“The Devil’s Alliance” – Liên minh của quỷ giữa Hitler và Stalin.
Biên khảo - Hoài Nguyễn
Với người dân miền Nam thì hồi trước 1975 vẫn xem hai nhân vật Hitler và Stalin là cùng “một giuộc” như nhau, nghĩa là sự tàn ác đối với nhân loại là như nhau thậm chí Stalin còn hơn Hitler một bậc về sự tàn ác khi giết hại ngay chính đồng bào của ông ta trong khi Hitler chỉ sát hại những người dị chủng với dân tộc Đức.
Miền Bắc thì lại khác! Những ai sinh ra và trưởng thành tại miền Bắc trước năm 1975 và một thời gian dài trong các nhà trường của Việt Nam sau 1975 các thế hệ học sinh được học rằng, Thế chiến II (1939 -1945) gần như đồng nghĩa với cuộc "Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại" của Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Stalin, đại diện cho cái Thiện, gần như là cứu cả thế giới khỏi thảm họa phát-xít Đức của Hitler, đại diện cho cái ác!
Ngày nay với sự bùng nổ thông tin nhờ mạng internet toàn cầu nên những thông tin mang tính tuyên truyền nhồi nhét dần dần bị “lật tẩy” và người ta có những cái nhìn với những góc độ khác nhau về thế giới khi có quá nhiều tài liệu mật, tối mật lần lượt đã được giải mã nhất là sau sự kiện chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ thập niên 1990 của thế kỷ trước.
Vậy thực tế những gì đã xảy ra trong lịch sử vào thời gian trước và trong Thế chiến II?
Sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917, phe Bolshevik do Vladimir Ilyich Lenin lãnh đạo lật đỗ Nga hoàng Nikolai II, thắng thế trong cuộc nội chiến với các phe phái Menshevik và lập nên nhà nước cộng sản đầu tiên trên thế giới là CHXHCN Xô Viết gọi tắt là Liên Xô năm 1922. Nhà nước Liên Xô đã ký một thỏa thuận hợp tác quân sự chặt chẽ ngầm với Reichswehr (Phòng vệ Đế chế) của Đức, sự hợp tác này càng phát triển mạnh mẽ hơn sau khi nhà nước Đức Quốc Xã ra đời năm 1933.
Như vậy trước khi Thế chiến II nổ ra, ở châu Âu đã hình thành hai nhà nước độc tài, một ở phía Tây của Hitler và một phía Đông của Stalin lúc này đã thay thế Lenin vừa qua đời năm 1924.
Cả một “khu rừng Châu Âu” có hai con mãnh hổ là Đức Quốc Xã và Liên Xô đều nhăm nhe làm chúa tể nhưng lúc đó do thế và lực của hai mãnh hổ chưa đủ nên buộc chúng phải “hợp tác” ăn chia những con mồi nhỏ hơn.
Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Molotov đã ký với Bộ trưởng Ngoại giao Đức Quốc Xã Joachim von Ribbentrop một Hiệp ước bất tương xâm hay còn gọi là Hiệp ước Molotov – Ribbentrop (Molotov – Ribbentrop Pact) ngày 23/8/1939 (có hiệu lực 1/9/1939) với một điều khoản bí mật thỏa thuận chia nhau Châu Âu, tiếp tục những hành động quân sự xâm lấn mà đôi bên đã và đang thực hiện. Như vậy ngay từ trước khi Thế chiến II, dã tâm của Hitler và Stalin là như nhau với tham vọng muốn chia cắt Châu Âu và sau này hậu Thế chiến II đã hình thành nên hai khối Đông Âu và Tây Âu. Mọi sự diễn ra rất đồng bộ theo sự chỉ đạo của hai trùm độc tài này.
