnh của tôi:
-Người thì bảo tôi là cận thị, người thì bảo là viễn thị!
Giáo sư giận lắm:
-Quân ngu! Anh không phải cân thị, cũng không phải viễn thị, mà là loạn thị!
Theo đơn của giáo sư, tôi mua đôi kính khác. Cặp kính này tôi đeo vừa lắm, trông cái gì cũng rõ. Phải mỗi tội bây giờ cái gì như cũng lùi hẳn ra xa. Mấy bức tường trong căn buồn tôi sống hàng chục năm nay dường như bị lùi xa đến hàng ba chục thước. Tôi giơ tay chực bắt tay người quen, nhưng không sao với tới được. Định viết, giấy đã chạy xa khỏi tay đến hai thước. Nhìn vật gì cũng thấy bé tí xíu. Người thì chỉ bằng hạt đậu ván... Nhưng tệ hại nhất là tôi không ăn uống gì được! Vì vừa ngồi vào bàn là đĩa thức ăn đã chạy đi xa hai chục thước rồi. Mùi súp nóng bốc ngay dưới mũi, nhưng cứ cầm thìa chực múc, thì bát súp đã ở cách xa hàng hai mét! Tôi không ăn uống cử động gì được nữa. Một anh bạn phải dắt tay tôi đến một bác sĩ khác tốt nghiệp ở Mỹ về. Khám xét cẩn thận xong ông ta bảo tôi:
-Đứa nào cho anh đơn mua cái kính này đây? Đúng là đồ lang vườn dốt nát! Anh cứ kiện lên phòng công tố cho nó bỏ mẹ!
-Thôi! Cứ để thánh Ala trừng phạt hắn! - Tôi nói.
Tôi lại thay kính mới. Bây giờ mắt tôi nhìn cái gì một cũng hóa hai. Nhà tôi đang bảy người, bỗng nhiên thành mười bốn. Mỗi người lại có một người giống hệt mình. Thật tôi chưa bao giờ thấy chuyện lạ như vậy. Chả lẽ lại có những người giống nhau đến mức độ như thế hay sao? Vô lý quá! Nhìn xuống chân thì thấy bốn chiếc ủng, nhìn bàn tay thì thấy có mười ngón!
Tôi đến một ông bác sĩ khác. Ông này học ở Đức về.
-Ai bảo anh đeo kính này?
-Làm sao ạ?
-Sai chứ còn sao nữa!
Hóa ra một mắt tôi bị viễn, còn mắt kia thì cận. Vị danh y mới lại ghi cho tôi chiếc kính khác. Bây giờ tôi không phân biệt được sáng tối nữa. Xung quanh tôi tối như hũ nút.
-Đứa dốt nào ghi cho anh chiếc kính này vậy hả? Mắt anh hoàn toàn bình thường, có làm sao đâu?
-Nhưng tôi không thấy gì cả! Tối cứ như bưng ấy!
-Thế là anh bị quáng gà thôi, chứ chẳng có làm sao hết!
Lại uống thuốc, lại tiêm, lại kính mới... Bây giờ các vật ở xa trông lại hóa gần. Chân đáng lẽ leo lên tàu thuỷ, thì lại bước ngay xuống biển... Vì tàu chưa cập bến, nhưng trông cứ như đã ngay sát bờ. Không còn viên bác sĩ nào trong tỉnh là tôi chưa mò đến! Ông này bảo mắt phải tôi cận, mắt trái viễn thì ông khác nói ngược lại. Ông trước kêu bị loạn thị thì ông sau phán là bị đục nhân mắt. Đeo kính của cái ông bảo tôi bị đục nhân mắt, thì cái gì cũng ra màu xanh cả. Có ông còn đoán tôi bị chứng mù màu. Nhìn phía trước nhìn sang bên, nhìn xa nhìn gần, cái gì cũng biến thành hai, màu sắc lẫn hết. Đi trên đường thẳng mà tôi có cảm giác như bước xuống cầu thang, mỗi bậc cách nhau hàng bốn năm chục phân. Tôi cứ phải bước từng bước dài như lạc đà vậy.
Một lần, đang đi trên cầu, thế quái nào tôi bước hụt một cái, ngã lăn quay xuống dưới. Vì cứ tưởng những bậc cầu thấp hơn đến một mét. Cái kính bị văng đi làm tôi không nhìn thấy gì nữa. Cái gì cũng mờ mờ ảo ảo. Người ta đỡ tôi dậy:
-Cái kính của tôi đâu rồi? - Tôi hỏi.
Họ tìm thấy kính đưa cho tôi. Tôi đeo kính vào thì... Thánh Ala ơi!... Mọi vật bỗng trở nên sáng sủa rõ ràng quá! Vật nào đúng vật nấy, rõ mồn một! Rõ như chưa bao giờ tôi có thể nhìn rõ vậy. Hay kính của người khác chăng? Không! Đích thị kính của tôi đây mà! Đúng gọng sừng to màu đen đây! Tôi sướng không sao tả được! Bây giờ thì đừng hòng tôi bước chân đến một anh bác sĩ mắt nào nhé! Tôi đã đọc được cả mấy dòng chữ nhỏ nhất trên báo và nhìn rõ cả tên chiếc tàu thủy đậu tít ngoài xa. Tôi đi về nhà, lòng vô cùng sung sướng.
-Kính của anh sao thế kia? - Vợ tôi hỏi.
-Làm sao?
Tôi bỏ kính ra xem. Ngón tay thò qua được cả lỗ gọng! Té ra mắt kính đã bị vỡ rơi mất rồi mà tôi không biết!
Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018
Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018
Kinh cầu Đức Bà ( kinh cầu Lôrêtô )
Kinh cầu phổ biến nhất trong Giáo Hội Công Giáo là kinh nào?
Giáo Hội Công Giáo sở hữu hàng ngàn lời cầu nguyện trong kho tàng tác phẩm thiêng liêng phong phú của mình. Trong đó, kinh cầu Lôrêtô, người Việt quen gọi là kinh cầu Đức Bà, là một trong những kinh nguyện nổi tiếng và được đọc nhiều nhất trong lịch sử. Đó là một kinh nguyện đẹp và có lịch sử lâu đời.
Nhiều người tin rằng kinh cầu này bắt nguồn từ Thánh Grêgôriô Cả hay thậm chí từ thời các Thánh Tông Đồ, tuy vậy các nhà sử học cho rằng kinh cầu Lôrêtô có từ thế kỷ 15 hay 16.
Theo Bách khoa Toàn thư Công Giáo, "Bản sao in cổ nhất của kinh nguyện này đã được khám phá là của Dilingen, Đức, vào khoảng năm 1558; có phần chắc chắn nó là bản sao của một bản kinh cổ hơn nữa thuộc nước Ý, dù tuy nhiên, sau khi nghiên cứu cẩn thận, bản cổ nhất ở Ý khám phá được chỉ là vào năm 1576."
Truyền thống tin rằng kinh cầu đã được đọc lần đầu ở Đền thánh mầu nhiệm Lôrêtô, Ý, là ngôi nhà gốc của Đức Mẹ Maria ở Nadarét được các thiên thần mang sang Ý. Ngôi Đền thánh vốn cực kỳ nổi tiếng trong thế kỷ 15 và 16, đã thu hút vô số khách hành hương từ khắp châu Âu. Vì thế, nhiều người đến đây, nghe kinh cầu và mang về quê hương mình, biến nó thành một kinh nguyện quen thuộc trong khắp các nhà thờ làng.
Tuy vậy, kinh cầu Đức Bà lúc ấy gặp nguy cơ bị lãng quên mãi mãi, khi vị Giáo Hoàng thời đó không thích kinh ấy. Song, các linh mục ở Đền Lôrêtô vẫn gìn giữ kinh cầu và đọc nó vào mỗi thứ bảy. Vào thế kỷ 17, kinh cầu Lôrêtô trở nên phổ biến ở Rôma và được đọc thường xuyên trong Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả. Kể từ đó, kinh cầu lan rộng khắp Giáo Hội Latinh và trở thành một trong những kinh cầu được đọc nhiều nhất trong Hội Thánh.
Kinh cầu Đức Bà
Xin Chúa thương xót chúng con.
Thưa: Xin Chúa thương xót chúng con.
Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Thưa: Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Xin Chúa thương xót chúng con.
Thưa: Xin Chúa thương xót chúng con.
Chúa Kitô nghe cho chúng con.
Thưa: Chúa Kitô nhậm lời chúng con.
Ðức Chúa Cha Ngự trên trời là Ðức Chúa Trời thật.
Thưa: Thương xót chúng con.
Ðức Chúa con chuộc tội cứu thế là Ðức Chúa Trời thật.
Thưa: Thương xót chúng con.
Ðức Chúa ThànhThần là Ðức Chúa Trời thật.
Thưa: Thương xót chúng con.
Rất thánh Ðức Bà Maria.
Thưa: Cầu cho chúng con. (các câu kế tiếp đều thưa như vậy)
Rất thánh Ðức Mẹ Chúa Trời.
Rất thánh Nữ đồng trinh trên hết các kẻ đồng trinh.
Ðức Mẹ Chúa Kitô.
Ðức Mẹ thông ơn Thiên Chúa.
Ðức Mẹ cực thanh cực tịnh.
Ðức Mẹ tuyền vẹn mọi đàng.
Ðức Mẹ chẳng vướng bợn nhơ.
Ðức Mẹ rất đáng yêu mến.
Ðức Mẹ cực mầu cực nhiệm.
Ðức Mẹ chỉ bảo đàng lành.
Ðức Mẹ sinh Chúa Tạo thiên lập địa.
Ðức Mẹ sinh Chúa Cứu Thế.
Ðức Nữ cực khôn cực ngoan.
Ðức Nữ rất đáng kính chuộng.
Ðức Nữ rất đáng ngợi khen.
Ðức Nữ có tài có phép.
Ðức Nữ có lòng khoan nhân.
Ðức Nữ trung tín thật thà.
Ðức Bà là gương nhân đức.
Ðức Bà là tòa Ðấng khôn ngoan.
Ðức Bà làm cho chúng con vui mừng.
Ðức Bà là Ðấng trọng thiêng.
Ðức Bà là Ðấng đáng tôn trọng.
Ðức Bà là Ðấng sốt mến lạ lùng.
Ðức Bà như hoa hường mầu nhiệm vậy.
Ðức Bà như lầu đài Ðavít vậy.
Ðức Bà như tháp ngà báu vậy.
Ðức Bà như đền vàng vậy.
Ðức Bà như hòm bia Thiên Chúa vậy.
Ðức Bà là cửa Thiên đàng.
Ðức Bà như sao mai sáng vậy.
Ðức Bà cứu kẻ liệt kẻ khốn.
Ðức Bà bầu chữa kẻ có tội.
Ðức Bà yên ủi kẻ âu lo.
Ðức Bà phù hộ các giáo hữu.
