Thứ Tư, 4 tháng 11, 2020

Về Thăng Long và lên Yên Tử

 

Về Thăng Long và lên Yên Tử
Nguyên Ngọc
Thứ Năm,  10/2/2011, 10:11 

Ảnh: UYÊN VIỄN.

(TBKTSG) - Cuốn sách nổi tiếng của tác giả Mỹ Eric J. Hobsbawm, được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới, ngoài tên chính Thời của các cực đoan (Age of Extremes) còn có một phụ đề lạ, rất gây chú ý: “Thế kỷ 20 ngắn” (The Short Twentieth Century) (1) .

Theo Hobsbawm thế kỷ 20 tự nhiên kéo dài từ năm 1901-2000, nhưng thế kỷ 20 thực thì ngắn hơn nhiều, nó chỉ bắt đầu năm 1917 và kết thúc năm 1991. Có hai đoạn dư thừa ở hai đầu, trước 1917 còn thuộc về thế kỷ 19, sau 1991 thì đã sang hẳn một thế kỷ khác, mà nay chúng ta đang sống, sống khác với trong cái “thế kỷ 20 ngắn” kia. Có và cần những lo toan, những suy nghiệm, và nói to tát một chút, những minh triết khác.

Lịch sử của xã hội và con người không phải bao giờ cũng trùng khớp với lịch sử tự nhiên. Các đoạn khúc của nó thường ngắn hơn hoặc dài hơn.

Lịch sử nước ta cũng vậy. Viết lịch sử Việt Nam hiện đại, chắc phải có một dấu chấm xuống dòng, thậm chí một chấm đậm chuyển đoạn ở 1975. Cũng thế, viết sử xưa của nước Việt, hẳn không thể để cho thiên niên kỷ I chấm dứt ở năm 1000, mà đúng ra phải là 1009.

Sang 1010 thì rất khác rồi: Lý Công Uẩn đã quyết rời vùng rừng núi chật hẹp lẩn trốn và chống đỡ Ninh Bình, ra đứng giữa thanh thiên bạch nhật trung tâm châu thổ sông Hồng, tuyên bố dõng dạc sẵn sàng đối diện với một thế giới mới, tạo một con đường phát triển mới, thế mới và số phận mới cho đất nước. Một khúc đoạn lớn khác của đời sống dân tộc lâu dài.

Có điều gì đó rất tương tự giữa hai cái chấm xuống dòng này, 1010 và 1975. Tương tự quan trọng, mà thật tiếc trong kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long vừa rồi ta đã lễ lạt quá nhiều mà suy ngẫm như rất đáng để suy ngẫm thì ít quá.

Tương tự lớn: chấm dứt kiếp sống nô lệ một ngàn năm; và chấm dứt cuộc đấu tranh để dứt khoát đi ra khỏi đêm đen nô lệ gần ba trăm năm. Trong hai cuộc sang trang này, một thiên niên kỷ trước cha ông ta đã nghĩ gì và làm gì? Còn chúng ta hôm nay?

Rất trọng đại là kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Nên cần, dịp này, hiểu cho ra ý tưởng lớn của tiền nhân từng khiến ngày ấy những người đứng đầu và chịu trách nhiệm về vận mệnh dân tộc đã có những hành xử không hề theo nếp nghĩ thông thường. Ít nhất thể hiện trong hai việc:

Một, dời đô về chính Thăng Long, chứ không ở đâu khác.

Và hai: các vua Lý, rồi Trần đều nhường ngôi rất sớm, khi đã chín từng trải lại còn rất sung mãn, sung mãn nhất cả lực và tuệ, để đều lên Yên Tử.

Vì sao?

Ảnh: TRẦN NGUYÊN HẢI.

Thử xin bắt đầu trước bằng điều thứ hai (2) . Ngô Thời Nhậm từng bảo các vua lên Yên Tử là muốn đứng trên đỉnh cao lợi hại thường xuyên ghé một con mắt cảnh giác về biên thùy phương Bắc hiểm yếu. Thế nước ta thời nào cũng vậy, dự đoán của nhà chiến lược họ Ngô chắc có điểm không sai.

Ta cũng lại biết những bi kịch cá nhân từng dày vò các vị vua rất vua và rất người ấy, khiến họ phải tìm đến cửa Thiền...

Song, chắc chắn không chỉ có thế, và thực tế lịch sử đã minh chứng: các vua lên Yên Tử là để làm triết học. Tác phẩm triết học quan trọng nhất của lịch sử tư tưởng Việt Nam, Khóa hư lục, đã ra đời trên chính đỉnh núi đó. Và quả thật Lý Trần là thời hiếm hoi đến gần như duy nhất người Việt có sự tập trung làm triết học.

Triết học gì? Có thể nói một cách thật vắn tắt và giản lược: vừa học lấy mô hình tổ chức nhà nước trung ương tập quyền mạnh theo học thuyết Nho giáo của chính kẻ xâm lược vừa bị đuổi đi, để đủ sức đứng vững trong cuộc Bắc cự lâu dài; vừa xây dựng cho dân tộc một nền tảng tư tưởng độc lập vững chãi, thâm hậu, lâu bền trên cơ sở triết học Phật giáo mà người Việt đã tiếp nhận rất sớm, có mặt sớm hơn cả Trung Hoa (ở Luy Lâu, quê Lý Công Uẩn), Việt hóa nó mạnh mẽ và sâu sắc bằng kết hợp nhuần nhuyễn với văn hóa cổ truyền bản địa.

Chính vì thế mà (1) lại có việc nhất thiết về Thăng Long, chứ không đâu khác. Thăng Long: hội tụ của nguồn cội văn hóa Việt tinh túy và lâu đời nhất.

Cho nên cuộc dời đô của Lý Thái Tổ, đương nhiên mang đầy ý nghĩa chính trị, kinh tế, quân sự... nhưng trước hết là một hành động văn hóa. Bởi vị vua vĩ đại đó của lịch sử Việt Nam đã quyết bắt đầu một sự nghiệp nghiêm trang, trọng đại: Phục hưng dân tộc.

Chống cự dai dẳng một ngàn năm để không bị “nấu chín” (2) bởi văn hóa phương Bắc là chiến công kỳ diệu. Đuổi hết xâm lược ngàn năm trên đất đai tổ quốc là tuyệt đỉnh anh hùng. Nhưng đối với dân tộc, với con người Việt, đến lúc này mới là khởi đầu, chứ không là kết thúc.

Giang sơn đã được dọn hết trở ngại bên ngoài để mà làm lại. Làm lại giang sơn, làm lại dân tộc, làm lại con người. Mà cuộc làm lại như vậy, ai cũng biết, bao giờ cũng phải là làm lại bên trong, trong gan ruột nội tạng của mình, lúc này mới bắt đầu, mới có thể bắt đầu. Và chỉ có thể làm bằng văn hóa. Đánh giặc là thuốc chữa bệnh ngoài da; văn hóa mới là thuốc cho nội tạng. Dời đô, rồi lên Yên Tử, các vua Lý Trần minh triết và uyên thâm biết chừng nào!

Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long là để nghiệm kỹ về ý tưởng và hành xử lớn ấy của người xưa.

Cho hôm nay.

Những tư tưởng lớn gặp nhau, dẫu qua hằng thiên niên kỷ.

Ở Nga có một tác phẩm của Maxime Gorki tên là Những ý tưởng không hợp thời, viết năm 1918 nhưng mãi gần đây mới được biết tới rộng rãi.

“Không hợp thời”, Gorki đã tự gọi những ý tưởng của mình như vậy, bởi trong những ngày sôi nổi và hứng khởi nhất của Cách mạng tháng Mười Nga, là nhà văn hóa lớn, yêu thống thiết nhân dân Nga và đất nước Nga mà ông vốn từng sống ở tận “dưới đáy” (3) , với tinh thần trách nhiệm và sự bình tĩnh, sáng suốt của một nhà văn hóa lớn, với lòng dũng cảm phi thường, không hề sợ đi ngược chiều gió cả giữa bão táp, ông cảnh báo: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng... Không được phép tin rằng cách mạng đã chữa trị và làm phong phú cho nước Nga về mặt tinh thần”.

Chúng ta hiểu ý tưởng sâu sắc của Gorki: Cách mạng đã gạt bỏ cản trở bên ngoài, trên bề mặt (“ngoài da”) để cho phép tiến hành chữa trị những căn bệnh chí tử của thực tế Nga, nhưng công cuộc chữa trị chỉ được bắt đầu sau cách mạng chứ không phải trong cách mạng, bằng cách mạng. Cách mạng đã thành công, nhưng những căn bệnh trầm kha thì vẫn còn nguyên đấy, thậm chí nếu trước kia nó ở trên bề mặt thì bây giờ cách mạng đưa nó lặn vào trong nội tạng chứ không hề trừ tiệt được nó. Và như vậy thì lại còn nguy hiểm hơn, nếu coi mọi sự đã xong và dừng lại. Hoặc cứ tiếp tục theo một cách ấy.