Đức Quốc Xã chiếm Áo, Tiệp Khắc năm 1938 thì Liên Xô tấn công Phần Lan năm 1939 và vì vậy Liên Xô bị đuổi ra khỏi Hội Quốc Liên. Đức đánh Ba Lan ngày 1/9/1939 ở phía Tây thì hai tuần sau, Liên Xô chiếm ở phía Đông. Đức chiếm Pháp và Tây Âu trong những năm 1939 - 1940 thì Liên Xô chiếm các nước vùng Baltic cùng Moldova...
Cứ thế cho đến khi gần như toàn bộ Châu Âu (trừ nước Anh) nằm dưới sự kiểm soát của hai nước Đức Quốc Xã và Liên Xô, và khi vùng đất đệm giữa hai bên không còn, đến lúc hai bộ máy chiến tranh khổng lồ phải chạm trán nhau. Hai con hổ đã giành hết mồi rồi bây giờ đối đầu nhau và nhe nanh vuốt gầm gừ với nhau! Một số tư liệu lịch sử đã chứng tỏ rằng hai bên đều tích cực và ráo riết chuẩn bị cho đụng độ tất yếu đó.
Do nước Đức của Hitler bất ngờ ra tay trước tấn công Liên Xô vào ngày 22/6/1941, cho nên cuộc chiến tranh này được người Nga gọi là “Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại”. Giả sử nếu Stalin hạ lệnh đánh trước (họ dự tính ra tay mùa thu năm 1941) thì chắc là cuộc chiến đã được gọi là cuộc “Chiến tranh Giải phóng Vĩ đại” rồi!
Nếu Liên Xô không liên minh với Đồng Minh Anh – Mỹ và mở mặt trận thứ hai ở phía Tây thì chưa chắc họ đã giành chiến thắng với cái giá 26 triệu sinh mạng trước Đức Quốc Xã, để sau Thế chiến II kết thúc được đứng về hàng ngũ “Thiện” chiến thắng “Ác”!
Trong kho tư liệu khổng lồ về Stalin và Hitler trong suốt thời Thế chiến II, có rất ít điều được nói về mối quan hệ đồng minh của họ trong 22 tháng. Đó không chỉ là một chương lạ thường trong lịch sử cuộc chiến, mà ý nghĩa của nó xứng đáng nhận được nhiều sự chú ý hơn lâu nay.
Có hai yếu tố liên quan đến sự thờ ơ này. Một là sau khi Hitler quyết định xâm chiếm Liên Xô mà thực hiện không thành, Stalin nổi lên như một trong những kẻ chiến thắng uy quyền của Thế chiến II. Yếu tố còn lại là việc các thế lực phương Tây không mấy lưu tâm đến Đông Âu. Tuy vậy cuộc chiến nổ ra vào năm 1939 lại là do Đông Âu, kết quả của quyết định của người Anh và Pháp trong việc chống lại việc Đức chinh phục Ba Lan.
Ba phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ năm 1939. Khá nhiều điều được viết về Hiệp ước Xô – Đức kể từ lúc ấy, phần lớn là của các cây bút và sử gia Đông Âu.
Sử gia người Anh Roger Moorhouse gọi Hiệp ước Xô – Đức này trong một quyển sách của ông là “The Devil’s Alliance” (Liên minh của quỷ) và đánh giá bản hiệp ước này rất có ý nghĩa đối với Hitler và Stalin – và tệ hơn là đối với nạn nhân của hiệp ước đó.
Có lẽ phần giá trị nhất của cuốn sách là phần nói về những hậu quả tức thời của hiệp ước năm 1939. Trước đó, Chủ nghĩa Quốc xã và Chủ nghĩa cộng sản đã là kẻ thù công khai của nhau một cách hiển nhiên và dữ dội. Từ những ngày thăng tiến chính trị đầu tiên của mình, Hitler đã mô tả Do Thái giáo và Chủ nghĩa cộng sản là hai kẻ thù chính yếu của mình. Vào thời điểm đó, Stalin không hẳn là một kẻ theo ý thức hệ. Cũng như Hitler, Stalin là một người theo chủ nghĩa dân tộc; ông gần như không lưu tâm đến chủ nghĩa cộng sản quốc tế.