Nữ vương các thánh thiên thần.
Nữ vương các thánh Tổ tông.
Nữ vương các thánh Tiên tri.
Nữ vương các thánh Tông đồ.
Nữ vương các thánh Tử vì đạo.
Nữ vương các thánh Hiển tu.
Nữ vương các thánh Ðồng trinh.
Nữ vương các thánh Nam cùng các thánh Nữ.
Nữ vương chẳng hề mắc tội tổ tông.
Nữ vương linh hồn và xác lên trời.
Nữ vương truyền phép rất thánh Mân côi.
Nữ vương ban sự bằng an.
Nữ vương các gia đình.
Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.
Thưa: Chúa tha tội chúng con.
Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.
Thưa: Chúa nhậm lời chúng con.
Chúa Giêsu chuộc tội cứu thế.
Thưa: Chúa thương xót chúng con.
Lạy rất thánh Ðức Mẹ Chúa Trời xin cầu cho chúng con.
Thưa: Ðáng chịu lấy những sự Chúa Kitô đã hứa.
Lời Nguyện:
Chúng con lạy ơn rất thánh Ðức Mẹ Chúa Trời, chúng con trông cậy Ðức Bà là Chúa bầu chúng con: xin cho chúng con biết lòng Ðức Mẹ yêu dấu con mọn này còn ở dưới thế cách xa mặt Mẹ. Ðức Chúa Giêsu xưa xuống thế gian chẳng bỏ loài kẻ có tội, lại liều mình chịu nạn chịu chết vì hết cả và loài người ta; Ðức Mẹ cũng một lòng theo Con như vậy. Mẹ ôi! Khoan thay! Nhân thay! Chớ trở mặt đi mà chẳng nhìn chúng con; xin Ðức Mẹ thương xem dạy dỗ yên ủi chúng con. Con cậy Mẹ có phép tắc nhiều trên hết Thiên thần cùng trên hết các thánh. Chúng con còn ở dưới thế này như kẻ đi biển cả vậy. Ðức Mẹ là như ngôi sao chính ngự ở trời bên bắc vậy, xin Ðức Mẹ dẫn đàng cho chúng con được theo, kẻo phải xiêu chìm sa hỏa ngục vô cùng; chúng con trông Ðức Mẹ cho chúng con ngày sau được vào cửa thiên đàng, xem thấy mặt Ðức Chúa Giêsu cùng mặt Ðức Mẹ, được hưởng muôn muôn sự phúc gồm hết mọi sự tốt lành chẳng hay hết chẳng hay cùng. Amen.
G N lược dịch
Copyright of TUỆ MẪN
“The Devil’s Alliance” – Liên minh của quỷ giữa Hitler và Stalin. Biên khảo - Hoài Nguyễn
“The Devil’s Alliance” – Liên minh của quỷ giữa Hitler và Stalin.
Biên khảo - Hoài Nguyễn
Với người dân miền Nam thì hồi trước 1975 vẫn xem hai nhân vật Hitler và Stalin là cùng “một giuộc” như nhau, nghĩa là sự tàn ác đối với nhân loại là như nhau thậm chí Stalin còn hơn Hitler một bậc về sự tàn ác khi giết hại ngay chính đồng bào của ông ta trong khi Hitler chỉ sát hại những người dị chủng với dân tộc Đức.
Miền Bắc thì lại khác! Những ai sinh ra và trưởng thành tại miền Bắc trước năm 1975 và một thời gian dài trong các nhà trường của Việt Nam sau 1975 các thế hệ học sinh được học rằng, Thế chiến II (1939 -1945) gần như đồng nghĩa với cuộc "Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại" của Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Stalin, đại diện cho cái Thiện, gần như là cứu cả thế giới khỏi thảm họa phát-xít Đức của Hitler, đại diện cho cái ác!
Ngày nay với sự bùng nổ thông tin nhờ mạng internet toàn cầu nên những thông tin mang tính tuyên truyền nhồi nhét dần dần bị “lật tẩy” và người ta có những cái nhìn với những góc độ khác nhau về thế giới khi có quá nhiều tài liệu mật, tối mật lần lượt đã được giải mã nhất là sau sự kiện chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ thập niên 1990 của thế kỷ trước.
Vậy thực tế những gì đã xảy ra trong lịch sử vào thời gian trước và trong Thế chiến II?
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, phe Bolshevik do Vladimir Ilyich Lenin lãnh đạo lật đỗ Nga hoàng Nikolai II, thắng thế trong cuộc nội chiến với các phe phái Menshevik và lập nên nhà nước cộng sản đầu tiên trên thế giới là CHXHCN Xô Viết gọi tắt là Liên Xô năm 1922. Nhà nước Liên Xô đã ký một thỏa thuận hợp tác quân sự chặt chẽ ngầm với Reichswehr (Phòng vệ Đế chế) của Đức, sự hợp tác này càng phát triển mạnh mẽ hơn sau khi nhà nước Đức Quốc Xã ra đời năm 1933.
Như vậy trước khi Thế chiến II nổ ra, ở châu Âu đã hình thành hai nhà nước độc tài, một ở phía Tây của Hitler và một phía Đông của Stalin lúc này đã thay thế Lenin vừa qua đời năm 1924.
Cả một “khu rừng Châu Âu” có hai con mãnh hổ là Đức Quốc Xã và Liên Xô đều nhăm nhe làm chúa tể nhưng lúc đó do thế và lực của hai mãnh hổ chưa đủ nên buộc chúng phải “hợp tác” ăn chia những con mồi nhỏ hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov đã ký với Bộ trưởng Ngoại giao Đức Quốc Xã Joachim von Ribbentrop một Hiệp ước bất tương xâm hay còn gọi là Hiệp ước Molotov – Ribbentrop (Molotov – Ribbentrop Pact) ngày 23/8/1939 (có hiệu lực 1/9/1939) với một điều khoản bí mật thỏa thuận chia nhau Châu Âu, tiếp tục những hành động quân sự xâm lấn mà đôi bên đã và đang thực hiện. Như vậy ngay từ trước khi Thế chiến II, dã tâm của Hitler và Stalin là như nhau với tham vọng muốn chia cắt Châu Âu và sau này hậu Thế chiến II đã hình thành nên hai khối Đông Âu và Tây Âu. Mọi sự diễn ra rất đồng bộ theo sự chỉ đạo của hai trùm độc tài này.
Đức Quốc Xã chiếm Áo, Tiệp Khắc năm 1938 thì Liên Xô tấn công Phần Lan năm 1939 và vì vậy Liên Xô bị đuổi ra khỏi Hội Quốc Liên. Đức đánh Ba Lan ngày 1/9/1939 ở phía Tây thì hai tuần sau, Liên Xô chiếm ở phía Đông. Đức chiếm Pháp và Tây Âu trong những năm 1939 - 1940 thì Liên Xô chiếm các nước vùng Baltic cùng Moldova...
Cứ thế cho đến khi gần như toàn bộ Châu Âu (trừ nước Anh) nằm dưới sự kiểm soát của hai nước Đức Quốc Xã và Liên Xô, và khi vùng đất đệm giữa hai bên không còn, đến lúc hai bộ máy chiến tranh khổng lồ phải chạm trán nhau. Hai con hổ đã giành hết mồi rồi bây giờ đối đầu nhau và nhe nanh vuốt gầm gừ với nhau! Một số tư liệu lịch sử đã chứng tỏ rằng hai bên đều tích cực và ráo riết chuẩn bị cho đụng độ tất yếu đó.
Do nước Đức của Hitler bất ngờ ra tay trước tấn công Liên Xô vào ngày 22/6/1941, cho nên cuộc chiến tranh này được người Nga gọi là “Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”. Giả sử nếu Stalin hạ lệnh đánh trước (họ dự tính ra tay mùa thu năm 1941) thì chắc là cuộc chiến đã được gọi là cuộc “Chiến tranh Giải phóng Vĩ đại” rồi!
Nếu Liên Xô không liên minh với Đồng Minh Anh – Mỹ và mở mặt trận thứ hai ở phía Tây thì chưa chắc họ đã giành chiến thắng với cái giá 26 triệu sinh mạng trước Đức Quốc Xã, để sau Thế chiến II kết thúc được đứng về hàng ngũ “Thiện” chiến thắng “Ác”!
Trong kho tư liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, có rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, mà ý nghĩa của nó xứng đáng nhận được nhiều sự chú ý hơn lâu nay.
Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Liên Xô mà thực hiện không thành, Stalin nổi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các thế lực phương Tây không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, kết quả của quyết định của người Anh và Pháp trong việc chống lại việc Đức chinh phục Ba Lan.
Ba phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Xô – Đức kể từ lúc ấy, phần lớn là của các cây bút và sử gia Đông Âu.
Sử gia người Anh Roger Moorhouse gọi Hiệp ước Xô – Đức này trong một quyển sách của ông là “The Devil’s Alliance” (Liên minh của quỷ) và đánh giá bản hiệp ước này rất có ý nghĩa đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó.
Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách là phần nói về những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, Chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa cộng sản đã là kẻ thù công khai của nhau một cách hiển nhiên và dữ dội. Từ những ngày thăng tiến chính trị đầu tiên của mình, Hitler đã mô tả Do Thái giáo và Chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thù chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý thức hệ. Cũng như Hitler, Stalin là một người theo chủ nghĩa dân tộc; ông gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế.
Trước khi ký Hiệp ước Xô – Đức, ngay từ tháng 5/1939, Hitler nhận ra rằng trong cuộc chiến của người Đức với phương Tây, Nga có thể đứng trung lập. Nhưng việc thực hiện điều đó không đơn giản; Nga phải có gì đó đổi lại. Trong suốt mùa hè năm đó, nhóm đại biểu Anh - Pháp đã tìm kiếm một dạng thỏa thuận quân sự với Nga và chuyện không đi được tới đâu. Có một số viên chức và nhà ngoại giao cao cấp của Đức, đứng đầu trong số đó là Bộ trưởng Ngoại giao Joachim von Ribbentrop của Hitler, có khuynh hướng thiên hẳn về thỏa thuận Đức – Nga.
Trong lúc đó, tại Moskva, Stalin đã bắt đầu có động thái: đầu tháng 5, ông sa thải Bộ trưởng Ngoại giao người Do Thái của mình, Maxim Litvinov, và thay thế bằng Vyacheslav Molotov (người giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong suốt cuộc chiến và một thời gian dài sau đó). Hitler hiểu điều đó có nghĩa là gì. Vào tháng 8, Ribbentrop bay đến Moskva để ký Hiệp ước Bất tương xâm giữa Liên Xô và Đức; bức ảnh Ribbentrop với cây bút trong tay cho thấy ở vị trí đứng sau, Stalin mãn nguyện thấy rõ. Hitler hy vọng sự kiện gần như tuyệt diệu này có thể ngăn người Anh và người Pháp can dự vào cuộc chiến giành Ba Lan với ông. Điều đó đã không xảy ra, mặc dù Stalin không thất vọng vì điều đó.