Rất triệt để, ông còn viết tiếp: “(Trong cách mạng) chúng ta sống giữa một cơn bão của các xúc cảm chính trị, trong sự hỗn độn của một cuộc chiến đấu giành quyền lực; cuộc chiến đấu này đánh thức bên cạnh các tình cảm tốt đẹp còn cả những bản năng đen tối. Điều đó là tự nhiên, nhưng lại đe dọa bẻ cong đi tính cách của chúng ta, và làm cho nó phát triển một cách giả tạo theo một hướng nhất định. Chính trị là miếng đất trên đó các loại cây gai của sự thù địch độc hại, các nghi kỵ xấu xa, các sự lừa dối trơ trẽn, vu khống, các thói háo danh bệnh hoạn và sự khinh thường nhân cách phát triển nhanh chóng và um tùm. Nếu đếm hết những cái xấu chứa trong con người - thì tất cả những thứ đó đều phát triển đặc biệt rất nhanh trên miếng đất của cuộc đấu tranh chính trị...”.

Còn có một nhà cách mạng lớn và là một bậc hiền triết hiện đại cũng từng suy nghiệm không hề kém sâu sắc: Nelson Mandela. Sau khi đã cống hiến cả cuộc đời để lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Phi lật đổ chế độ Apartheid, bình tĩnh và hiền minh đến kinh ngạc, ông nói với nhân dân của mình và tự nói với chính mình: “Chúng ta chưa tự do, chúng ta mới chinh phục được quyền tự do để trở nên tự do”. Cuộc đấu tranh để xây dựng con người tự do chỉ có thể bắt đầu sau cuộc chinh phục đó, chứ không phải trong và bằng cuộc ấy. Hơn thế nữa, vì thắng lợi của cuộc chinh phục, tất cả các phương tiện đều nhất thiết phải được huy động bằng bất cứ giá nào, nên chất độc của những phương tiện bắt buộc phải sử dụng ắt không thể không nhiễm độc xã hội và con người.

Thế kỷ mới của chúng ta, nói theo cách của Hobsbawm, không phải chỉ đến năm 2000 mới có mà đã bắt đầu từ năm 1975. Đã chuyển xuống dòng lớn từ đó, mà có lẽ chúng ta đã chưa đủ tỉnh táo và minh triết để nhận ra như người xưa. Cũng chưa đủ minh triết và tỉnh táo để biết rằng cách mạng và chiến tranh cách mạng là rất vĩ đại nhưng chỉ mới là dọn sạch giang sơn trên bề mặt, mặt khác công cuộc vĩ đại đó đã nâng cao dân tộc và con người Việt Nam lên nhưng những phương tiện chúng ta đã nhất thiết buộc phải dùng để giành thắng lợi sống còn lại cũng đã tiết chất độc không thể không có của chúng vào xã hội và con người.

Nếu không phải vậy thì làm sao giải thích được sự xuống cấp văn hóa (chứ không phải chỉ xuống cấp về văn hóa) nghĩa là sự suy đồi xã hội, bất ngờ, nghiêm trọng đến thế hiện nay, ngay sau chiến công lừng lẫy kia? Chúng ta đã không đủ tỉnh táo để nghiêm khắc tự nhìn vào nội tạng và dũng cảm suy tính một cuộc làm lại căn bản. Nói những lời rất to tát nhưng chúng ta đã không làm văn hóa như phải làm, như Lý Trần xưa đã làm, như Maxime Gorki và Nelson Mandela đã cảnh báo. Trong tất cả những công việc mà chúng ta đã nỗ lực rất lớn suốt 35 năm nay, không có nhận thức tỉnh táo và nghiêm khắc đó làm cốt lõi và nền tảng. Không “về Thăng Long và lên Yên Tử”.

Có phải tất cả vấn đề hôm nay là ở đấy? Nếu không thì dù ồn ào đến mấy, như trong kỷ niệm vừa rồi, vẫn là lận đận trong thế kỷ cũ, vẫn là chưa sang được thế kỷ mới. Chưa xuống dòng, chưa sang trang.

Để nói một ví dụ, chẳng hạn thử nghĩ tại sao nền giáo dục của chúng ta cứ như “bỗng dưng” lại ngổn ngang đến thế? Chỉ vì nó mãi loay hoay chưa xác định được nhiệm vụ bồi đắp nhận thức và tinh thần của một nền giáo dục cho sự phục hưng dân tộc. Và hơn thế nữa, chưa có nhận thức và tinh thần “về Thăng Long và lên Yên Tử”. Nhiều lĩnh vực khác cũng vậy. Chung nhất cũng là vậy.

Mùa xuân này, hãy cùng nghiệm lại xem.

_____________________________________________

(1) Nhà xuất bản Tri thức sắp cho ra mắt bản dịch tiếng Việt tác phẩm này. Trong bản dịch tiếng Pháp (Édition complexe - Paris, 1994), phụ đề nói trên được ghi là “Lịch sử thế kỷ 20 ngắn”.

(2) Trung Hoa gọi các dân tộc đã bị đồng hóa bởi xâm lược văn hóa Hán là các dân tộc đã được “nấu chín” (“chử lý”); những dân tộc chưa bị đồng hóa như vậy là những dân tộc “còn sống [sít]” (“sanh lý”).

(3) “Dưới đáy”, tên một tác phẩm nổi tiếng của M. Gorki.

"Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan"

 

Nhà văn Nguyên Ngọc: "Giá chúng ta giữ Tây Nguyên như một Bhutan"
Đức Tâm
Chủ Nhật,  18/9/2016, 10:12 
Nhà văn Nguyên Ngọc (ngồi giữa) chụp hình lưu niệm cùng cô trò trường THPT Nguyễn Hữu Huân - Thủ Đức - những người quý mến ông qua tác phẩm Rừng Xà Nu - Ảnh: ĐT

(TBKTSG Online) - Sáng ngày 17-9, nhà văn Nguyên Ngọc có buổi nói chuyện cùng các bạn trẻ TPHCM về Tây Nguyên, mảnh đất mà ông đã gắn bó hơn nửa cuộc đời. Câu chuyện nói về Tây Nguyên nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm trong bối cảnh hôm nay. TBKTSG Online lược ghi.

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống.

Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này.

Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật.

Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.

Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên, cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không?

Để khôi phục rừng Tây Nguyên, chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua, mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu.

Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của "Cuộc cách mạng một cọng rơm", không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây, dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên, họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh, nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau, chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ.

Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy, rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần, đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số, trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng, rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên cũng rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao?

Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết, "Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều".

Xin nói qua từ mọi. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ mọi và càng sai khi dùng từ mọi rợ theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên.

Thật ra, từ mọi vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ tơmoi trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar - Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahanr Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố  bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng.

Nói tiếp chuyện văn minh. Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá.

Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong chờ bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: "Nói tầm bậy". Và những thanh niên trong xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.

Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên giải thích rằng với họ, làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành.

Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt - Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với trời đất.

Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày ngay, xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người, ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá.

Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi  mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

Mời xem thêm:

Nước mội, rừng xanh và sự sống

Về Thăng Long và lên Yên Tử

Nước mội, rừng xanh và sự sống

 

Nước mội, rừng xanh và sự sống
Nguyên Ngọc
Thứ Năm,  18/2/2010, 10:13 

Không có rừng sẽ chẳng có nước, nghĩa là chẳng còn sự sống. Ảnh: Thanh Tùng.
(TBKTSG) - Câu chuyện này nói vào đầu xuân có thể hơi buồn, nhưng nghĩ kỹ lại có lẽ cũng có chỗ thích hợp, bởi vì đây là câu chuyện về màu xanh, màu của mùa xuân xanh. Của sự sống.

Quê tôi ở vùng Nam Trung bộ, đúng cái đoạn mà một nhà thơ từng thống thiết gọi là “dằng dặc khúc ruột miền Trung”. Ở đấy, miên man mấy trăm cây số ven biển là những cồn cát lớn, nơi trắng phau một màu trắng tinh khiết đến khó tin, nơi vàng rộm ngon lành trong nắng cháy. Làng cũng là làng trên cát; con người sống trên cát, tử sinh cùng với cát.

Tôi có đọc một ít lịch sử và tôi biết, lạ vậy, toàn cát vậy, nhưng đấy vốn không phải là một vùng đất nghèo. Từng có cả một vương quốc thịnh vượng trên dải đất này. Một vương quốc nông nghiệp và hải dương. Có lẽ một trong những bí quyết thịnh vượng của vương quốc ấy là nước, mà thiên nhiên đã rất thông minh giữ và dành cho dải đất thoạt nhìn thật khô cằn này, và con người thì cũng thật thông minh hiểu được món quà quý của đất trời, biết tận dụng lấy cho mình.

Cho đến chỉ cách đây đâu khoảng chưa đến nửa thế kỷ, ở quê tôi vẫn còn một kỹ thuật nông nghiệp rất đặc biệt, tinh tế và thú vị, gọi là kỹ thuật “tưới nước mội”, người Việt học được của người Chăm khi đi vào Nam.

Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành. Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là “thổ”, những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất.