Trước khi ký Hiệp ước Xô – Đức, ngay từ tháng 5/1939, Hitler nhận ra rằng trong cuộc chiến của người Đức với phương Tây, Nga có thể đứng trung lập. Nhưng việc thực hiện điều đó không đơn giản; Nga phải có gì đó đổi lại. Trong suốt mùa hè năm đó, nhóm đại biểu Anh - Pháp đã tìm kiếm một dạng thỏa thuận quân sự với Nga và chuyện không đi được tới đâu. Có một số viên chức và nhà ngoại giao cao cấp của Đức, đứng đầu trong số đó là Bộ trưởng Ngoại giao Joachim von Ribbentrop của Hitler, có khuynh hướng thiên hẳn về thỏa thuận Đức – Nga.
Trong lúc đó, tại Moskva, Stalin đã bắt đầu có động thái: đầu tháng 5, ông sa thải Bộ trưởng Ngoại giao người Do Thái của mình, Maxim Litvinov, và thay thế bằng Vyacheslav Molotov (người giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong suốt cuộc chiến và một thời gian dài sau đó). Hitler hiểu điều đó có nghĩa là gì. Vào tháng 8, Ribbentrop bay đến Moskva để ký Hiệp ước Bất tương xâm giữa Liên Xô và Đức; bức ảnh Ribbentrop với cây bút trong tay cho thấy ở vị trí đứng sau, Stalin mãn nguyện thấy rõ. Hitler hy vọng sự kiện gần như tuyệt diệu này có thể ngăn người Anh và người Pháp can dự vào cuộc chiến giành Ba Lan với ông. Điều đó đã không xảy ra, mặc dù Stalin không thất vọng vì điều đó.
Điều quan trọng hơn Hiệp ước Bất tương xâm là phần phụ lục của hiệp ước, một Nghị định thư Bí mật, vốn yêu cầu không gì khác hơn là phân chia Đông Âu, đặc biệt là Ba Lan, với một phần nước này sẽ bị Liên Xô thâu tóm. Ngoài ra, Đức công nhận “khu vực lợi ích” của Liên Xô tại Estonia, Latvia, Phần Lan, một phần Litva và tỉnh Bessarabia ở Romania. Moskva phủ nhận chính sự tồn tại của Nghị định thư Bí mật này trong suốt thời gian dài, ngay cả khi Thế chiến II kết thúc đã lâu. Những sự kiện đó vẫn tồn tại trong văn khố của Đức; và vào năm 1939 nó đã trở thành một hiện thực u ám và dễ sợ. Tận đến năm 1986, Molotov già nua (lúc đó đã hơn 90) vẫn phủ nhận chính sự tồn tại của sự kiện này trước một phóng viên Nga. Trên thực tế, nhiều hoàn cảnh của sự kiện này vẫn tiếp tục tồn tại xuyên qua cuộc thế chiến và cả những xung đột tiếp sau đó cho đến năm 1989.
Quân đội và nhân dân Ba Lan đã chiến đấu can trường chống lại người Đức trong suốt một tháng vào năm 1939 (gần lâu bằng Pháp với đội quân đáng kể của họ vào năm 1940). Nhưng 17 ngày sau khi Đức xâm lược, quân đội của Stalin đã xâm lăng Ba Lan từ phía đông. Vài ngày sau tại Brest, một điểm gặp gỡ lúc ấy nằm ngay trên phần do Liên Xô kiểm soát tại Ba Lan, có một cuộc duyệt binh chung nho nhỏ của binh lính và quân xa của Đức và Liên Xô. Chỉ hơn hai tháng sau, tức chưa đầy ba tháng sau khi Thế chiến II nổ ra, trận đánh duy nhất trên đất liền tại châu Âu là giữa Liên Xô và Phần Lan, vốn là dân tộc không chấp nhận sự kiểm soát của Liên Xô đối với đất nước họ. Người Anh thất kinh. Anh và Pháp thậm chí suy xét, trong thoáng chốc, về việc can thiệp quân sự, nhưng việc này đã không xảy đến. Quân đội Hitler sớm xâm chiếm Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ – và sau đó là Pháp. Churchill và Anh quốc đã đứng một mình, trong suốt hơn một năm sau đó.