Điều quan trọng hơn Hiệp ước Bất tương xâm là phần phụ lục của hiệp ước, một Nghị định thư Bí mật, vốn yêu cầu không gì khác hơn là phân chia Đông Âu, đặc biệt là Ba Lan, với một phần nước này sẽ bị Liên Xô thâu tóm. Ngoài ra, Đức công nhận “khu vực lợi ích” của Liên Xô tại Estonia, Latvia, Phần Lan, một phần Litva và tỉnh Bessarabia ở Romania. Moskva phủ nhận chính sự tồn tại của Nghị định thư Bí mật này trong suốt thời gian dài, ngay cả khi Thế chiến II kết thúc đã lâu. Những sự kiện đó vẫn tồn tại trong văn khố của Đức; và vào năm 1939 nó đã trở thành một hiện thực u ám và dễ sợ. Tận đến năm 1986, Molotov già nua (lúc đó đã hơn 90) vẫn phủ nhận chính sự tồn tại của sự kiện này trước một phóng viên Nga. Trên thực tế, nhiều hoàn cảnh của sự kiện này vẫn tiếp tục tồn tại xuyên qua cuộc thế chiến và cả những xung đột tiếp sau đó cho đến năm 1989.
Quân đội và nhân dân Ba Lan đã chiến đấu can trường chống lại người Đức trong suốt một tháng vào năm 1939 (gần lâu bằng Pháp với đội quân đáng kể của họ vào năm 1940). Nhưng 17 ngày sau khi Đức xâm lược, quân đội của Stalin đã xâm lăng Ba Lan từ phía đông. Vài ngày sau tại Brest, một điểm gặp gỡ lúc ấy nằm ngay trên phần do Liên Xô kiểm soát tại Ba Lan, có một cuộc duyệt binh chung nho nhỏ của binh lính và quân xa của Đức và Liên Xô. Chỉ hơn hai tháng sau, tức chưa đầy ba tháng sau khi Thế chiến II nổ ra, trận đánh duy nhất trên đất liền tại châu Âu là giữa Liên Xô và Phần Lan, vốn là dân tộc không chấp nhận sự kiểm soát của Liên Xô đối với đất nước họ. Người Anh thất kinh. Anh và Pháp thậm chí suy xét, trong thoáng chốc, về việc can thiệp quân sự, nhưng việc này đã không xảy đến. Quân đội Hitler sớm xâm chiếm Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ – và sau đó là Pháp. Churchill và Anh quốc đã đứng một mình, trong suốt hơn một năm sau đó.
Cuối tháng 9/1939, Ribbentrop bay tới Moskva lần nữa để thu xếp một số thoả thuận về đường biên giới, từ đó sẽ tiến hành Nghị định thư Bí mật kia.
Xuyên suốt cuộc chiến, trong số những viên chức cấp cao của Đức, Ribbentrop là người mong muốn tìm kiếm và duy trì những thỏa thuận Đức – Liên Xô nhất.
Ở khía cạnh này, chúng ta còn có thể chú ý đến những mong muốn hướng đến mối quan hệ song phương giữa Hitler và Stalin. Hitler cho rằng cần phải tiến hành những điều khoản trong mối quan hệ đồng minh với Stalin; về phần mình, Stalin thậm chí còn nhiệt tình hơn Hitler trong chuyện này. Một ví dụ là lời chúc tụng có lẽ không cần thiết của Stalin dành cho Hitler sau khi ký bản hiệp ước vào ngày 24 tháng 8 năm 1939: “Tôi biết dân tộc Đức yêu mến Führer (Quốc trưởng) của họ nhiều đến dường nào, do đó tôi nâng ly để chúc sức khỏe cho ông ấy.” Đáng kể hơn đối với hồ sơ lịch sử và hệ trọng hơn đối với nhân dân Đông Âu là ý định của Liên Xô và hành vi xâm lăng của họ ngay sau khi ký Hiệp ước Xô – Đức.
Vào cái ngày diễn ra chuyến viếng thăm thứ hai của Ribbentrop đến Moskva, Liên Xô bắt đầu gây áp lực lên các quốc gia Baltic. Liên Xô đưa ra yêu sách đòi thay đổi những chính quyền tại Baltic, đầu tiên là tại Estonia, sau đó là những nước láng giềng Latvia và Litva. Quan trọng hơn, giờ đây Liên Xô đã điều quân đến những nước đó, đặc biệt là đến các hải cảng của họ, làm suy giảm trầm trọng nền độc lập của những nước này. Chính quyền của những nước này chịu áp lực và đã phải tuân theo lệnh của Liên Xô, ngoại trừ Phần Lan. Hai tháng sau, Chiến tranh Mùa đông tại Phần Lan bắt đầu. Đội quân nhỏ bé của Phần Lan đã chiến đấu quật cường và dũng cảm, một thực tế mà ngay cả Stalin cũng phải thừa nhận; kết quả là xuất hiện một hiệp định trong đó Phần Lan từ bỏ một phần lãnh thổ cho Liên Xô nhưng vẫn duy trì nền độc lập cho phần lớn đất nước.
Tình hình tại Ba Lan còn kém may mắn và kinh khủng hơn nhiều. Ở đó sự chiếm đóng của Liên Xô chí ít cũng tàn bạo và thảm khốc – nếu không muốn nói nhiều hơn – so với những phần đất Ba Lan bị Đức khuất phục. Liên Xô trục xuất ít nhất một triệu người – bao gồm nhiều gia đình, mà không cho họ mang theo tài sản – tới Siberia, Kazakhstan và miền Bắc xa xôi của Liên Xô, và gần như không ai có thể thăm lại quê nhà của mình lần nữa. Vào tháng 4 và tháng 5/1940, khoảng 22.000 sĩ quan Ba Lan bị bắn chết gần Katyn. Hơn một triệu tù nhân và công nhân Ba Lan bị trục xuất tới Đức để chịu lao động cưỡng bức trong suốt thời chiến.
Đáng nói là nhiều việc làm thế này đã bắt đầu ngay sau khi Liên Xô chiếm được miền Đông Ba Lan vào tháng 9/1939. Một số người Ba Lan, bao gồm người Do Thái, đã chào mừng binh lính Liên Xô, những tưởng rằng binh lính Liên Xô đến để giải phóng họ khỏi Đức Quốc Xã. Sau đó họ thất vọng với người Nga đến mức một số người Do Thái ở miền Đông Ba Lan đã nghĩ rằng tốt hơn là họ nên trốn sang khu vực của Đức Quốc Xã, cho dù họ đã biết người Đức đối xử với dân Do Thái ra sao.
Từ năm 1939 đến 1941, có lẽ đa số dân Do Thái trên thế giới sống tại Đông Âu, hầu hết họ sống tại miền Đông Ba Lan, miền Tây Nga, Ukraina, và Belarus. Cuộc thanh trừng chung quyết của người Đức chưa được Hitler quyết định cho đến tháng 9/1941 và trước tháng 1/1942 vẫn chưa được thực hiện, nhưng theo nhiều cách khác nhau, số phận của họ đã được tiên đoán từ Hiệp ước Xô – Đức.
Vào ngày 14/6/1940, ngay cái ngày quân Đức diễu hành vào Paris, Moskva cuối cùng đã quyết định thi hành Nghị định thư Bí mật. Trong vòng một hai ngày, Nga tuyên bố tổng sáp nhập Estonia, Latvia và Litva vào Liên Xô. Thành viên chính phủ của những nước này hoặc bị cầm tù hoặc bị đày ải. Nhiều cựu viên chức ở đó bị xử tử, và ít nhất 25.000 người Baltic đã bị trục xuất tới Liên Xô. Hitler chở những người thuộc sắc tộc thiểu số Đức ở vùng Baltic đến Đức bằng tàu thủy của Đức.
Vào tháng 11/1940, Molotov sang Berlin. Đây không phải là chuyến đi thành công của ông. Cung cách ngoại giao của ông cứng đờ như tính cách ông vậy. Nhìn thấy Đức chinh phục gần hết châu Âu, ông đề xuất việc gộp Bulgaria vào khu vực của Nga. Theo đó Liên Xô sẽ có sự hiện diện gần Bosphorus, với cái giá phải trả là Thổ Nhĩ Kỳ. Người Đức không đáp lại lời đề xuất này. Vào một ngày tháng 12/1940, Hitler bắt đầu hoạch định một cuộc chiến chung cuộc với Liên Xô.
Stalin phần nào chỉ trích hành vi của Molotov tại Berlin; ông cho là Bộ trưởng Ngoại giao của mình có lẽ đã quá cứng nhắc. Đây là lối cư xử điển hình của Stalin trong suốt sáu tháng tiếp theo. Ông không thể và sẽ không tin Hitler sẽ khởi sự một cuộc chiến chống lại mình trong khi Đức vẫn còn Anh quốc để xử lý.
Stalin đã thực hiện một số động thái để cải thiện tình hình của Liên Xô. Ông thương thảo một hiệp ước giao hảo với Nam Tư, vốn chẳng được gì, vì Hitler đã xâm lược Nam Tư vào cái ngày ký hiệp ước này. Ông mời Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Matsuoka Yōsuke đến Moskva khi ông này trên đường quay trở về Nhật sau chuyến viếng thăm Berlin. Đáng ngạc nhiên là sau đó ông ký một Hiệp ước Bất tương xâm với Nhật.
Ngay sau khi Đức Quốc Xã xâm lược Liên Xô vào tháng 6/1941, Matsuoka khi trở về Tokyo đã đề nghị Nhật nên tấn công Liên Xô từ phía Đông. Giá trị của những bản Hiệp ước Bất tương xâm năm 1941 quả là nhỏ bé. Nhưng ý kiến của Matsuoka không được phe chủ chiến Nhật để ý, vì kẻ thù chính của Nhật lúc bấy giờ là Hoa Kỳ.
Stalin ra lệnh phải có những cử chỉ thân thiện đối với Đức, bao gồm cả việc đẩy nhanh khâu vận chuyển các sản phẩm Liên Xô đến đó. Ông không một chút mảy may phản ứng lại lời cảnh báo của Churchill về viễn cảnh Đức sẽ tấn công Liên Xô. Trong suốt mười ngày trước cuộc xâm lăng của Đức Quốc Xã – mặc cho mọi loại thông tin về mối đe dọa của Đức – Stalin đã cố gắng thực hiện những điều tốt nhất, hay có lẽ là những điều tệ nhất, để xác nhận lòng tin của mình vào Hitler và nước Đức.
Cuộc tấn công của Đức thoạt đầu đã làm Stalin sốc đến câm lặng. Molotov cũng ngỡ ngàng sau khi Đức tuyên bố chiến tranh cũng đã thốt lên: “Chúng ta đáng bị điều này sao?”.