Nước mội từ trong lòng cát rỉ ra, nhẹ nhàng, chậm chạp, từ tốn, mà bất tận. Những chiếc ao nước mội, những con mắt ngọc xanh rờn, mát rượi của đất đai, làng mạc, đồng ruộng quê tôi. Nhỏ nhoi và thầm lặng, chính chúng nuôi sống nền nông nghiệp từng trù phú của vương quốc xưa, và của cả cha ông chúng tôi nữa khi họ đi về Nam…

Champa cũng là một vương quốc biển, từng dong thuyền đến những đại dương xa, và từng có những cảng quốc tế rộn rịp trên suốt dọc bờ biển của mình. Những người có đôi chút kiến thức về giao thương biển đều biết rằng một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất của một cảng biển quốc tế là nước ngọt, phải rất dồi dào nước ngọt. Những con tàu lang thang nhiều tháng trời trên các đại dương mặn chát, lắm khi chẳng vì mua bán gì cả, vẫn phải ghé lại các cảng ven bờ để “ăn” nước ngọt.

Và trên dải cồn cát miên man của mình, người Chăm là những người thiện nghệ nhất thế gian về nghề tìm mạch nước, đào và thiết kế giếng nước ngọt. Họ như có con mắt thần, có thể nhìn thấy đường đi của nước ngọt âm thầm trong lòng đất, những dòng nước mội. Chính hệ thống giếng nước ngọt thánh thiện và tuyệt vời - từ nước mội bất tận rỉ ra mà có - đã tạo nên vương quốc đại dương Champa, tôi nghĩ nói thế cũng chẳng hề quá đáng đâu…

Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên. Ảnh: Thanh Tùng.
Từ nhỏ, là dân vùng cát cháy miền Trung, tôi đã có hạnh phúc được biết nước mội, nếm nước mội, ăn nước mội, sống và lớn lên bằng cây cỏ được nuôi bằng nguồn nước mội ân huệ bất tận.

Của trời.

Rồi về sau, cuộc đời lại đã cho tôi một may mắn khác: tôi hiểu hóa ra “trời” không phải là một đấng trừu tượng thần bí nào, mà là một thực thể sống động, khổng lồ, cường tráng, hùng vĩ…, mà lạ thay, cũng lại rất mong manh, hết sức mong manh, ngày càng đang trở nên cực kỳ mong manh!

Trường Sơn. Tây Nguyên.

Tôi đã được đi đến nơi đó và gắn bó hơn nửa cuộc đời của mình ở đó.

Hóa ra có một “bí mật” to lớn: ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên.

Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hàng triệu triệu năm nay, như một người mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, “để dành”, tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn...

Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này.

Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.

Có lẽ cũng cần nói thêm một chút nữa về điều này: không chỉ cho dải đất cát cháy miền Trung đâu. Trường Sơn có một đặc điểm quan trọng về địa hình: đường phân thủy ở đây không chạy đúng giữa mà sát ngay về phía Đông của rặng núi dằng dặc này, nghĩa là sườn phía Tây của Trường Sơn rộng hơn sườn phía Đông rất nhiều, có thể đến bốn năm lần. Tức nước từ Tây Nguyên đổ về phía Tây cũng nhiều hơn về phía Đông có thể đến bốn hay năm lần. Mà đổ về phía Tây tức là về Mêkông, về Nam bộ. Về toàn miền Nam.

Trong một chừng mực nào đó, Tây Nguyên, rừng Tây Nguyên có ý nghĩa quyết định đối với toàn miền Nam về tất cả các mặt. Nếu chỉ nói một mặt nước thôi, thì có lẽ cũng nên nhớ: nước ở miền Tây Nam bộ, ở Cà Mau kia, cũng có thể là nước mội từ Mẹ Rừng Tây Nguyên chắt chiu đưa về đấy, cho mênh mang vùng đất lúa của cả nước ấy không bị nhiễm mặn…

Hàng ngàn đời nay có những con người đã sống ở đây, gắn bó ruột thịt với rừng và đã tạo nên cả một nền văn hóa đầy minh triết bắt nguồn chính từ sự gắn bó ấy. Để bày tỏ đôi lời thật giản lược về nền văn hóa ấy và những con người ấy, chắc có thể nói vắn tắt như thế này: người Tây Nguyên không bao giờ coi rừng là tài nguyên. Không bao giờ có khái niệm khai phá, chinh phục, chiếm lĩnh tự nhiên, rừng. Đơn giản, rừng đối với họ là tất cả, là mẹ, là cội nguồn của sự sống. Mà họ kính trọng và tôn thờ.

Chúng ta, những người tự coi là rất văn minh, rất khoa học, chúng ta biết nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng chúng ta không biết, biết bằng hành vi cụ thể chứ không phải bằng lý lẽ to tát, rằng không có rừng thì cũng chẳng có, chẳng còn nước, nghĩa là cũng chẳng còn có sự sống, chúng ta không biết cái chân lý sơ đẳng và đơn giản ấy. Nhìn thấy rừng là con mắt ta hau háu nhìn thấy gỗ, gỗ, gỗ… Và hết gỗ rồi, bây giờ, thấy tài nguyên khác… Hau háu, hung hăng, hỗn hào chặt phá, và hết chặt phá, chẳng còn gì để chặt phá nữa thì đào bới…

Ở quê tôi, nay đã kiệt nước mội rồi. Chi tiết rất nhỏ ấy thôi, vậy đó, lại đang là tai họa tày trời!

Chắc chưa ai quên vụ lũ kinh hoàng ở Phú Yên vừa rồi. Cả thành phố Tuy Hòa, thị xã Sông Cầu chìm trong nước sâu. Gần trăm người chết. Ruộng đồng tan hoang… Một vị có trách nhiệm rất cao giải thích: Ấy là vì biến đổi khí hậu toàn cầu, và lại nữa, vì nhân dân mất cảnh giác. Tại trời và tại dân, trời thì ngày càng tai ác, còn dân thì mãi ngu dốt! Có một chi tiết hẳn ở cương vị của ông ấy, ông ấy ắt phải biết nhưng lại không thấy ông nói: năm 2009, ở Phú Yên áp thấp nhiệt đới gây mưa 330 mi li mét; năm 1991, cũng tại chính Phú Yên này, mưa 1.300 mi li mét, gấp hơn ba lần. Năm 1991 không có gì đáng kể, năm 2009 lại là tai họa khủng khiếp, vì sao?

Ở miền Trung - mà ở cả nước đều vậy - ngày xưa chỉ có lụt và lụt là mùa rất vui, thậm chí thân thiết, mỗi năm lại trở lại một lần, người ta chờ nước lụt, nước lên từ tốn, ruộng đồng được tưới tắm phù sa, cũng là lúc làm ăn rộn rã, có lẽ cũng tương tự như mùa nước nổi ở Nam bộ thuở nào.

Ngày nay không còn lụt, chỉ có lũ. Lũ rất khác lụt, lũ là nước đột ngột đổ ập xuống, như thác, hung bạo, nhanh và dữ cho đến nỗi, như vừa rồi, có người đã leo lên trần nhà rồi còn chết ngạt trong ấy vì không kịp dỡ mái để leo lên nữa! Lũ không mang phù sa đến, lũ quét sạch tất cả những gì nó gặp trên đường đi, và kéo đất đá từ trên rừng xuống lấp hết ruộng đồng.

Tất nhiên ngày xưa cũng có lũ, nhưng chỉ trong những năm mưa đặc biệt lớn, cả đời một con người chỉ chứng kiến vài lần. Ngày nay hễ đài vừa báo áp thấp nhiệt đới, thậm chí chỉ áp thấp, là cả nước đã rùng rùng lo chống lũ, sập núi, trôi rừng…

Con số 1.300 li năm 1991 và 330 li năm 2009 là con số hùng hồn, nó nói rằng vụ Phú Yên vừa rồi không phải chủ yếu do biến đổi khí hậu toàn cầu, không phải do trời, như lời giải thích uyên bác của vị quan chức nọ.

Do người. Do cơ chế nước mội tinh tế, tinh vi, thông minh, nhân hậu tuyệt vời của thiên nhiên đã không còn, đã bị phá vỡ, đã bị con người triệt diệt bằng cách triệt diệt rừng. Rừng Tây Nguyên. Trong một cuộc trao đổi ở Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Trung ương vừa rồi, nhiều chuyên gia đã cảnh báo: không chỉ có nguy cơ lũ quét đâu, sau lũ quét sẽ tiếp đến nguy cơ hạn hán sẽ còn khốc liệt, tai hại hơn. Bởi vì nước mội và lụt hàng năm hiền lành là cùng một cơ chế, cùng một tác giả: Rừng. Rừng Tây Nguyên.