Cuối tháng 9/1939, Ribbentrop bay tới Moskva lần nữa để thu xếp một số thoả thuận về đường biên giới, từ đó sẽ tiến hành Nghị định thư Bí mật kia.
Xuyên suốt cuộc chiến, trong số những viên chức cấp cao của Đức, Ribbentrop là người mong muốn tìm kiếm và duy trì những thỏa thuận Đức – Liên Xô nhất.
Ở khía cạnh này, chúng ta còn có thể chú ý đến những mong muốn hướng đến mối quan hệ song phương giữa Hitler và Stalin. Hitler cho rằng cần phải tiến hành những điều khoản trong mối quan hệ đồng minh với Stalin; về phần mình, Stalin thậm chí còn nhiệt tình hơn Hitler trong chuyện này. Một ví dụ là lời chúc tụng có lẽ không cần thiết của Stalin dành cho Hitler sau khi ký bản hiệp ước vào ngày 24 tháng 8 năm 1939: “Tôi biết dân tộc Đức yêu mến Führer (Quốc trưởng) của họ nhiều đến dường nào, do đó tôi nâng ly để chúc sức khỏe cho ông ấy.” Đáng kể hơn đối với hồ sơ lịch sử và hệ trọng hơn đối với nhân dân Đông Âu là ý định của Liên Xô và hành vi xâm lăng của họ ngay sau khi ký Hiệp ước Xô – Đức.
Vào cái ngày diễn ra chuyến viếng thăm thứ hai của Ribbentrop đến Moskva, Liên Xô bắt đầu gây áp lực lên các quốc gia Baltic. Liên Xô đưa ra yêu sách đòi thay đổi những chính quyền tại Baltic, đầu tiên là tại Estonia, sau đó là những nước láng giềng Latvia và Litva. Quan trọng hơn, giờ đây Liên Xô đã điều quân đến những nước đó, đặc biệt là đến các hải cảng của họ, làm suy giảm trầm trọng nền độc lập của những nước này. Chính quyền của những nước này chịu áp lực và đã phải tuân theo lệnh của Liên Xô, ngoại trừ Phần Lan. Hai tháng sau, Chiến tranh Mùa đông tại Phần Lan bắt đầu. Đội quân nhỏ bé của Phần Lan đã chiến đấu quật cường và dũng cảm, một thực tế mà ngay cả Stalin cũng phải thừa nhận; kết quả là xuất hiện một hiệp định trong đó Phần Lan từ bỏ một phần lãnh thổ cho Liên Xô nhưng vẫn duy trì nền độc lập cho phần lớn đất nước.
Tình hình tại Ba Lan còn kém may mắn và kinh khủng hơn nhiều. Ở đó sự chiếm đóng của Liên Xô chí ít cũng tàn bạo và thảm khốc – nếu không muốn nói nhiều hơn – so với những phần đất Ba Lan bị Đức khuất phục. Liên Xô trục xuất ít nhất một triệu người – bao gồm nhiều gia đình, mà không cho họ mang theo tài sản – tới Siberia, Kazakhstan và miền Bắc xa xôi của Liên Xô, và gần như không ai có thể thăm lại quê nhà của mình lần nữa. Vào tháng 4 và tháng 5/1940, khoảng 22.000 sĩ quan Ba Lan bị bắn chết gần Katyn. Hơn một triệu tù nhân và công nhân Ba Lan bị trục xuất tới Đức để chịu lao động cưỡng bức trong suốt thời chiến.