Những mệnh lệnh đầu tiên của Stalin cho quân đội Liên Xô là đừng phản ứng gì cả. Phải mất nhiều giờ đồng hồ sau cuộc xâm lăng – cho đến trưa – thì Stalin mới ra lệnh cho quân đội phản kháng.
Việc Stalin đã run sợ ra sao trong suốt những ngày tấn công đầu tiên của Đức Quốc Xã vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Cuối cùng Stalin đã xốc lại được tinh thần của mình. Vào ngày 3/7/1941 – mười một ngày sau cuộc xâm lăng của Đức – ông gọi nhân dân Liên Xô là một tập thể ái quốc. Tới thời điểm đó, một số đơn vị Đức Quốc Xã đã xâm nhập miền Tây Liên Xô sâu được hơn 160 km và đang tiến đến Moskva.
Dĩ nhiên vẫn còn đó những nghi vấn dành cho các sử gia. Một vấn đề là nhiều văn khố Liên Xô vẫn còn đóng cửa, và văn bản của họ thường là không đáng tin cậy trong mọi trường hợp. Một nghi vấn sâu xa hơn vẫn chưa giải quyết được nằm ở chỗ mục đích chính của Hitler vào năm 1941 là gì. Trước nhân dân và đồng minh của mình, ông đã có những giải thích rõ ràng và đơn giản. Hitler chưa bao giờ thoải mái trong việc liên kết với Liên Xô. Ông kinh tởm chủ nghĩa cộng sản. Nhưng còn có một yếu tố khác, có lẽ mang tính quyết định, trong tâm trí của ông. Ở đâu đó ông đã buông lời nhận xét về điều này trước một số tướng lĩnh của mình. Những lời đó liên quan đến Anh quốc – và đằng sau đó là Hoa Kỳ. Một khi đã chinh phục Liên Xô, buộc Stalin quy hàng hay phải rút đi những gì còn lại của quyền lực Liên Xô đằng sau vùng Ural để chạy sang Siberia, thì khi đó Churchill và Roosevelt có thể làm được gì? Họ phải đối diện với một kẻ khổng lồ Nazi – Á – Âu, với đội quân Đức lớn mạnh không còn phải chiến đấu trên hai mặt trận nữa.
Vấn đề của Stalin nghiêm trọng hơn nhưng lại đơn giản hơn. Vào đầu tháng 9/1941, ông viết cho Churchill rằng Liên Xô đang “chịu mối đe dọa chết người.” Chuyện đó không xảy ra; và đến năm 1942, ông nhận ra là mình sẽ nhận được nhiều thứ từ mối quan hệ đồng minh với Anh và Hoa Kỳ hơn là với Đức. Nhưng chí ít cho tới tháng 6/1941, Stalin và Molotov vẫn còn chuộng Đức của Hitler hơn là phương Tây.
Ở phương diện này có một chỗ dành cho một bản tiểu sử, hay một bản phác thảo tiểu sử, của một viên chức nham hiểm của Liên Xô mang tên Vladimir Dekanozov, người thân cận với Molotov trong suốt thời gian dài, một trong những kẻ thân Đức quan trọng trong hàng ngũ viên chức cao cấp của Liên Xô (và vào năm 1941 còn là Đại sứ tại Berlin). Có chứng cứ cho rằng khoảng cuối mùa xuân năm 1943, Molotov đã điều Dekanozov đến Stockholm với mục tiêu thiết lập mối liên hệ với Đức Quốc Xã. Ribbentrop đã sẵn sàng gặp Dekanozov nhưng bị Hitler cấm không cho gặp. Vào cuối năm 1953, Khruschev đã ra lệnh xử tử Dekanozov.
Hai tuyên bố lịch sử đã xuất hiện bằng văn bản sau khi cuộc chiến kết thúc được một thời gian. Vào tháng 12/1941, Churchill điều Bộ trưởng Ngoại giao Anthony Eden đến Moskva. Các lực lượng tiến công của Đức chưa tới được Moskva nhưng vẫn có thể nghe thấy tiếng súng ở bên ngoài bức tường của điện Kremlin. Stalin nói với Eden: “Vấn đề của Hitler là ông ta không biết nên dừng lại chỗ nào.” Eden: “Thế có ai biết không?” Stalin: “Tôi biết.” Hai từ này không hoàn toàn xa rời sự thật. Vào tháng 11/1944, Churchill đến gặp De Gaulle tại Paris. De Gaulle nghiêm trách người Mỹ vì đã để Liên Xô chiếm toàn bộ Đông Âu. Churchill bảo, vâng, Liên Xô giờ đây là con sói đói khát. “Nhưng sau bữa ăn là đến giai đoạn tiêu hóa.” Liên Xô sẽ không thể tiêu hóa được phần lớn Đông Âu. Và quả đúng vậy.
Những sự kiện lịch sử trong bang giao quốc tế cách nay gần một thế kỷ qua những tài liệu đã được giải mật khiến chúng ta hết sức bất ngờ rất nhiều vấn đề quan trọng.
Những bài học lịch sử trong quá khứ luôn nhắc nhở những người cầm quyền của các quốc gia ngày nay luôn tỉnh táo trong cách ứng xử với các nước, nhất là những nước lớn đầy tham vọng bành trướng và luôn tồn tại trong họ một niềm đam mê thôn tính những nước nhỏ khác để thể hiện vị thế quyền lực của mình.
“Bạn – Thù” có thể thay đổi chóng vánh chung quy cũng vì quyền lợi của quốc gia dân tộc nên để một quốc gia tồn tại giữa “bầy sói” thì không cách gì khác là dân tộc phải đoàn kết để tạo một sức mạnh, biết chọn bạn tốt để liên minh khi xảy ra chiến tranh khi không thể nào cứ nhẫn nhịn để mong có hòa bình với một kẻ thù hiếu chiến.
Việt Nam như một định mệnh đã an bài khi về mặt địa chính trị sát sườn với một nước Trung Quốc khổng lồ luôn có những tham vọng về đất đai, bành trướng không khác gì Đức Quốc Xã của Hitler xưa kia!
Trước một kẻ thù nham hiểm và nhiều tính toán trong âm mưu thôn tính láng giềng, chúng ta khó biết trước điều gì sẽ xảy ra nay mai.
Trung Quốc có một bậc thầy về binh pháp là Tôn Tử nên nghệ thuật chiến tranh của họ “thiên biến vạn hóa” rất khó lường. Kết giao bên ngoài nghe chừng thân thiết kiểu “bạn Vàng – bạn Tốt” chỉ là cái chiêu bài vỏ bọc, còn cái sâu xa thì chúng ta phải nhìn những bài học lịch sử của họ mà hơn ai hết người Việt chúng ta biết quá rõ!
Mới đây chúng ta cũng thật buồn cười khi chính Trung Quốc cho phát hành một bản đồ mới đầy sức hoang tưởng của họ khi khoanh cả vùng Thái Bình Dương kể cả Hawaii của Mỹ vào vùng biển …Trung Quốc! Tham lam quá độ kiểu Trung Quốc thì chúng ta không lạ gì!
Đừng cứ nghĩ rằng Việt Nam đã ký những Hiệp ước Tương trợ với Trung Quốc rồi chúng ta cứ yên tâm với cái hiệp ước đó rồi đến một ngày nào đó chúng ta lại bị “sốc” đến ngớ cả người khi từng binh đoàn Trung Quốc bỗng xuất hiện khắp các vùng miền của Việt Nam! Khi đó chẳng khác gì Stalin “ngớ” người vì sự “phản bội” của Hitler khi từng binh đoàn Đức Quốc Xã đang ngấp nghé kinh thành Moskva!
Ở đời thì thường “ Mã tầm Mã, Ngưu tầm Ngưu” và chúng ta cũng đừng tự biến mình thành Mã, Ngưu để làm “bạn với tất cả” dẫu biết đó là bạn xấu.
Tốt là tốt, xấu là xấu, chớ trộn lẫn theo kiểu vàng thau để rồi sau này nhặt ra là khó lắm thay!
Hoài Nguyễn – 17/5/2016
*Bài viết có tham khảo bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse của Nghiencuuquocte.net
Biên khảo - Hoài Nguyễn
Với người dân miền Nam thì hồi trước 1975 vẫn xem hai nhân vật Hitler và Stalin là cùng “một giuộc” như nhau, nghĩa là sự tàn ác đối với nhân loại là như nhau thậm chí Stalin còn hơn Hitler một bậc về sự tàn ác khi giết hại ngay chính đồng bào của ông ta trong khi Hitler chỉ sát hại những người dị chủng với dân tộc Đức.
Miền Bắc thì lại khác! Những ai sinh ra và trưởng thành tại miền Bắc trước năm 1975 và một thời gian dài trong các nhà trường của Việt Nam sau 1975 các thế hệ học sinh được học rằng, Thế chiến II (1939 -1945) gần như đồng nghĩa với cuộc "Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại" của Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Stalin, đại diện cho cái Thiện, gần như là cứu cả thế giới khỏi thảm họa phát-xít Đức của Hitler, đại diện cho cái ác!
Ngày nay với sự bùng nổ thông tin nhờ mạng internet toàn cầu nên những thông tin mang tính tuyên truyền nhồi nhét dần dần bị “lật tẩy” và người ta có những cái nhìn với những góc độ khác nhau về thế giới khi có quá nhiều tài liệu mật, tối mật lần lượt đã được giải mã nhất là sau sự kiện chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ thập niên 1990 của thế kỷ trước.
Vậy thực tế những gì đã xảy ra trong lịch sử vào thời gian trước và trong Thế chiến II?
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, phe Bolshevik do Vladimir Ilyich Lenin lãnh đạo lật đỗ Nga hoàng Nikolai II, thắng thế trong cuộc nội chiến với các phe phái Menshevik và lập nên nhà nước cộng sản đầu tiên trên thế giới là CHXHCN Xô Viết gọi tắt là Liên Xô năm 1922. Nhà nước Liên Xô đã ký một thỏa thuận hợp tác quân sự chặt chẽ ngầm với Reichswehr (Phòng vệ Đế chế) của Đức, sự hợp tác này càng phát triển mạnh mẽ hơn sau khi nhà nước Đức Quốc Xã ra đời năm 1933.
Như vậy trước khi Thế chiến II nổ ra, ở châu Âu đã hình thành hai nhà nước độc tài, một ở phía Tây của Hitler và một phía Đông của Stalin lúc này đã thay thế Lenin vừa qua đời năm 1924.