Trong hơn 30 năm qua, chúng ta đã làm xong một công việc to lớn: cơ bản phá hết, cạo sạch đến tận cùng rừng tự nhiên trên cái mái nhà sinh tử của toàn Đông Dương này. Đã quét sạch xong hết trên mặt đất, bây giờ đang bắt đầu moi sạch nốt dưới lòng đất. Cao su tuyệt đối không phải là rừng, không sinh ra cơ chế nước mội. Các khu công nghiệp của công nghiệp hóa và hiện đại hóa càng tuyệt đối không phải là rừng. Một quy luật vận hành ổn định, điều hòa, thông minh của tự nhiên đã bị triệt diệt, nhanh và cơ bản hơn tất cả mọi giai đoạn từng có trong lịch sử. Một quy luật khác đã được thiết lập, quy luật của hỗn loạn.

Hãy nhìn lên cái mái nhà chung kia mà bao nhiêu thế hệ nhiều ngàn năm qua đã giao lại cho chúng ta, trên ấy đã mất hết màu xanh của sự sống.

Có còn cứu được không?

Còn, với một điều kiện: biết giật mình, dừng lại, bắt đầu lại.

Cũng cần nói: hầu hết các nước mà ngày nay ta gọi là những nước phát triển đều đã đi qua “con đường đau khổ”, cũng từng tàn phá hết rừng trên mặt đất và đào bới tàn bạo lòng đất, ở nước họ, rồi ở các nước khác. Chỉ có điều, gần một thế kỷ trước họ đã giật mình dừng lại, và từ đó bắt đầu làm lại, khôi phục lại màu xanh cho đất đai, núi non của họ.

Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáy, đã che mắt chúng ta. Đang còn tiếp tục che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn còn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.

Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên. Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng.

Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên.

Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan.

Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngửa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn.