Đáng nói là nhiều việc làm thế này đã bắt đầu ngay sau khi Liên Xô chiếm được miền Đông Ba Lan vào tháng 9/1939. Một số người Ba Lan, bao gồm người Do Thái, đã chào mừng binh lính Liên Xô, những tưởng rằng binh lính Liên Xô đến để giải phóng họ khỏi Đức Quốc Xã. Sau đó họ thất vọng với người Nga đến mức một số người Do Thái ở miền Đông Ba Lan đã nghĩ rằng tốt hơn là họ nên trốn sang khu vực của Đức Quốc Xã, cho dù họ đã biết người Đức đối xử với dân Do Thái ra sao.
Từ năm 1939 đến 1941, có lẽ đa số dân Do Thái trên thế giới sống tại Đông Âu, hầu hết họ sống tại miền Đông Ba Lan, miền Tây Nga, Ukraina, và Belarus. Cuộc thanh trừng chung quyết của người Đức chưa được Hitler quyết định cho đến tháng 9/1941 và trước tháng 1/1942 vẫn chưa được thực hiện, nhưng theo nhiều cách khác nhau, số phận của họ đã được tiên đoán từ Hiệp ước Xô – Đức.
Vào ngày 14/6/1940, ngay cái ngày quân Đức diễu hành vào Paris, Moskva cuối cùng đã quyết định thi hành Nghị định thư Bí mật. Trong vòng một hai ngày, Nga tuyên bố tổng sáp nhập Estonia, Latvia và Litva vào Liên Xô. Thành viên chính phủ của những nước này hoặc bị cầm tù hoặc bị đày ải. Nhiều cựu viên chức ở đó bị xử tử, và ít nhất 25.000 người Baltic đã bị trục xuất tới Liên Xô. Hitler chở những người thuộc sắc tộc thiểu số Đức ở vùng Baltic đến Đức bằng tàu thủy của Đức.
Vào tháng 11/1940, Molotov sang Berlin. Đây không phải là chuyến đi thành công của ông. Cung cách ngoại giao của ông cứng đờ như tính cách ông vậy. Nhìn thấy Đức chinh phục gần hết châu Âu, ông đề xuất việc gộp Bulgaria vào khu vực của Nga. Theo đó Liên Xô sẽ có sự hiện diện gần Bosphorus, với cái giá phải trả là Thổ Nhĩ Kỳ. Người Đức không đáp lại lời đề xuất này. Vào một ngày tháng 12/1940, Hitler bắt đầu hoạch định một cuộc chiến chung cuộc với Liên Xô.
Stalin phần nào chỉ trích hành vi của Molotov tại Berlin; ông cho là Bộ trưởng Ngoại giao của mình có lẽ đã quá cứng nhắc. Đây là lối cư xử điển hình của Stalin trong suốt sáu tháng tiếp theo. Ông không thể và sẽ không tin Hitler sẽ khởi sự một cuộc chiến chống lại mình trong khi Đức vẫn còn Anh quốc để xử lý.
Stalin đã thực hiện một số động thái để cải thiện tình hình của Liên Xô. Ông thương thảo một hiệp ước giao hảo với Nam Tư, vốn chẳng được gì, vì Hitler đã xâm lược Nam Tư vào cái ngày ký hiệp ước này. Ông mời Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Matsuoka Yōsuke đến Moskva khi ông này trên đường quay trở về Nhật sau chuyến viếng thăm Berlin. Đáng ngạc nhiên là sau đó ông ký một Hiệp ước Bất tương xâm với Nhật.
Ngay sau khi Đức Quốc Xã xâm lược Liên Xô vào tháng 6/1941, Matsuoka khi trở về Tokyo đã đề nghị Nhật nên tấn công Liên Xô từ phía Đông. Giá trị của những bản Hiệp ước Bất tương xâm năm 1941 quả là nhỏ bé. Nhưng ý kiến của Matsuoka không được phe chủ chiến Nhật để ý, vì kẻ thù chính của Nhật lúc bấy giờ là Hoa Kỳ.