Cả một “khu rừng Châu Âu” có hai con mãnh hổ là Đức Quốc Xã và Liên Xô đều nhăm nhe làm chúa tể nhưng lúc đó do thế và lực của hai mãnh hổ chưa đủ nên buộc chúng phải “hợp tác” ăn chia những con mồi nhỏ hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov đã ký với Bộ trưởng Ngoại giao Đức Quốc Xã Joachim von Ribbentrop một Hiệp ước bất tương xâm hay còn gọi là Hiệp ước Molotov – Ribbentrop (Molotov – Ribbentrop Pact) ngày 23/8/1939 (có hiệu lực 1/9/1939) với một điều khoản bí mật thỏa thuận chia nhau Châu Âu, tiếp tục những hành động quân sự xâm lấn mà đôi bên đã và đang thực hiện. Như vậy ngay từ trước khi Thế chiến II, dã tâm của Hitler và Stalin là như nhau với tham vọng muốn chia cắt Châu Âu và sau này hậu Thế chiến II đã hình thành nên hai khối Đông Âu và Tây Âu. Mọi sự diễn ra rất đồng bộ theo sự chỉ đạo của hai trùm độc tài này.
Đức Quốc Xã chiếm Áo, Tiệp Khắc năm 1938 thì Liên Xô tấn công Phần Lan năm 1939 và vì vậy Liên Xô bị đuổi ra khỏi Hội Quốc Liên. Đức đánh Ba Lan ngày 1/9/1939 ở phía Tây thì hai tuần sau, Liên Xô chiếm ở phía Đông. Đức chiếm Pháp và Tây Âu trong những năm 1939 - 1940 thì Liên Xô chiếm các nước vùng Baltic cùng Moldova...
Cứ thế cho đến khi gần như toàn bộ Châu Âu (trừ nước Anh) nằm dưới sự kiểm soát của hai nước Đức Quốc Xã và Liên Xô, và khi vùng đất đệm giữa hai bên không còn, đến lúc hai bộ máy chiến tranh khổng lồ phải chạm trán nhau. Hai con hổ đã giành hết mồi rồi bây giờ đối đầu nhau và nhe nanh vuốt gầm gừ với nhau! Một số tư liệu lịch sử đã chứng tỏ rằng hai bên đều tích cực và ráo riết chuẩn bị cho đụng độ tất yếu đó.
Do nước Đức của Hitler bất ngờ ra tay trước tấn công Liên Xô vào ngày 22/6/1941, cho nên cuộc chiến tranh này được người Nga gọi là “Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”. Giả sử nếu Stalin hạ lệnh đánh trước (họ dự tính ra tay mùa thu năm 1941) thì chắc là cuộc chiến đã được gọi là cuộc “Chiến tranh Giải phóng Vĩ đại” rồi!
Nếu Liên Xô không liên minh với Đồng Minh Anh – Mỹ và mở mặt trận thứ hai ở phía Tây thì chưa chắc họ đã giành chiến thắng với cái giá 26 triệu sinh mạng trước Đức Quốc Xã, để sau Thế chiến II kết thúc được đứng về hàng ngũ “Thiện” chiến thắng “Ác”!
Trong kho tư liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, có rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, mà ý nghĩa của nó xứng đáng nhận được nhiều sự chú ý hơn lâu nay.
Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Liên Xô mà thực hiện không thành, Stalin nổi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các thế lực phương Tây không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, kết quả của quyết định của người Anh và Pháp trong việc chống lại việc Đức chinh phục Ba Lan.
Ba phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Xô – Đức kể từ lúc ấy, phần lớn là của các cây bút và sử gia Đông Âu.
Sử gia người Anh Roger Moorhouse gọi Hiệp ước Xô – Đức này trong một quyển sách của ông là “The Devil’s Alliance” (Liên minh của quỷ) và đánh giá bản hiệp ước này rất có ý nghĩa đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó.
Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách là phần nói về những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, Chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa cộng sản đã là kẻ thù công khai của nhau một cách hiển nhiên và dữ dội. Từ những ngày thăng tiến chính trị đầu tiên của mình, Hitler đã mô tả Do Thái giáo và Chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thù chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý thức hệ. Cũng như Hitler, Stalin là một người theo chủ nghĩa dân tộc; ông gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế.
Trước khi ký Hiệp ước Xô – Đức, ngay từ tháng 5/1939, Hitler nhận ra rằng trong cuộc chiến của người Đức với phương Tây, Nga có thể đứng trung lập. Nhưng việc thực hiện điều đó không đơn giản; Nga phải có gì đó đổi lại. Trong suốt mùa hè năm đó, nhóm đại biểu Anh - Pháp đã tìm kiếm một dạng thỏa thuận quân sự với Nga và chuyện không đi được tới đâu. Có một số viên chức và nhà ngoại giao cao cấp của Đức, đứng đầu trong số đó là Bộ trưởng Ngoại giao Joachim von Ribbentrop của Hitler, có khuynh hướng thiên hẳn về thỏa thuận Đức – Nga.
Trong lúc đó, tại Moskva, Stalin đã bắt đầu có động thái: đầu tháng 5, ông sa thải Bộ trưởng Ngoại giao người Do Thái của mình, Maxim Litvinov, và thay thế bằng Vyacheslav Molotov (người giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong suốt cuộc chiến và một thời gian dài sau đó). Hitler hiểu điều đó có nghĩa là gì. Vào tháng 8, Ribbentrop bay đến Moskva để ký Hiệp ước Bất tương xâm giữa Liên Xô và Đức; bức ảnh Ribbentrop với cây bút trong tay cho thấy ở vị trí đứng sau, Stalin mãn nguyện thấy rõ. Hitler hy vọng sự kiện gần như tuyệt diệu này có thể ngăn người Anh và người Pháp can dự vào cuộc chiến giành Ba Lan với ông. Điều đó đã không xảy ra, mặc dù Stalin không thất vọng vì điều đó.
Điều quan trọng hơn Hiệp ước Bất tương xâm là phần phụ lục của hiệp ước, một Nghị định thư Bí mật, vốn yêu cầu không gì khác hơn là phân chia Đông Âu, đặc biệt là Ba Lan, với một phần nước này sẽ bị Liên Xô thâu tóm. Ngoài ra, Đức công nhận “khu vực lợi ích” của Liên Xô tại Estonia, Latvia, Phần Lan, một phần Litva và tỉnh Bessarabia ở Romania. Moskva phủ nhận chính sự tồn tại của Nghị định thư Bí mật này trong suốt thời gian dài, ngay cả khi Thế chiến II kết thúc đã lâu. Những sự kiện đó vẫn tồn tại trong văn khố của Đức; và vào năm 1939 nó đã trở thành một hiện thực u ám và dễ sợ. Tận đến năm 1986, Molotov già nua (lúc đó đã hơn 90) vẫn phủ nhận chính sự tồn tại của sự kiện này trước một phóng viên Nga. Trên thực tế, nhiều hoàn cảnh của sự kiện này vẫn tiếp tục tồn tại xuyên qua cuộc thế chiến và cả những xung đột tiếp sau đó cho đến năm 1989.
Quân đội và nhân dân Ba Lan đã chiến đấu can trường chống lại người Đức trong suốt một tháng vào năm 1939 (gần lâu bằng Pháp với đội quân đáng kể của họ vào năm 1940). Nhưng 17 ngày sau khi Đức xâm lược, quân đội của Stalin đã xâm lăng Ba Lan từ phía đông. Vài ngày sau tại Brest, một điểm gặp gỡ lúc ấy nằm ngay trên phần do Liên Xô kiểm soát tại Ba Lan, có một cuộc duyệt binh chung nho nhỏ của binh lính và quân xa của Đức và Liên Xô. Chỉ hơn hai tháng sau, tức chưa đầy ba tháng sau khi Thế chiến II nổ ra, trận đánh duy nhất trên đất liền tại châu Âu là giữa Liên Xô và Phần Lan, vốn là dân tộc không chấp nhận sự kiểm soát của Liên Xô đối với đất nước họ. Người Anh thất kinh. Anh và Pháp thậm chí suy xét, trong thoáng chốc, về việc can thiệp quân sự, nhưng việc này đã không xảy đến. Quân đội Hitler sớm xâm chiếm Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ – và sau đó là Pháp. Churchill và Anh quốc đã đứng một mình, trong suốt hơn một năm sau đó.
Cuối tháng 9/1939, Ribbentrop bay tới Moskva lần nữa để thu xếp một số thoả thuận về đường biên giới, từ đó sẽ tiến hành Nghị định thư Bí mật kia.
Xuyên suốt cuộc chiến, trong số những viên chức cấp cao của Đức, Ribbentrop là người mong muốn tìm kiếm và duy trì những thỏa thuận Đức – Liên Xô nhất.
Ở khía cạnh này, chúng ta còn có thể chú ý đến những mong muốn hướng đến mối quan hệ song phương giữa Hitler và Stalin. Hitler cho rằng cần phải tiến hành những điều khoản trong mối quan hệ đồng minh với Stalin; về phần mình, Stalin thậm chí còn nhiệt tình hơn Hitler trong chuyện này. Một ví dụ là lời chúc tụng có lẽ không cần thiết của Stalin dành cho Hitler sau khi ký bản hiệp ước vào ngày 24 tháng 8 năm 1939: “Tôi biết dân tộc Đức yêu mến Führer (Quốc trưởng) của họ nhiều đến dường nào, do đó tôi nâng ly để chúc sức khỏe cho ông ấy.” Đáng kể hơn đối với hồ sơ lịch sử và hệ trọng hơn đối với nhân dân Đông Âu là ý định của Liên Xô và hành vi xâm lăng của họ ngay sau khi ký Hiệp ước Xô – Đức.
Vào cái ngày diễn ra chuyến viếng thăm thứ hai của Ribbentrop đến Moskva, Liên Xô bắt đầu gây áp lực lên các quốc gia Baltic. Liên Xô đưa ra yêu sách đòi thay đổi những chính quyền tại Baltic, đầu tiên là tại Estonia, sau đó là những nước láng giềng Latvia và Litva. Quan trọng hơn, giờ đây Liên Xô đã điều quân đến những nước đó, đặc biệt là đến các hải cảng của họ, làm suy giảm trầm trọng nền độc lập của những nước này. Chính quyền của những nước này chịu áp lực và đã phải tuân theo lệnh của Liên Xô, ngoại trừ Phần Lan. Hai tháng sau, Chiến tranh Mùa đông tại Phần Lan bắt đầu. Đội quân nhỏ bé của Phần Lan đã chiến đấu quật cường và dũng cảm, một thực tế mà ngay cả Stalin cũng phải thừa nhận; kết quả là xuất hiện một hiệp định trong đó Phần Lan từ bỏ một phần lãnh thổ cho Liên Xô nhưng vẫn duy trì nền độc lập cho phần lớn đất nước.