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2020

Dưới lớp bụi thời gian - By Khai cvk50

 Dưới lớp bụi thời gian

By Khai cvk50
Sống là quên đi quá khứ và nhìn tới tương lai. Quên đây ấy là quên những đau buồn, những thù hận, để có một tâm hồn vui tươi lạc quan mà sống. Và như anh Duy Sỹ nói: “rán....”nghe nó lãng mạn và thích thú ,tôi thử phủi lớp bụi thời gian của đầu thập niên 50 của tiểu chủng viện Kontum, để các em có thể tìm ra nhũng gì vui vui không.
Ngày tựu trường đầu tiên (01/09/1950)
Hôm nay tôii nhớ rõ ngày mồng một tháng chín năm 1950, ngày tôi ngơ ngáo xách cái va li da rất trân quý vào thời ấy bước lên bậc thang xi măng cong cong trước nhà nguyện để trở thành “chú”của thiên hạ. Tôi không nhớ có ai đó giúp tôi mang cái va-li đến chủng viện không, nhưng tôi nhớ rõ tôi đã rán nê nó theo chân chú Bình (cha Bình sau này), người anh bạn dì của tôi, người đi trước tôi, hướng dẫn viên và là người bạn thân nhất của tôi cho đến bây giờ.
Tôi không khờ khạo hay rụt rè rè gì cả, mà trái lại rất hãnh diện những bước của một “chú” thiên hạ (thật có đáng không?). Tôi đi ngang phòng đã cho tôi một kỷ niệm khó quên. Tôi tạm gọi là phòng “bô tân ”. Các bạn biết không: thời đó việc chiêu mộ chủng sinh rất khó vì phần lớn địa phận Quy Nhơn bị chiếm đóng, nghĩa là do Việt Minh kiểm soát, thì địa phận Kontum không có đường “binh”. Việc chiêu mộ chỉ quanh quẩn xung quanh thị xã thôi. Năm 1948 không có chiêu sinh lớn nhưng chỉ mở cuộc thi tuyển bổ túc cho lớp 1947 thôi. Tôi được hay bị ghi danh thì tuyển vì tôi lúc đó chỉ cái gọi là “con thú hoang mới được thuần thục”. Các bạn biết mình là gốc Kon Hring làm gì có trường làng hay trường cha để học. Đến 10 tuổi mình cả ngày rông chơi chưa bao giờ biết abc là gì. Bố (cha) mình bắt đầu nghĩ đến phải dạy mình giáo lý để được rước lễ lần đầu. Mình bắt đầu học với người anh cô cậu hơn mình đến 2 tuổi. Lừa gió bẻ măng, cha mình dạy thêm cho mình nhận diện o,i,e. O, I, E là gì các bạn? Thưa đó là học vần thời đó đấy. Ba chữ để bắt đầu cuốn vần không phải là A, B, C mà là O, I, E. Rồi kế tiếp là A, Ă, Â. (Có cái rất “logic” cho cuốn vần cỗ đó nhưng bây giờ không phải lúc nói tới). Dông dài quá đi mất! Thôi tôi nói tiếp về phòng “bô tân”. Đến 1947 tôi được cha tôi gửi cho cha Lưu Phương để học trường “Cố Hiền” ở Tân Hương và cho học lớp Ba( cours élementaire). Lớp Ba cũng chỉ học “bâng quơ” vài ba tiếng pháp thôi. Ít ít không nhiều. Thế mà cũng được chỉ định đi thi để bổ túc cho lớp 1947. Thế mới gọi là “bị” thì đúng hơn vì lúc túng quá nên làm liều. Hôm đó tôi thật rụt rè vừa đi vừa run vào phòng thi. Chánh chủ khảo không ai khác là chính thị chú Trinh(cha Trinh đó). Thi tuyển chỉ một bài “dictée” ngắn. Tôi nhớ rõ không quên một âm thanh nào: “lơ bô tân.” “Giỏi” tiếng pháp như tôi làm sao tìm ra ba chữ đó. Thế thì tôi làm sao trúng tuyển được và đành phải về học thêm 2 năm nữa. Trúng tuyển duy nhất là chú Sự (cha Sự) và một chú nữa được cho là tạm được. Đó là Thiềng. Thiềng được cho là trúng tuyển, nhưng vì học học trường nhà nước “Maison l’eau” nên bị cảnh cáo giam lại cho lần sau. Hai năm sau, 1950, Thiềng. cùng nhập học với tôi. Kể đến đó các bạn biết tại sao tôi không quên phòng “lơ bô tân”. Về sau, tôi lại lại gặp lại thầy Trinh, mãn TCV, làm thầy được chỉ định làm giám thị năm tôi nhập chủng viện 1950. Bây giờ xin giải mã: ba chữ “lơ bô tân”. Nếu có chỉ chút ít tiếng pháp thì biết ngay đó là “Le beau temp”. Sau này khi quen biết Thầy Trinh, tôi có hỏi:
- Thầy có nhớ trước đây, thầy đánh rớt tôi khi thi tuyển vào lớp 47 không?
Thầy cười mỉm:
- Chút chút.
Rồi thầy kể chuyện ông Abraham, để cứu thành Sodoma, có thằng cháu trai, ông Lót, đang ở đó. Ông mặc cả, bắt đầu từ 50, xuống 45, 40, .... mà sau cùng 10 cũng chẳng có. Tôi biết ngay và nói:
- Như vậy nếu ngày đó mà con có viết ra được 10 mots vocabulaires, thì con cũng trúng tuyển chứ gì ?
Thầy lại cười. Nụ cười thật đáng yêu.
Chỉ chuyện “ lơ bô tân “ mà đã chiếm nhiều chỗ như thế. Thôi tôi xin tiếp tục.
Qua phòng “bô tân”là cầu thang lên phòng ngủ.
Bây giờ chúng ta quay lại hiện trường chủng viện một chút để biết tiểu chủng viện (TCV) thời đó ở đâu. Từ nhà nguyện chủng viện nhìn ra, thì bên phải là tiểu chủng viện và bên trái là đại chủng viện. Thời đó, 1950, tiểu và đại chủng viện cùng sát cánh bên nhau dưới hai cánh của gà mẹ đang ấp ủ mấy gà con đơn côi của mình. Như vậy các bạn biết không gian mà tôi sắp kể là cánh phải, bên cạnh phòng ĐC Kim, là Toà Giám Mục Kontum (TGM) Về ở đó, Ngài mới bắt đầu xây TGM Kontum hiện giờ.
Tôi bám gót xách Valy chạy theo chú Bình vì e sợ mình có lạc lối chăng?
Tôi bắt chước chú Bình đi liếc nhìn xem tên mình ở giường nào. Thì đây rồi, tôi được xếp nằm ở giữa các đàn anh. À mà quên, tôi không nói rõ tổng số người đang chiếm bao nhiêu của không gian to lớn của phòng ngủ, không được một phần tư. Xin thưa chỉ 21 người, nhưng đó là số người đông nhất kể từ 1945, khi Nhật đầu hàng và người Pháp trở lại. Và chủng viện cũng được mở cửa lại năm 1947. Số 21 là số tốt nhất nếu chơi bài phải không? Nếu tốt suy ra trong số 21 người đó, chúng ta có 2 linh mục, cha Bình và cha Sự. Tỷ lệ 2 trên 21, coi như 2/20 hay 10%. Nhưng nếu tỷ lệ áp dụng cho lớp 6e mà thôi thì ra 2/7. Xỉn ai biết sau này có trường hợp nào mà tỷ lệ cao hơn.
Trong ¼ nhà ngủ, thì 4 góc là 4 anh lớp 4e. Có 4 hàng giường, thì lớp của tôi, lớp “che” được xếp hàng giữa hàng 2 và 3. Tôi xin mở ngoặc để giải thích tiếng che một chút. “Che” là tiếng “lóng” để chỉ những kẻ thấp bé, người bất tài, là kẻ rốt nhất. Tiếng nầy có nguồn gốc không giống ai. Trên quốc lộ 14 có địa danh : ‘Ba biên giới’. Thời pháp gọi là ‘Trois frontiers’. Người Việt đọc là “ba lân che”. Thời chúng tôi có hai môn thể thao thông dụng mà giờ chơi bắt buộc mọi người phải ra sân: bóng chuyền và bóng đá. Sân bóng chuyền thì nhỏ hẹp mà khi chơi mọi người phải ra quân. Ai chơi khá khá thì vào trong, ai chơi dở thì đứng ngoài biên “hors de frontier”, để được đánh vớt hay đi nhặt những quả banh bị “hors”. Chúng tôi thường gọi họ là “ba lân che’. Khi cha Lôc vê đó, ngài gọi tắt là “che”. Tiếng “che” thông dụng đến đổi được dùng trong các bài huấn đức của cha Lộc để nói về Đức Mẹ tự hạ xưng mình chỉ là “che”, là rốt hèn, là tôi tá khi được báo tin làm mẹ của Ngôi Hai. Tiếng “che” đã vào ngõ ngoặccủa lảng quên nên cũng xin đóng ngoặc lại luôn.
Bây giờ tôi điểm danh nào:
Lớp 4e. 5 người : Hấn(rip), Ngai, Nho (rip), Ngoan, Sang(rip)
Ghi chú thêm: Hấn còn có tên là Nhàn, Nho là Nhi, Ngoan là Nhị và Sang là Nhì. Tại sao lại có thêm Nhàn, Nhi, Nhị, Nhì. Chuyện này lâm li bi đát lắm, xin sẽ kể sau. Ngai hiện còn sống ở VN và Ngoan (Nhị hay đại lão Đờn Cò) còn sống tại Mỹ.
Lớp 6e, 7 người : Rev.Bình, Cảnh, Hoá, Hộ(rip) Luôn(rip) Mai(rip), Rev.Sự (rip)
Ghi chú thêm: Bốn đã đi chầu Chúa. Cha Bình và Hoá ở VN, Cảnh ở Pháp.
Lớp 8e, 9 người: Hoà, Minh, Ngãi(Khải), Sinh(rip), Suy, Toán, Thiềng( Thuyền) Trọng , Vận(rip)
(Ghi chú thêm: Hoà, Minh, Toán , sống ở VN. Khải, Thuyền, Trọng ỏ Mỹ, Suy tại Úc. Sinh, Vận ( tên Dũng sau này) qui tiên.
Nếu với con số 21 người thì : 2 người làm Cha và 19 người còn lại đều được lên chức đức cha và đức ông cả, nhưng cha và ông chịu khó viết chữ nhỏ thôi.
Tính đến bây giờ, trong những người còn sống hay nói theo người Quảng Nam còn “chơi “được... ồ! Thôi khoan đã, tôi xin mở ngoặc để giải thích thêm chút về ý nghĩa của chữ “chơi” của cách nói của người Quảng Nam để tránh ngộ nhận và lại cho GL lại dám ăn tục nói khoét. Người Quảng Nam (có thể người Bình Định nữa) có cụm từ “có chơi không” để hỏi thăm sức khỏe của mấy đứa nhỏ của người thân quen. Chẳng hạn như : Con nhỏ hay thằng nhỏ (hay sắp nhỏ ) ở nhà “có chơi không?”có ý là con nhỏ, thằng nhỏ ở nhà có mạnh khỏe và chơi đùa không?. Để rõ hơn, tôi xin kể một câu chuyện vừa cười vừa “méo “trong giai thoại của chủng viện Kontum (CVK)
Trong thời kỳ bao cấp sau 75, TCV được phục vụ bởi các Sơ dòng Ảnh Vảy. Vì thời bao cấp, TCV thường được công an(ca) nhà nước gửi đến gọi là để giúp đỡ. Trình độ tiếng Việt của các sơ tương đối khá ( hầu hết các sơ là người dân tộc), nhưng vẫn chưa sạch nước cản giữa “con” và “thằng “. Một hôm có chú “ca”người Bắc vào chủng viện và lân la chào hỏi. Một Sơ tiếp chuyện và thăm hỏi:
- Con “cu “ông ở nhà có “chơi” không? ( Trình độ tiếng Việt của Sơ phân biệt được cách nói Bắc Nam, nhưng còn mù mờ giữa “thằng và “con” ,xin lỗi nhé).
- Bà Sơ đang hỏi gì ạ?
- Tôi hỏi : Con “cu” ông ở nhà có “ chơi” không?
- ? ! ? ! ( thế nà thế lào?!?!)
( Hết kể và nếu ai muốn nghe tiếp thì liên lạc với Rev Tiến, Đài Loan)
Bây giờ xin trở lại những người còn sống hay còn “chơi” được phân phối như sau:
USA : 4, Pháp: 1, Úc : 1, VN. : 5. Phần còn lại: Tiên Cảnh.
Xin kể tiếp. Trong va ly có gì? Các bạn đang muốn biết phải không? Thì đây, tôi xin kể.
Một bộ áo dài đen, quần trắng (không kể bộ áo đang mặc). Hai bộ áo quần “bà ba”. Đôi dép sandal, ca uống nước, kem đánh răng, xà phòng giặt quần áo và vài thứ lỉnh kỉnh khác như kim chỉ vân vân. Không quên, mỗi người phải mang theo mùng, chăn, gối. Bấy nhiêu cũng đủ cho chiếc Vali căn phồng rồi. Lại thêm một cái thau(chậu) để rửa mặt và giặt giũ. Đó là hành trang để bắt đầu chức “chú”,chức binh nhì “đơ dèm” cùi bắp (deuzieme classe)
Y phục bắt buộc của các chú là áo dài đen, quần trắng. Mặc mọi nơi và mọi lúc cũng giống như linh mục mặc áo chủng đen vậy. Mỗi người có đôi dép sandal , nhưng không được đi trừ lúc đi dạo bên ngoài và khi trời lạnh dưới 10 độ C. Khi đi dạo thì phải đội nón cối trắng mà tôi đã quên kê khai ở trên và được phép mang kính dâm. Các bạn thử nhắm mắt hình dung xem các chú hồi đó có chút ngố ngố thế nào đó phải không các bạn? Đó là phong cách tu hành của thời kỳ đó.
Như tôi mô tả: từ nhà nguyện nhìn ra: cánh phải là TCV và cánh trái là ĐCV. Cả hai đều tựu trường cùng một ngày . Cả hai cùng chung nhà nguyện trong giờ kinh và thánh lễ. Trừ giờ nguyện gẫm . Cả hai cùng chung nhà ăn và ẩm thực giống nhau. . Các thầy phụ trách xướng kinh và đọc sách trong lúc ăn. Chỉ ngày thứ 5, Chúa Nhật mới được phép nói chuyện trong nhà ăn. Trong nhà nguyện thì các thầy phục trách hết mọi việc. Hát lễ, hát kinh chiều đều do các thầy, các chú phụ họa theo.
Nhưng chỉ một năm sau các thầy được gửi đi học Saigon và bây giờ, chúng tôi (TCV) lên ngôi.
Lên ngôi thì phải trị vì. Chúng tôi phải phụ trách mọi việc của phụng vụ, ca hát, không những tại ở nhà mà cả ở Nhà thờ Chánh Tòa nữa với con số không còn là 21 nữa.
Ở ngôi vị độc tôn thì độc tài thương nảy sinh. Các bạn biết tài hát ca ở người dân tộc là bẩm sinh. Lúc ấy trường Cuenot có quảng 120 ca viên. Họ ca đoàn chính của nhà thờ Chính Tòa. Thế mà, vì ganh tị cai ưu điểm của họ, mà TCV đôi khi dành việc giúp lễ cả ca hát trong những ngày lễ có GM cử hành( lễ đại triều). Quãng hơn 10 đối 120 ca viên (vì phải trừ ra it 8 người lo việc giúp lễ cầm mũ gậy, thì lố bịch hết chỗ nói. Với 120 ca viên thì họ chỉ thở nhẹ ra thi đã đủ tràn ngập cả nhà thờ rồi. Còn 10 người thì sao? Chăc chắn chúng tôi phải lòi gân cổ để “rống” rồi. Nên biêt thêm thời ấy chưa có Micro. Thế thì hát hay hay rống hay vậy? Chỉ có một ngườ dám công khai “khen” chúng tôi. Đó là cha Alberty( Cố Hiền), người đã đào tạo những ca viên xuât sắc khi làm cha sở Tân Hương, như Nho, Hấn, hiện là nòng cốt về ca hát phụng vụ tại Chủng viện. Cha cũng là người dạy hát bình ca Gregorien la tinh cho chúng tôi. Lời khen đó là: “Các con hát như con bò rống”. Đó là toàn cảnh thực trạng của tiểu chủng viện Kontum vào năm 1951-52.
Thôi bây giờ gác lại những chuyện cười ra nước mắt đó đi và chúng ta điểm qua các đấng trong giai đoạn đó.
Đưc cha Phao lô Kim (Seitz).
Các bạn đã biết Đức Cha(ĐC) Gio an Khâm( Sion) là tiên nhiệm của ĐC Phao lô Kim. Ngài đã chết tại Pháp trong lúc ngài vê đó để chữa bệnh. Trươc khi đi, Ngài đã khai mạc Năm Thánh và phong chưc sớm cho 2 linh mục: Cha Lê và cha Văn. Hai linh mục nầy là 2 trái đầu mùa của chủng viện Kontum. Tại sao gọi là phong chưc sớm , vì 2 cha con phải ở lại ĐCV một năm nữa để hoàn tất chương trình học. ĐC Sion đã mất vào năm 1951. ĐC Kim được chọn để làm GM Kontum có lẽ từ tháng 8 hay 9, tôi không nhớ chính xác, nhưng nhớ rằng Ngài về nhậm chức sau ngày 3 tháng 10, 1952. Ngài nhận chức GM do ĐC Khuê (Hồng y sau nầy) tại Hà Nội. Tại sao tôi quả quyết rằng ĐC về Kontum sau ngày 3 tháng 10, ngày lễ Tê rê sa. Người Kontum thường nói: Tê- rê- xa nước sa đầy đồng. Năm đó lụt rất lớn theo chu kỳ 10 năm. ĐC Kim đã đến Saigon, nhưng chưa đến Kontum được vì đường giao thông bị lut ngập và đường hàng không thời đó chưa có. Chiêc cầu qua sông Dak Bla khi đó con ở dưới thấp chứ không phải chiếc cầu cao mà các bạn thấy sau nầy. Sau cùng ĐC Kim cũng đã đến Kontum. Ngài về Tòa Giám Mục (TGM) lúc đo còn tọa lạc tại nhà xứ Nhà thờ Phương Nghĩa. Còn nhà xứ lại ở bên kia đường tức là nhà dòng Ảnh Vảy bây giờ.
Nơi Ngài đến thăm đầu tiên là chủng viện. Chúng tôi tổ chức đon tiêp Ngài vơi hết khả năng mình. Long trọng nhưng không râm rộ vì luc đó chúng tôi chỉ trên dưới 20 người nhưng cũng ca hát cũng đọc diễn văn rất xôm trò. Đáp từ, Ngài nói bằng tiêng việt giọng bắc rât trôi chảy. (Tôi con nhớ rõ vài ý tưởng mà tôi không bao giờ quên được)
“Các con thân mến! Các con biêt khi cha vừa đên Kontum là cha đã muốn gặp các con ngay. Các con hát hết sức minh, các con đọc diên văn (discours en francais) cũng rất xuất sắc, kìa xem nào, các con it quá. Nhưng các con đừng lo vì trong vài năm nữa cha sợ nơi nầy sẽ không còn đủ chỗ để đón nhận các chủng sinh”. Các bạn đã biết và chứng rõ điều đó vì đến thời các bạn Kontum không đủ chỗ chứa mà phải mở rộng tới Sohier Đà lạt.
Ngài về Kontum la Ngài xúc tiến ngay việc xây cất Tòa Giám Mục mới và trước tiên Ngài dọn về ở ngay bên cạnh phòng ngủ chúng tôi. Tôi nhớ lại sự kiện vào lễ Phục Sinh năm 1953, như thường lệ chúng tôi tụ họp để hát bài alleluja( nhiều bè) trước khi cơm trưa, được thịnh soạn hơn thường. Hôm đó chúng tôi rất cao hứng vì ĐC mới dọn về cạnh bên, nên rung chuông lớn nhỏ inh ỏi. Đức Cha đang trong phòng bổng chạy vội ra ngoài và có vẻ lo lắng hỏi: “Có việc gì vậy? Tại sao các con kéo chuông?” Chúng tôi không biết một điều là ở ngoài Bắc, nếu chuông nhà thờ mà bât thường đổ chuông như thế là có sự kiện lớn, thì đó là báo động kêu cứu, nếu không bị hỏa hoạn thì có kẻ đến phá hại hay hành hung cha xứ. Đức Cha, mĩm cười trở về phòng khi được biết: “chúng con chỉ kéo chuông vì quá vui mừng khi ĐC về ở ngay cạnh chúng con”
Như vậy chúng ta xác định ngày di chuyển TGM về chủng viện là trong tuần thánh năm 1953. ĐC ở ngay cạnh chúng tôi. Hằng ngày ĐC lên xuông cùng một cầu thang với chúng tôi.
Chúng tôi được sống gần cạnh ĐC đến hêt niên khóa 52-53. Đến tháng 9 năm đó, 1953, chúng tôi, 2 lớp lớn được, gửi đi học tại tiểu chủng viện Giu se Saigon. Còn lưu lại là cvk52. Đầu năm 1954, chúng tôi về nghỉ Têt ở Kontum. Sau Tết, Kontum bị chiếm đóng. ĐC phải rời TGM Kontum, và sống lưu vong ở Pleiku. Cha Bình và tôi bị kẹt lại Kontum và về lại Kon Hơ ring làm nông. Thây Trí cũng ở lại Kontum bên cạnh TGM. Thế mới có chuyện Thầy Trí đã gìn giữ an toàn phòng ĐC. Chuyện đó là đúng vì Cha Bình và mình cũng ở đó suốt thời gian cho đên hiệp định Geneve năm 1954.
Đó chông gai đầu tiên của ĐC gặp phải trên con đường vốn lắm chông gai của chức vụ chủ chăn Giáo Phận Kontum.
Đức Cha Lộc.
Với tôi, ĐC Lộc là Giám Mục, là thần tượng, là tôn sư, là bạn.
Là thần tượng, Ngài có cái gì đó khác với các cha giáo đang thời. Ngài về với chủng viện Kontum trước ĐC Kim một năm. Ngài về mang theo không khí mới cho chủng viện thở. Trong các cuộc chơi giải trí, thể thao ngài hòa đồng với chúng tôi. Ngài cũng đi chân không, giặt giũ, cùng chúng tôi. Sau cơm tối, Ngài cùng đi bách bộ trên thềm hè chủng viện mà chúng tôi vây quanh cùng đi vơi Ngài. Chúng tôi rất mê Ngài kể chuyện đông, chuyện tây, chuyện trời, mây, mưa, gió mà tưởng như mông lung, giải trí. Nhưng không phải thế đâu, Ngài đang gieo sâu vào tâm trí chúng tôi một tinh thần kỷ luật tự giác. Trước đó, chúng tôi giữ kỷ luật “ngó chừng”, nghiêm chỉnh khi có bề trên hay giám thị, nhưng bây giờ chúng tôi biết mình phải làm gì khi không có ai coi ngó mình.