Tình hình tại Ba Lan còn kém may mắn và kinh khủng hơn nhiều. Ở đó sự chiếm đóng của Liên Xô chí ít cũng tàn bạo và thảm khốc – nếu không muốn nói nhiều hơn – so với những phần đất Ba Lan bị Đức khuất phục. Liên Xô trục xuất ít nhất một triệu người – bao gồm nhiều gia đình, mà không cho họ mang theo tài sản – tới Siberia, Kazakhstan và miền Bắc xa xôi của Liên Xô, và gần như không ai có thể thăm lại quê nhà của mình lần nữa. Vào tháng 4 và tháng 5/1940, khoảng 22.000 sĩ quan Ba Lan bị bắn chết gần Katyn. Hơn một triệu tù nhân và công nhân Ba Lan bị trục xuất tới Đức để chịu lao động cưỡng bức trong suốt thời chiến.
Đáng nói là nhiều việc làm thế này đã bắt đầu ngay sau khi Liên Xô chiếm được miền Đông Ba Lan vào tháng 9/1939. Một số người Ba Lan, bao gồm người Do Thái, đã chào mừng binh lính Liên Xô, những tưởng rằng binh lính Liên Xô đến để giải phóng họ khỏi Đức Quốc Xã. Sau đó họ thất vọng với người Nga đến mức một số người Do Thái ở miền Đông Ba Lan đã nghĩ rằng tốt hơn là họ nên trốn sang khu vực của Đức Quốc Xã, cho dù họ đã biết người Đức đối xử với dân Do Thái ra sao.
Từ năm 1939 đến 1941, có lẽ đa số dân Do Thái trên thế giới sống tại Đông Âu, hầu hết họ sống tại miền Đông Ba Lan, miền Tây Nga, Ukraina, và Belarus. Cuộc thanh trừng chung quyết của người Đức chưa được Hitler quyết định cho đến tháng 9/1941 và trước tháng 1/1942 vẫn chưa được thực hiện, nhưng theo nhiều cách khác nhau, số phận của họ đã được tiên đoán từ Hiệp ước Xô – Đức.
Vào ngày 14/6/1940, ngay cái ngày quân Đức diễu hành vào Paris, Moskva cuối cùng đã quyết định thi hành Nghị định thư Bí mật. Trong vòng một hai ngày, Nga tuyên bố tổng sáp nhập Estonia, Latvia và Litva vào Liên Xô. Thành viên chính phủ của những nước này hoặc bị cầm tù hoặc bị đày ải. Nhiều cựu viên chức ở đó bị xử tử, và ít nhất 25.000 người Baltic đã bị trục xuất tới Liên Xô. Hitler chở những người thuộc sắc tộc thiểu số Đức ở vùng Baltic đến Đức bằng tàu thủy của Đức.
Vào tháng 11/1940, Molotov sang Berlin. Đây không phải là chuyến đi thành công của ông. Cung cách ngoại giao của ông cứng đờ như tính cách ông vậy. Nhìn thấy Đức chinh phục gần hết châu Âu, ông đề xuất việc gộp Bulgaria vào khu vực của Nga. Theo đó Liên Xô sẽ có sự hiện diện gần Bosphorus, với cái giá phải trả là Thổ Nhĩ Kỳ. Người Đức không đáp lại lời đề xuất này. Vào một ngày tháng 12/1940, Hitler bắt đầu hoạch định một cuộc chiến chung cuộc với Liên Xô.
Stalin phần nào chỉ trích hành vi của Molotov tại Berlin; ông cho là Bộ trưởng Ngoại giao của mình có lẽ đã quá cứng nhắc. Đây là lối cư xử điển hình của Stalin trong suốt sáu tháng tiếp theo. Ông không thể và sẽ không tin Hitler sẽ khởi sự một cuộc chiến chống lại mình trong khi Đức vẫn còn Anh quốc để xử lý.
Stalin đã thực hiện một số động thái để cải thiện tình hình của Liên Xô. Ông thương thảo một hiệp ước giao hảo với Nam Tư, vốn chẳng được gì, vì Hitler đã xâm lược Nam Tư vào cái ngày ký hiệp ước này. Ông mời Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Matsuoka Yōsuke đến Moskva khi ông này trên đường quay trở về Nhật sau chuyến viếng thăm Berlin. Đáng ngạc nhiên là sau đó ông ký một Hiệp ước Bất tương xâm với Nhật.
Ngay sau khi Đức Quốc Xã xâm lược Liên Xô vào tháng 6/1941, Matsuoka khi trở về Tokyo đã đề nghị Nhật nên tấn công Liên Xô từ phía Đông. Giá trị của những bản Hiệp ước Bất tương xâm năm 1941 quả là nhỏ bé. Nhưng ý kiến của Matsuoka không được phe chủ chiến Nhật để ý, vì kẻ thù chính của Nhật lúc bấy giờ là Hoa Kỳ.
Stalin ra lệnh phải có những cử chỉ thân thiện đối với Đức, bao gồm cả việc đẩy nhanh khâu vận chuyển các sản phẩm Liên Xô đến đó. Ông không một chút mảy may phản ứng lại lời cảnh báo của Churchill về viễn cảnh Đức sẽ tấn công Liên Xô. Trong suốt mười ngày trước cuộc xâm lăng của Đức Quốc Xã – mặc cho mọi loại thông tin về mối đe dọa của Đức – Stalin đã cố gắng thực hiện những điều tốt nhất, hay có lẽ là những điều tệ nhất, để xác nhận lòng tin của mình vào Hitler và nước Đức.
Cuộc tấn công của Đức thoạt đầu đã làm Stalin sốc đến câm lặng. Molotov cũng ngỡ ngàng sau khi Đức tuyên bố chiến tranh cũng đã thốt lên: “Chúng ta đáng bị điều này sao?”.
Những mệnh lệnh đầu tiên của Stalin cho quân đội Liên Xô là đừng phản ứng gì cả. Phải mất nhiều giờ đồng hồ sau cuộc xâm lăng – cho đến trưa – thì Stalin mới ra lệnh cho quân đội phản kháng.
Việc Stalin đã run sợ ra sao trong suốt những ngày tấn công đầu tiên của Đức Quốc Xã vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Cuối cùng Stalin đã xốc lại được tinh thần của mình. Vào ngày 3/7/1941 – mười một ngày sau cuộc xâm lăng của Đức – ông gọi nhân dân Liên Xô là một tập thể ái quốc. Tới thời điểm đó, một số đơn vị Đức Quốc Xã đã xâm nhập miền Tây Liên Xô sâu được hơn 160 km và đang tiến đến Moskva.
Dĩ nhiên vẫn còn đó những nghi vấn dành cho các sử gia. Một vấn đề là nhiều văn khố Liên Xô vẫn còn đóng cửa, và văn bản của họ thường là không đáng tin cậy trong mọi trường hợp. Một nghi vấn sâu xa hơn vẫn chưa giải quyết được nằm ở chỗ mục đích chính của Hitler vào năm 1941 là gì. Trước nhân dân và đồng minh của mình, ông đã có những giải thích rõ ràng và đơn giản. Hitler chưa bao giờ thoải mái trong việc liên kết với Liên Xô. Ông kinh tởm chủ nghĩa cộng sản. Nhưng còn có một yếu tố khác, có lẽ mang tính quyết định, trong tâm trí của ông. Ở đâu đó ông đã buông lời nhận xét về điều này trước một số tướng lĩnh của mình. Những lời đó liên quan đến Anh quốc – và đằng sau đó là Hoa Kỳ. Một khi đã chinh phục Liên Xô, buộc Stalin quy hàng hay phải rút đi những gì còn lại của quyền lực Liên Xô đằng sau vùng Ural để chạy sang Siberia, thì khi đó Churchill và Roosevelt có thể làm được gì? Họ phải đối diện với một kẻ khổng lồ Nazi – Á – Âu, với đội quân Đức lớn mạnh không còn phải chiến đấu trên hai mặt trận nữa.
Vấn đề của Stalin nghiêm trọng hơn nhưng lại đơn giản hơn. Vào đầu tháng 9/1941, ông viết cho Churchill rằng Liên Xô đang “chịu mối đe dọa chết người.” Chuyện đó không xảy ra; và đến năm 1942, ông nhận ra là mình sẽ nhận được nhiều thứ từ mối quan hệ đồng minh với Anh và Hoa Kỳ hơn là với Đức. Nhưng chí ít cho tới tháng 6/1941, Stalin và Molotov vẫn còn chuộng Đức của Hitler hơn là phương Tây.
Ở phương diện này có một chỗ dành cho một bản tiểu sử, hay một bản phác thảo tiểu sử, của một viên chức nham hiểm của Liên Xô mang tên Vladimir Dekanozov, người thân cận với Molotov trong suốt thời gian dài, một trong những kẻ thân Đức quan trọng trong hàng ngũ viên chức cao cấp của Liên Xô (và vào năm 1941 còn là Đại sứ tại Berlin). Có chứng cứ cho rằng khoảng cuối mùa xuân năm 1943, Molotov đã điều Dekanozov đến Stockholm với mục tiêu thiết lập mối liên hệ với Đức Quốc Xã. Ribbentrop đã sẵn sàng gặp Dekanozov nhưng bị Hitler cấm không cho gặp. Vào cuối năm 1953, Khruschev đã ra lệnh xử tử Dekanozov.
Hai tuyên bố lịch sử đã xuất hiện bằng văn bản sau khi cuộc chiến kết thúc được một thời gian. Vào tháng 12/1941, Churchill điều Bộ trưởng Ngoại giao Anthony Eden đến Moskva. Các lực lượng tiến công của Đức chưa tới được Moskva nhưng vẫn có thể nghe thấy tiếng súng ở bên ngoài bức tường của điện Kremlin. Stalin nói với Eden: “Vấn đề của Hitler là ông ta không biết nên dừng lại chỗ nào.” Eden: “Thế có ai biết không?” Stalin: “Tôi biết.” Hai từ này không hoàn toàn xa rời sự thật. Vào tháng 11/1944, Churchill đến gặp De Gaulle tại Paris. De Gaulle nghiêm trách người Mỹ vì đã để Liên Xô chiếm toàn bộ Đông Âu. Churchill bảo, vâng, Liên Xô giờ đây là con sói đói khát. “Nhưng sau bữa ăn là đến giai đoạn tiêu hóa.” Liên Xô sẽ không thể tiêu hóa được phần lớn Đông Âu. Và quả đúng vậy.
Những sự kiện lịch sử trong bang giao quốc tế cách nay gần một thế kỷ qua những tài liệu đã được giải mật khiến chúng ta hết sức bất ngờ rất nhiều vấn đề quan trọng.
Những bài học lịch sử trong quá khứ luôn nhắc nhở những người cầm quyền của các quốc gia ngày nay luôn tỉnh táo trong cách ứng xử với các nước, nhất là những nước lớn đầy tham vọng bành trướng và luôn tồn tại trong họ một niềm đam mê thôn tính những nước nhỏ khác để thể hiện vị thế quyền lực của mình.