Là tôn sư, Ngài dạy học rất sáng giá. Ngài dạy tiếng pháp là chinh. Chúng tôi được truyền đạt nhiều tinh hoa của tiếng pháp. Bên cạnh đó, ngài cũng dạy chúng tôi lối hành văn tiếng việt khúc chiết, trong sáng. Hồi đó, chủng viện không dạy môn toán algèbre. Khi gửi chúng tôi đi học ở chủng viện Giu se Sai Gon thì mới đụng chuyện. Làm sao đây? Ngài bèn mở lớp dạy algebre câp tốc trong một tháng. Với các lớp đàn anh, họ có it nhất cái căn bản để chạy theo, nhưng riêng cho 5e như tôi, tôi dư sức qua cầu.
Là người bạn, Ngài rât gần gủi, ân cần. Trong các tháng hè, Ngài thường đến nhà chúng tôi chơi, cùng ăn, cùng ở cùng đi thăm các cha nơi xa xôi hẻo lánh. Cha Minh cũng được chúng tôi đên “ăn vạ” cả tuần, ăn măng le kho thịt gà, uống rượu đỏ, tôi ngủ sạp nhà sàn. Nhưng kỷ niệm thân thương đó nay đã nằm dưới lớp bụi thơi gian. Còn rât, rất nhiều chuyện về ĐC Lộc. Xin hẹn đến dịp khác.
ĐC Chung. ĐC Chung là giám mục CVK đầu tiên. Ngài có nickname là Pha Pha (papa=cha chung = ngày xưa gọi Đức Giáo Hoàng là Đức thánh Pha pha). Ngài không vào ĐCV Kontum( lúc ấy đang mở, mà được gửi học ở ĐCV Giuse Saigon ngay từ khi tốt nghiệp TCV Kontum. Ngài rất thân vơi gia đình chúng tôi vì hầu hết các thầy, các chú đều đến Kon Hơ ring vào các dịp hè. Ngài chịu chức linh mục vào năm 1955 và vinh qui tại Cồn dầu. Rât may, cha Bình và tôi được mừng vinh qui với Ngài vì năm đó chúng tôi về nghỉ hè tại Đà Nẵng. Chúng tôi lưu lại Cồn Dầu vài ba ngày rất vui và có gặp mặt Nguyên và Giáo ở đó đang chuẩn bị đi tu CVK
Ngoài kỷ niệm tình cờ được mừng vinh quy vơi Ngài như vừa kể trên, tôi còn có vài kỷ niệm khác cũng thú vị không kém.
Có lẽ vào năm 1948, khi ở Tân Hương với cố Nhì( cha Hutinet), tôi găp Ngài và Ngài gọi đúng tên tôi:
- Ngãi! Mi học ở đây hồi nào?
- Dạ. Từ môt năm nay rồi.
- Sao chưa đi học chủng viện.
- Vừa rồi thi rớt mất
- Vậy mi phải đợi 2 năm nữa.
- Dạ!
Thật là ấn tượng vì Ngài biết và nhớ đến mình đến cả tên. Như các bạn biết, Kon Hơ ring là “tụ điểm” của các thầy, các chú trong nhưng ký nghỉ hè. Ông Cụ tôi rất hiếu khách, nhất là các Linh muc, các Thầy, các Chú đên thăm chơi vào những dịp hè. Gà đày sân, măng le đầy rừng. Gà kho măng le trở thành “món ăn khủng” của các khách đã xó dịp dừng chân tại đây. ĐC biêt tôi hơn tôi biết Ngài vì lúc đó tôi chỉ là thằng nhóc con, chạy lon ton giúp bàn dọn dẹp bàn ghế. ĐC lại quen và được cha Hutinet cưng vì, Ngài đến dó để mượn chiếc xe dạp “dura” xe có giàn nhôm, nhẹ và là “nữ hoàng” vào thời ấy. Cha Hutinet rất “cưng” xế, đến nổi tôi cũng không được sờ tới, dù chỉ để lau chùi. Thế mới biêt cha Hutinet quí chú Chung như thế nào! Nên biết thêm là cha Hutinet là nguyên bề trên TCV Kontum và chú Chung là học trò ‘cưng” của Ngài đó.
Kỷ niệm thứ nhì là khi Ngài là cha sở TÂN CẢNH ( Tân Cảnh là tên do chính Ngài đật mại ra từ Dak Tơ kan), tôi có dịp đến ĂN TẾT với Ngài có lẽ vào năm 1959-60. Tôi nghĩ rằng Nguyên, Giáo cũng có mặt và một vài chủng sinh khác. Hôm đó la 30 Tết. Tôi đến đây với ý định là ngủ lại để mừng giao thừa với Ngài. Đến gần chiều thì chúng tôi mới bàn đến giao thừa tôí nay. Thì ra kế hoạch của Ngài là chỉ cần giết con gà trống lớn nhất là mấy cha con vui vẻ buổi tối tất niên rồi. Lúc đó trời còn sớm, gà chưa lên chuồng. Ngài cuời và vào phòng mang ra cây súng săn 12 (calibre 12), lắp “tút” (cartouche) đạn ria có gần dến trăm viên đạn nhỏ và ra ngoài tìm chú gà trống to tướng xem chừng như đang “hét ra lửa” giữa đám gà mái liễu yếu đào thơ. Ngài tách rời nó ra, đưa súng lên vai, nhắm, và “bầm”! Chú gà ra đi không kịp ăn Tết. Chúng tôi làm thủ tục tẫm nước nóng, vặt lông. Trên bàn mỗ, chặt đến đâu, chúng tôi nghe tiếng rắc rắc rớt xuống chậu nhôm. Chúng tôi có dịp cùng cười như ngày hội. Ngài nghe cười cũng đến
- Gà có mập(béo) không?
- Dạ mập lắm! Mà cha bắn giỏi quá.
- Mang, nai, heo rừng kia mới giỏi chớ một con gà thì là chi.
- Con gà hứng trọn trăm viên đạn “ria” của cha đó.
- Rứa hả?
Và dĩ nhiên, tối hôm đó chúng tôi mừng giao thừa có món cháo “ghé” thit gà với đạn ria.
Còn 2 kỷ niệm nữa, rất nhỏ nhưng khó quên. Lúc rời Kontum vào Sai Gon để vượt biên. Trưa đó tôi ghé lại nhà ngài khi đã là giám mục phó Kontum. Tôi đến để thăm Ngài vì từ ngày Ngài làm Giám Mục, tôi không dám gặp mặt Ngài dù chỉ một lần, vì sợ gây phiền phức cho Ngài. Thứ đến, tôi cũng có ý từ giả Ngài để đi xa. Tôi đã lựa lời nói hàm ý là tôi sẽ đi vượt biên bằng đường biển. Cha con găp nhau vui vẻ và tôi đã có bữa ăn đối với tôi lúc đó là “thịnh soạn”. Và một kỷ niệm, khi Ngài và ĐC Oanh tại Mỹ, tôi không thể đến thăm Ngài chỉ nói chuyện qua điện thoại. Cha con nói chuyện thật vui vẻ kéo dài cả tiếng đồng hồ kể những chuyện xưa, chuyện nay. Ngài nhớ rât rõ mọi việc. Đến hôm sau, tôi lại gọi Ngài nữa. Ngài không nhớ là tôi đã nói chuyện với Ngài hôm qua. Ngài lại hỏi tôi:
- Là Khải hả? Mi đang ở đâu.
- Con là Khải ở Georgia đây
- Mi ở cách đây bao xa?
- Cha không nhớ hôm qua Cha con mình đã nói chuyện cả tiếng đồng hồ mà cha không nhớ sao.
- Mi có gọi tao hôm qua hả?
Quả thật Ngài không nhớ những chuyên vừa mới xảy ra. Nhưng với những chuyện xa xưa, Ngài nhớ rất rõ. Sống lâu như Ngài đã là món quà quí giá lắm rồi.
Các cha bề trên.
Cha Décrouille. Tôi vào chủng viện lúc cha Décrouille làm bề trên tiểu chủng viện. Ngài là là mẫu bề trên “classic”, mẫu mực, nghiêm trang và đạo đức. Nhưng dưới thời Ngài, đã xuất hiện một thần tượng mà tôi vừa kể trên: cha Lộc và rồi ĐC Lộc. Từ cổ điển kiểu Décrouille, biến thành moderne kiểu Lộc. Chúng tôi thấy rõ điều đó, khi chúng tôi được gửi học ở Sài Gòn. Đối với cha Décrouille, tôi chỉ có một kỷ niệm khóc mếu máo khi bị cáo buộc bẻ đũa như tôi đã kể với các bạn rồi đó. Những bề trên tiếp theo: cha Thomaan, Cha Lộc, cha Thiệp. Ở Sohier có cha Trinh. Cha Chung rồi cha Vượng. Cac bạn biết các Ngài nhiều hơn tôi.
Tôi rất ít kỷ niệm với các đấng bề trên ngoài ĐC Lộc và cha
Trinh.
Tôi vào chủng viện đúng lúc chú Trinh “thăng cấp” Thầy. Cách đây 2 năm chính chú Trinh đã đánh rớt tôi vào chủng viện 1948 với cha Sự. Rớt là dĩ nhiên, không rớt mới là lạ.
Thầy Trinh làm giám thị và dạy môn Pháp văn và Toán lớp 6e. Hết năm thực tập thì thầy Trinh theo học ĐCV Giuse Sài Gòn.
Sau khi chịu chức LM, thì Ngài về chủng viện Kontum giúp cha bề trên Lộc. Ngài là quản lý và tiếp theo là Bề trên Sohier. Tôi không có kỷ niệm gì với Sohier và khiêm tôn hơn nữa là đến bây giờ tôi cũng chưa biết đến Sohier thơ mộng đó nằm ở đâu trong thành phố thơ mộng Dalat. Các bạn sau tôi biết cha Trinh nhiều hơn tôi vì tôi chỉ đơn thuần là người bạn tri âm của Ngài thôi. Thời gian phục vụ của ngài ngăn ngũi vì ngài đã ra đi trong một tai nạn xe trên đường Dalat-Saigon. Xin vĩnh biệt!
Một nhân vật xuyên thời gian từ mà các bạn ai cũng biết: Thầy Trí. Trước đây tôi đã đưa thông tin sai lạc về nguồn gôc thầy Trí. Tôi đã nói thầy Trí vốn là cựu latinh TCV Làng Sông, Qui Nhơn. Thực sự tôi đã tin như vậy vì thầy Trí rất giỏi môn Latinh. Tôi học môn Latinh với cha Khoa. Nhưng người giúp tôi thông đạt môn nầy là thầy Trí. Tôi mới biêt thầy Trí vốn là cựu Sư Huynh dòng Giu se Bình Định của ĐC Jean Sion. Thầy Trí chính là môn sinh của Ngài và chính Ngài đã mời thầy Trí đên Kontum. Trước khi làm giám thị, thầy Trí ở tầng dưới TGM với ĐC Sion, lúc bấy giờ là nhà xứ giáo xứ chính tòa bây giờ. Chúng tôi cũng quen biết thầy Trí ở đó qua những buổi đi dạo ngày nghỉ thứ 5, Chúa Nhật.
Thầy Trí “ trụ trì” tại TCV/KT từ 1951 đên mãn đời. Thầy đâ mất sau 1975 tại Kontum. CVK ai cũng biêt đên thầy Trí dù rằng chỉ biết thầy là người thường xướng bài hát Salve Regina mỗi tối. Thời chúng tôi, thầy có tên là Trí lác (đầu có nhiều ‘gàu’ trắng hay Trí tréo( khi ngồi, thầy có thể tréo chân đên 2 vòng). Khi về chủng viện làm giám thị, thày mang theo lồng chim gáy. Chim nầy gáy rất hay vì đã dụ bắt nhiều chim gáy hoang ở khu rừng mà bây giờ là Tòa Giám Mục.
Đó là những gì dưới lớp bụi thời gian, mà tôi đã gợi nhớ để góp phần với nhiều bạn khác, và với Tới Sáu Cam, trong mong ước có được một cái gì đó, để nối kết chúng ta, những CVK đã sống, đang sống và sẽ tiếp mãi trên cánh đồng truyền giáo Kontum muôn thuở.
D
saigo
16