“Bạn – Thù” có thể thay đổi chóng vánh chung quy cũng vì quyền lợi của quốc gia dân tộc nên để một quốc gia tồn tại giữa “bầy sói” thì không cách gì khác là dân tộc phải đoàn kết để tạo một sức mạnh, biết chọn bạn tốt để liên minh khi xảy ra chiến tranh khi không thể nào cứ nhẫn nhịn để mong có hòa bình với một kẻ thù hiếu chiến.
Việt Nam như một định mệnh đã an bài khi về mặt địa chính trị sát sườn với một nước Trung Quốc khổng lồ luôn có những tham vọng về đất đai, bành trướng không khác gì Đức Quốc Xã của Hitler xưa kia!
Trước một kẻ thù nham hiểm và nhiều tính toán trong âm mưu thôn tính láng giềng, chúng ta khó biết trước điều gì sẽ xảy ra nay mai.
Trung Quốc có một bậc thầy về binh pháp là Tôn Tử nên nghệ thuật chiến tranh của họ “thiên biến vạn hóa” rất khó lường. Kết giao bên ngoài nghe chừng thân thiết kiểu “bạn Vàng – bạn Tốt” chỉ là cái chiêu bài vỏ bọc, còn cái sâu xa thì chúng ta phải nhìn những bài học lịch sử của họ mà hơn ai hết người Việt chúng ta biết quá rõ!
Mới đây chúng ta cũng thật buồn cười khi chính Trung Quốc cho phát hành một bản đồ mới đầy sức hoang tưởng của họ khi khoanh cả vùng Thái Bình Dương kể cả Hawaii của Mỹ vào vùng biển …Trung Quốc! Tham lam quá độ kiểu Trung Quốc thì chúng ta không lạ gì!
Đừng cứ nghĩ rằng Việt Nam đã ký những Hiệp ước Tương trợ với Trung Quốc rồi chúng ta cứ yên tâm với cái hiệp ước đó rồi đến một ngày nào đó chúng ta lại bị “sốc” đến ngớ cả người khi từng binh đoàn Trung Quốc bỗng xuất hiện khắp các vùng miền của Việt Nam! Khi đó chẳng khác gì Stalin “ngớ” người vì sự “phản bội” của Hitler khi từng binh đoàn Đức Quốc Xã đang ngấp nghé kinh thành Moskva!
Ở đời thì thường “ Mã tầm Mã, Ngưu tầm Ngưu” và chúng ta cũng đừng tự biến mình thành Mã, Ngưu để làm “bạn với tất cả” dẫu biết đó là bạn xấu.
Tốt là tốt, xấu là xấu, chớ trộn lẫn theo kiểu vàng thau để rồi sau này nhặt ra là khó lắm thay!
Hoài Nguyễn – 17/5/2016
*Bài viết có tham khảo bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse của Nghiencuuquocte.net
Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018
*Phong thái của một kẻ sĩ … sinh nhầm thời.- Phiếm luận - Hoài Nguyễn
*Phong thái của một kẻ sĩ … sinh nhầm thời.
Phiếm luận - Hoài Nguyễn
Trong những nhà thơ miền Nam thuộc hàng tiền bối, tôi đặc biệt yêu quý cụ Nguyễn Đình Chiểu, một “nhà thơ mù” nhưng “tâm ngời sáng” của miền đất “Nam kỳ Lục tỉnh” xưa kia.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là nhà thơ lớn nhất của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XIX, giai đoạn của một đất nước Việt Nam đầy nhiễu nhương bị ngoại xâm giày xéo và chiếm cứ.
Cụ Đồ Chiểu lúc này mắt đã bị mù lòa nhưng tai vẫn “chứng kiến” những cảnh đời éo le của nước nhà khi bị giặc Pháp đô hộ, biết cảnh của bọn bán nước cầu vinh đang nhỡn nhơ trên nỗi đau của đồng bào, nghe những câu chuyện của những bậc sĩ phu yêu nước luôn phản kháng chống lại sự đàn áp của bè lũ cướp nước và cướp nước.
Một sự tha hóa về đạo đức trong xã hội đã hình thành và phá vỡ cái “đạo” mà cha ông đã lưu truyền ngàn đời nay.
Lòng yêu nước thương dân của cụ Đồ Chiểu chỉ biết thể hiện qua ngòi bút, qua văn chương mang màu sắc “phản kháng bất bạo động”, mang tính “ẩn dụ” qua những tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay như: “Truyện Lục Vân Tiên” (1851) gồm 2082 câu thơ lục bát. Đây là một "bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý đáng trọng ở đời" đã làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu, và là một tác phẩm lớn của văn học Việt Nam, được nhân dân, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ yêu chuộng; “Dương Từ - Hà Mậu”(truyện thơ Nôm, bắt đầu soạn khoảng 1854); “Ngư Tiều vấn đáp” (1867); “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”(1861); và nhiều bài thơ văn khác…
Về quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, cụ dứt khoát đứng về phía nhân dân chống lại bọn cướp nước, bán nước và tay sai, bọn bồi bút đang phục vụ cho chế độ mới ngoi lên ở Việt Nam thời ấy.
Trong bài “Than đạo”, cụ Đồ Chiểu thể hiện một “thông điệp” về vai trò “kẻ sĩ” theo quan niệm thời đó rất rõ ràng:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Tòan bài “Than đạo” như sau:
Ba vua năm đế dấu vừa qua,
Nối đạo trời rao đức thánh ta.
Hai chữ can thường dằn các nước,
Một câu trung hiếu dựng muôn nhà.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Căm lấy lòng nhơ mong thói bạc,
Trời gần chẳng gánh gánh trời xa.
Hai câu thơ mang đến cho chúng ta một quan niệm văn chương thời ấy và vẫn còn tính “thời sự” cho đến tận ngày nay, đó là quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Những nhà thơ nhà văn như Nguyễn Đình Chiểu không thể cầm giáo gươm súng đạn và đánh giặc thì họ sẽ cầm bút để tấn công kẻ thù trên mặt trận tư tưởng tinh thần. Nó giống như con thuyền có thể là nhỏ bé kia, dẫu có trở bao nhiêu “đạo” thì cũng không đắm không chìm. Đạo đức là một thứ văn chương thời bấy giờ luôn hướng đến và đem vào thơ ca để mang đến sự truyền tải đến với người đọc. Còn mấy “thằng gian tà” gồm những kẻ bán nước và cướp nước kia dẫu có dùng bút mà vạch tội đâm thẳng vào bộ mặt chúng cũng không tà, không mòn bút.
Văn chương “tải đạo” đâm giặc bằng ngòi bút của ông thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc, vạch ra những tội ác mà bọn chúng đã gây ra cho chính nhân dân ta, những nỗi nhục nỗi khổ ấy được thể hiện rõ trong những câu thơ bài “Chạy Tây”:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”
Như vậy qua đây chúng ta thấy Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rõ quan niệm sáng tác trong hai câu thơ của mình qua những bài thơ của mình. Thế mới biết rằng Nguyễn Đình Chiểu luôn đi đầu trong việc cầm bút để đánh giặc.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu dễ dàng phân biệt “chính – tà” và kẻ cướp nước cũng như bán nước nên mặc dù không còn sức lực để chiến đấu chống ngoại xâm nhưng cụ đã “mài sắc” ngòi bút và dùng mảng thơ văn đạo lý về cuộc đời thường để phát triển trở thành thơ văn yêu nước, với hai nội dung chủ yếu: tố cáo tội ác của giặc và ca ngợi những tấm gương yêu nước sáng ngời.
Khi Pháp xâm lược Việt Nam, trước cảnh nước mất nhà tan, một số tên “bút nô”, “điếm bút”, “bồi bút” vì chút bơ sữa, cơm thừa canh cặn của bọn giặc “cướp – bán” nước, đã dùng thơ văn để tô vẽ cho bộ mặt của kẻ thù nhân dân, thanh minh và cố bảo vệ cho thái độ đầu hàng của chúng trước bọn giặc.
Đối lập với bọn này, ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu chỉ xoay quanh một vấn đề là vấn đề mất nước. Lời ca tiếng thép của ngòi bút ông lúc này đều hướng vào một mục tiêu duy nhất là cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu sống không chỉ hiện diện bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm gian hiểm, bọn Đặng Sinh ỷ thế làm càn, bọn tham vàng bỏ nghĩa Võ Công, mà còn nhiều bộ mặt xấu xa gian ác và giả dối khác.
Bọn chúng đối lập với những con người sáng ngời đạo đức như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực. Tuy trải qua nhiều gian nan nguy hiểm nhưng cuối cùng những người tốt vẫn được hưởng sung sướng, hạnh phúc. Đó chính là giấc mơ lớn về cuộc sống tốt đẹp với những con người tốt đẹp, sống theo đạo lý của nhân dân, như nhân dân mơ ước.
Hơn thế kỷ sau, đất nước Việt Nam lại có xu hướng quay lại thời kỳ của cụ Đồ Chiểu xưa kia, cũng với bọn cướp nước và bán nước nhưng với hình thức và nội dung tinh vi hơn nhiều.
Ngày nay bọn bồi bút, điếm bút, đĩ bút … đông nhan nhãn như quân Nguyên và cũng như xưa kia, vì miếng cơm manh áo, vì bơ thừa sữa cặn mà bán rẽ lương tâm, quay lưng với dân tộc, đất nước … sẵn sàng bẻ cong ngòi bút viết tung hê những điều mà ai cũng biết là trái với lương tri loài người, là phục vụ cho bọn cai trị độc tài…
Như người ta vẫn thường ca cẩm ngày nay “bọn Ác” nhiều hơn “người Hiền”, quỷ sứ nhiều hơn thiên thần, bọn nịnh thần lấn át trung thần, người ngay sợ kẻ gian … thì bọn cầm bút cũng vậy!
Thời đại ngày nay đầy rẫy những bọn tham quan ô lại mà người ta ví như chuột, sâu đục khoét tài nguyên đất nước, chèn ép nhân dân, sống phè phỡn xa hoa trên nỗi đau dân tộc, nhắm mắt làm ngơ cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc gặm nhắm dần mòn đất đai tổ tiên để lại…
Bây giờ tìm ra những người như cụ Đồ Chiểu xưa kia thật hiếm, nhưng mới vừa mở mắt ra đã thấy bọn “bưng bô” đông kịt như bầy kền kền chờ rỉa rói xác chết!
Tìm ra cái “chất dũng” của người cầm bút hôm nay để “đâm mấy thằng gian” khó như tìm kim đáy bể!
Bây giờ tìm đọc thơ văn “kiểu” như của cụ Đồ Chiểu nhằm vạch mặt bọn người theo giặc, phản bội quê hương, bọn "theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc" đế "ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì", những kẻ tham danh cầu lợi "ăn dơ tanh rình, đổi hình tóc râu" thực sự khó lắm thay!
Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng về một người trí thức yêu nước, sống và lao động nghệ thuật trong hoàn cảnh lịch sử đất nước trải qua một thời gian khó nhưng vĩ đại. Toàn bộ cuộc đời ông từ ý nghĩ đến hành động đều thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc. Sự nghiệp thơ văn của ông là thơ văn yêu nước. Theo ông, nhân nghĩa là yêu nước thương dân, biết đứng về lẽ phải của nhân dân chống lại áp bức của tà quyền.
Tóm lại, thơ văn đạo lý của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ truyền thống đạo lý của dân tộc, ca ngợi đạo làm người trong cuộc đời thường, có giá trị giáo dục sâu sắc. Ngòi bút của cụ thương ghét rất rõ ràng, dù thực sự lúc ấy chính – tà đang lẫn lộn, không phải ai cũng nhận ra con đường chính nghĩa để đi theo. Còn thơ văn yêu nước của ông "không đi bên lề các cuộc khởi nghĩa, mà trực tiếp tham gia vào phong trào kháng chiến như một thành viên thực sự. Nó giải quyết những khúc mắc về tư tưởng, động viên tinh thần nghĩa sĩ và nhân dân. Vì vậy nó cũng hầu như mang nguyên vẹn cái âm điệu bi hùng của cuộc sống và con người thời đại…
Cái tên Nguyễn Đình Chiểu sẽ còn được con cháu mai sau nhắc đến mãi mãi như một kẻ sĩ … sinh nhầm thời ....
Copyright of Hoài Nguyễn - (16/5/2017 )
Phiếm luận - Hoài Nguyễn
Trong những nhà thơ miền Nam thuộc hàng tiền bối, tôi đặc biệt yêu quý cụ Nguyễn Đình Chiểu, một “nhà thơ mù” nhưng “tâm ngời sáng” của miền đất “Nam kỳ Lục tỉnh” xưa kia.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là nhà thơ lớn nhất của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XIX, giai đoạn của một đất nước Việt Nam đầy nhiễu nhương bị ngoại xâm giày xéo và chiếm cứ.
Cụ Đồ Chiểu lúc này mắt đã bị mù lòa nhưng tai vẫn “chứng kiến” những cảnh đời éo le của nước nhà khi bị giặc Pháp đô hộ, biết cảnh của bọn bán nước cầu vinh đang nhỡn nhơ trên nỗi đau của đồng bào, nghe những câu chuyện của những bậc sĩ phu yêu nước luôn phản kháng chống lại sự đàn áp của bè lũ cướp nước và cướp nước.
Một sự tha hóa về đạo đức trong xã hội đã hình thành và phá vỡ cái “đạo” mà cha ông đã lưu truyền ngàn đời nay.
Lòng yêu nước thương dân của cụ Đồ Chiểu chỉ biết thể hiện qua ngòi bút, qua văn chương mang màu sắc “phản kháng bất bạo động”, mang tính “ẩn dụ” qua những tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay như: “Truyện Lục Vân Tiên” (1851) gồm 2082 câu thơ lục bát. Đây là một "bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý đáng trọng ở đời" đã làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu, và là một tác phẩm lớn của văn học Việt Nam, được nhân dân, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ yêu chuộng; “Dương Từ - Hà Mậu”(truyện thơ Nôm, bắt đầu soạn khoảng 1854); “Ngư Tiều vấn đáp” (1867); “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”(1861); và nhiều bài thơ văn khác…
Về quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, cụ dứt khoát đứng về phía nhân dân chống lại bọn cướp nước, bán nước và tay sai, bọn bồi bút đang phục vụ cho chế độ mới ngoi lên ở Việt Nam thời ấy.
Trong bài “Than đạo”, cụ Đồ Chiểu thể hiện một “thông điệp” về vai trò “kẻ sĩ” theo quan niệm thời đó rất rõ ràng:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Tòan bài “Than đạo” như sau:
Ba vua năm đế dấu vừa qua,
Nối đạo trời rao đức thánh ta.
Hai chữ can thường dằn các nước,
Một câu trung hiếu dựng muôn nhà.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Căm lấy lòng nhơ mong thói bạc,
Trời gần chẳng gánh gánh trời xa.
Hai câu thơ mang đến cho chúng ta một quan niệm văn chương thời ấy và vẫn còn tính “thời sự” cho đến tận ngày nay, đó là quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Những nhà thơ nhà văn như Nguyễn Đình Chiểu không thể cầm giáo gươm súng đạn và đánh giặc thì họ sẽ cầm bút để tấn công kẻ thù trên mặt trận tư tưởng tinh thần. Nó giống như con thuyền có thể là nhỏ bé kia, dẫu có trở bao nhiêu “đạo” thì cũng không đắm không chìm. Đạo đức là một thứ văn chương thời bấy giờ luôn hướng đến và đem vào thơ ca để mang đến sự truyền tải đến với người đọc. Còn mấy “thằng gian tà” gồm những kẻ bán nước và cướp nước kia dẫu có dùng bút mà vạch tội đâm thẳng vào bộ mặt chúng cũng không tà, không mòn bút.
Văn chương “tải đạo” đâm giặc bằng ngòi bút của ông thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc, vạch ra những tội ác mà bọn chúng đã gây ra cho chính nhân dân ta, những nỗi nhục nỗi khổ ấy được thể hiện rõ trong những câu thơ bài “Chạy Tây”:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”
Như vậy qua đây chúng ta thấy Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rõ quan niệm sáng tác trong hai câu thơ của mình qua những bài thơ của mình. Thế mới biết rằng Nguyễn Đình Chiểu luôn đi đầu trong việc cầm bút để đánh giặc.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu dễ dàng phân biệt “chính – tà” và kẻ cướp nước cũng như bán nước nên mặc dù không còn sức lực để chiến đấu chống ngoại xâm nhưng cụ đã “mài sắc” ngòi bút và dùng mảng thơ văn đạo lý về cuộc đời thường để phát triển trở thành thơ văn yêu nước, với hai nội dung chủ yếu: tố cáo tội ác của giặc và ca ngợi những tấm gương yêu nước sáng ngời.
Khi Pháp xâm lược Việt Nam, trước cảnh nước mất nhà tan, một số tên “bút nô”, “điếm bút”, “bồi bút” vì chút bơ sữa, cơm thừa canh cặn của bọn giặc “cướp – bán” nước, đã dùng thơ văn để tô vẽ cho bộ mặt của kẻ thù nhân dân, thanh minh và cố bảo vệ cho thái độ đầu hàng của chúng trước bọn giặc.
Đối lập với bọn này, ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu chỉ xoay quanh một vấn đề là vấn đề mất nước. Lời ca tiếng thép của ngòi bút ông lúc này đều hướng vào một mục tiêu duy nhất là cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu sống không chỉ hiện diện bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm gian hiểm, bọn Đặng Sinh ỷ thế làm càn, bọn tham vàng bỏ nghĩa Võ Công, mà còn nhiều bộ mặt xấu xa gian ác và giả dối khác.
Bọn chúng đối lập với những con người sáng ngời đạo đức như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực. Tuy trải qua nhiều gian nan nguy hiểm nhưng cuối cùng những người tốt vẫn được hưởng sung sướng, hạnh phúc. Đó chính là giấc mơ lớn về cuộc sống tốt đẹp với những con người tốt đẹp, sống theo đạo lý của nhân dân, như nhân dân mơ ước.
Hơn thế kỷ sau, đất nước Việt Nam lại có xu hướng quay lại thời kỳ của cụ Đồ Chiểu xưa kia, cũng với bọn cướp nước và bán nước nhưng với hình thức và nội dung tinh vi hơn nhiều.
Ngày nay bọn bồi bút, điếm bút, đĩ bút … đông nhan nhãn như quân Nguyên và cũng như xưa kia, vì miếng cơm manh áo, vì bơ thừa sữa cặn mà bán rẽ lương tâm, quay lưng với dân tộc, đất nước … sẵn sàng bẻ cong ngòi bút viết tung hê những điều mà ai cũng biết là trái với lương tri loài người, là phục vụ cho bọn cai trị độc tài…
Như người ta vẫn thường ca cẩm ngày nay “bọn Ác” nhiều hơn “người Hiền”, quỷ sứ nhiều hơn thiên thần, bọn nịnh thần lấn át trung thần, người ngay sợ kẻ gian … thì bọn cầm bút cũng vậy!
Thời đại ngày nay đầy rẫy những bọn tham quan ô lại mà người ta ví như chuột, sâu đục khoét tài nguyên đất nước, chèn ép nhân dân, sống phè phỡn xa hoa trên nỗi đau dân tộc, nhắm mắt làm ngơ cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc gặm nhắm dần mòn đất đai tổ tiên để lại…
Bây giờ tìm ra những người như cụ Đồ Chiểu xưa kia thật hiếm, nhưng mới vừa mở mắt ra đã thấy bọn “bưng bô” đông kịt như bầy kền kền chờ rỉa rói xác chết!
Tìm ra cái “chất dũng” của người cầm bút hôm nay để “đâm mấy thằng gian” khó như tìm kim đáy bể!
Bây giờ tìm đọc thơ văn “kiểu” như của cụ Đồ Chiểu nhằm vạch mặt bọn người theo giặc, phản bội quê hương, bọn "theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc" đế "ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì", những kẻ tham danh cầu lợi "ăn dơ tanh rình, đổi hình tóc râu" thực sự khó lắm thay!
Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng về một người trí thức yêu nước, sống và lao động nghệ thuật trong hoàn cảnh lịch sử đất nước trải qua một thời gian khó nhưng vĩ đại. Toàn bộ cuộc đời ông từ ý nghĩ đến hành động đều thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc. Sự nghiệp thơ văn của ông là thơ văn yêu nước. Theo ông, nhân nghĩa là yêu nước thương dân, biết đứng về lẽ phải của nhân dân chống lại áp bức của tà quyền.
Tóm lại, thơ văn đạo lý của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ truyền thống đạo lý của dân tộc, ca ngợi đạo làm người trong cuộc đời thường, có giá trị giáo dục sâu sắc. Ngòi bút của cụ thương ghét rất rõ ràng, dù thực sự lúc ấy chính – tà đang lẫn lộn, không phải ai cũng nhận ra con đường chính nghĩa để đi theo. Còn thơ văn yêu nước của ông "không đi bên lề các cuộc khởi nghĩa, mà trực tiếp tham gia vào phong trào kháng chiến như một thành viên thực sự. Nó giải quyết những khúc mắc về tư tưởng, động viên tinh thần nghĩa sĩ và nhân dân. Vì vậy nó cũng hầu như mang nguyên vẹn cái âm điệu bi hùng của cuộc sống và con người thời đại…
Cái tên Nguyễn Đình Chiểu sẽ còn được con cháu mai sau nhắc đến mãi mãi như một kẻ sĩ … sinh nhầm thời ....
Copyright of Hoài Nguyễn - (16/5/2017 )
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