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2020

ĂN TRÁI CÂY KHI BỤNG RỖNG

 

🍉🍋🍌ĂN TRÁI CÂY KHI BỤNG RỖNG🍊🍏
Bác sĩ Stephen Mak
💚 Gần đây, tỷ lệ thành công của tôi trong việc điều trị ung thư là khoảng 80% . Bệnh nhân ung thư lẽ ra không phải chết. Cách điều trị ung thư đã được tìm ra, chỉ là chúng ta có tin hay không. Tôi rất tiếc về việc hàng trăm bệnh nhân ung thư đã chết theo cách chữa trị truyền thống.
❤❤Tất cả chúng ta cho rằng ăn trái cây chỉ có nghĩa là mua trái cây, cắt ra từng lát và bỏ vào miệng, nhưng không dễ như vậy. Ðiều quan trọng là phải biết ăn ra sao và khi nào.
Ăn trái cây như thế nào mới đúng ?
🚫Không ăn trái cây sau bữa ăn.
Nên ăn trái cây khi bụng trống. Nếu ăn theo cách này, trái cây sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tẩy uế cơ thể, cho quý vị năng lực để chữa béo phì và những hoạt động khác.
🍉🍊🍋🍌🍍🍏🍐Trái cây là thức ăn quan trọng nhất❗
💚Thí dụ quý vị ăn hai lát bánh mì, rồi một lát trái cây. Lát trái cây đã sẵn sàng đi thẳng qua bao tử, rồi vào ruột, nhưng bị ngăn cản.
💚Trong khi đó, toàn thể bữa ăn bị thối rữa, lên men, và biến thành axít. Khi trái cây gặp thức ăn trong bao tử và chất axít tiêu hóa, tất cả thức ăn bắt đầu thối rữa.
❤Vậy hãy ăn trái cây khi bụng trống, hoặc trước bữa ăn! Quý vị đã nghe nhiều người than rằng - mỗi lần ăn dưa hấu, tôi bị ợ ; khi ăn sầu riêng, tôi bị sình bụng; khi ăn chuối, tôi cảm thấy muốn đi nhà vệ sinh v.v...
Thật ra tất cả những điều này sẽ không xảy ra nếu quý vị ăn trái cây khi bụng trống. Trái cây hòa với những thức ăn thối rữa, sẽ tạo nên hơi gas, và làm quý vị bị sình bụng.
Những việc như tóc bạc, hói đầu, tư tưởng bực bội, và bên dưới mắt bị quầng đen sẽ không xảy ra nếu quý vị ăn trái cây khi bụng trống.
🚫Không có chuyện vài thứ trái cây như cam🍊 và chanh🍋 có nhiều chất axít, bởi vì tất cả trái cây trở thành chất kiềm😍 (alkaline) trong cơ thể, theo bác sĩ Herbert Shelton, nguời đã nghiên cứu vấn đề này. Nếu quý vị nắm vững việc ăn trái cây đúng cách, quý vị sẽ có được bí mật của sắc đẹp, trường thọ, sức khỏe, năng lực, hạnh phúc và không béo phì.
🍹Khi cần uống nước trái cây - hãy uống nước trái cây tươi, không uống từ đồ hộp. Không uống nước trái cây đã nấu ấm. Không ăn trái cây đã nấu chín, bởi vì quý vị sẽ không có những chất dinh dưỡng, mà chỉ thưởng thức hương vị của trái cây. Nấu chín làm mất tất cả sinh tố.
☝️Nhưng ăn trái cây vẫn tốt hơn là uống nước trái cây. Nếu quý vị phải uống nước trái cây, hãy uống từng ngụm, từ từ, bởi vì cần để nước trái cây hòa tan với nước bọt trước khi nuốt xuống. (Phép dưỡng sinh Osawa cũng khuyên phải nhai cơm gạo lức 100 lần trước khi nuốt, để gạo hòa với nước bọt). Quý vị có thể chỉ ăn trái cây trong 3 ngày để thanh lọc cơ thể. Chỉ ăn trái cây và uống nước trái cây trong suốt 3 ngày, và quý vị sẽ ngạc nhiên khi bạn bè cho biết quý vị nhìn thật tươi sáng!
🥝Quả KIWI: Nhỏ mà rất mạnh. Có đủ các sinh tố potassium, magnesium, vitamin E & chất sợi. Lượng sinh tố C gấp 2 lần trái cam.
🍎Táo: Ăn một trái táo mỗi ngày, không cần đến bác sĩ. Dù táo có lượng sinh tố C thấp, nhưng có tính chống oxít hóa & flavonoids để giúp sự hoạt động của sinh tố C, do đó giúp hạ tỷ lệ ung thư ruột già, nhồi máu cơ tim và đứt mạch máu O.
🍓Dâu tây: là loại trái cây bảo vệ. Dâu tây có tánh chống axít hóa cao nhất trong số các loại trái cây chính, bảo vệ cơ thể tránh ung thư, chống chất free radicals (gốc tự do) làm nghẽn mạch máu.
🍊Cam: Thuốc tiên. Ăn từ 2 đến 4 trái cam mỗi ngày giúp khỏi bị cảm cúm, hạ thấp cholesterol (mỡ trong máu), tránh và làm tan sạn thận cũng như là hạ thấp tỷ lệ ung thư ruột già.
🍉Dưa hấu: Hạ nhiệt làm đỡ khát. Chứa 92% nước, và nhiều chất glutathione giúp hệ miễn nhiễm. Dưa hấu cũng có nhiều chất lycopene chống ung thư.
Những chất dinh dưỡng khác trong dưa hấu là sinh tố C & Potassium (Kali).
🍈Ổi &🍋 Ðu đủ đặc biệt là Gấc 🍅 : hạng nhất về sinh tố C, chứa rất nhiều vitamin C. Ổi có nhiều chất sợi, giúp trị bón. Gấc có nhiều chất beta -carotene tốt cho mắt, ngoài ra Gấc còn là loại quả chứa hàm lượng cực cao Lycopene ( cao gấp 70 lần cà chua ) có tác dụng chống ung thư cực mạnh.
🥤Uống nước lạnh sau bữa ăn có thể bị ung thư? Chuyện khó tin?? Cho những ai thích uống nước đá lạnh, bài này dành cho quý vị. Uống nước đá lạnh sau bữa ăn thật khoái khẩu. Tuy nhiên, nước lạnh sẽ làm đông đặc những chất dầu mỡ mà quý vị vừa ăn xong. Sẽ làm chậm tiêu hóa. Khi chất “bùn quánh” này phản ứng với axít, nó sẽ phân nhỏ và được hấp thụ vào ruột nhanh hơn là thức ăn đặc. Nó sẽ đóng quanh ruột. Chẳng bao lâu, nó sẽ biến thành chất béo và đưa đến ung thư. Tốt nhất là ăn súp nóng hay uống nước ấm sau bữa ăn
(Ðông y luôn khuyên nên uống nước ấm ).
Một điều nghiêm trọng về nhồi máu cơ tim💔: Quý vị nên biết rằng, không phải tất cả những triệu chứng nhồi máu cơ tim đều bắt đầu từ việc tay trái bị đau. Hãy chú ý khi bị đau hàm dữ dội. Có thể quý vị sẽ không bao giờ bị đau ngực khi bị nhồi máu cơ tim. Buồn nôn và toát mồ hôi dữ dội cũng là những triệu chứng thường xảy ra. 60% những người bị nhồi máu cơ tim trong khi ngủ sẽ không thức giấc. Ðau hàm có thể khiến quý vị tỉnh dậy khi đang ngủ say. Hãy chú ý và để ý. Càng biết nhiều, chúng ta càng dễ sống sót.
Một bác sĩ chuyên khoa tim cho biết, nếu mọi người nhận được bài viết này gửi tiếp cho 10 người khác, thì ít nhất một mạng người sẽ được cứu sống.
Bác sĩ Stephen Mak❤
Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, giờ đến phiên bạn !
Nguồn: Lối Sống Khoẻ