Stalin ra lệnh phải có những cử chỉ thân thiện đối với Đức, bao gồm cả việc đẩy nhanh khâu vận chuyển các sản phẩm Liên Xô đến đó. Ông không một chút mảy may phản ứng lại lời cảnh báo của Churchill về viễn cảnh Đức sẽ tấn công Liên Xô. Trong suốt mười ngày trước cuộc xâm lăng của Đức Quốc Xã – mặc cho mọi loại thông tin về mối đe dọa của Đức – Stalin đã cố gắng thực hiện những điều tốt nhất, hay có lẽ là những điều tệ nhất, để xác nhận lòng tin của mình vào Hitler và nước Đức.
Cuộc tấn công của Đức thoạt đầu đã làm Stalin sốc đến câm lặng. Molotov cũng ngỡ ngàng sau khi Đức tuyên bố chiến tranh cũng đã thốt lên: “Chúng ta đáng bị điều này sao?”.
Những mệnh lệnh đầu tiên của Stalin cho quân đội Liên Xô là đừng phản ứng gì cả. Phải mất nhiều giờ đồng hồ sau cuộc xâm lăng – cho đến trưa – thì Stalin mới ra lệnh cho quân đội phản kháng.
Việc Stalin đã run sợ ra sao trong suốt những ngày tấn công đầu tiên của Đức Quốc Xã vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Cuối cùng Stalin đã xốc lại được tinh thần của mình. Vào ngày 3/7/1941 – mười một ngày sau cuộc xâm lăng của Đức – ông gọi nhân dân Liên Xô là một tập thể ái quốc. Tới thời điểm đó, một số đơn vị Đức Quốc Xã đã xâm nhập miền Tây Liên Xô sâu được hơn 160 km và đang tiến đến Moskva.
Dĩ nhiên vẫn còn đó những nghi vấn dành cho các sử gia. Một vấn đề là nhiều văn khố Liên Xô vẫn còn đóng cửa, và văn bản của họ thường là không đáng tin cậy trong mọi trường hợp. Một nghi vấn sâu xa hơn vẫn chưa giải quyết được nằm ở chỗ mục đích chính của Hitler vào năm 1941 là gì. Trước nhân dân và đồng minh của mình, ông đã có những giải thích rõ ràng và đơn giản. Hitler chưa bao giờ thoải mái trong việc liên kết với Liên Xô. Ông kinh tởm chủ nghĩa cộng sản. Nhưng còn có một yếu tố khác, có lẽ mang tính quyết định, trong tâm trí của ông. Ở đâu đó ông đã buông lời nhận xét về điều này trước một số tướng lĩnh của mình. Những lời đó liên quan đến Anh quốc – và đằng sau đó là Hoa Kỳ. Một khi đã chinh phục Liên Xô, buộc Stalin quy hàng hay phải rút đi những gì còn lại của quyền lực Liên Xô đằng sau vùng Ural để chạy sang Siberia, thì khi đó Churchill và Roosevelt có thể làm được gì? Họ phải đối diện với một kẻ khổng lồ Nazi – Á – Âu, với đội quân Đức lớn mạnh không còn phải chiến đấu trên hai mặt trận nữa.
Vấn đề của Stalin nghiêm trọng hơn nhưng lại đơn giản hơn. Vào đầu tháng 9/1941, ông viết cho Churchill rằng Liên Xô đang “chịu mối đe dọa chết người.” Chuyện đó không xảy ra; và đến năm 1942, ông nhận ra là mình sẽ nhận được nhiều thứ từ mối quan hệ đồng minh với Anh và Hoa Kỳ hơn là với Đức. Nhưng chí ít cho tới tháng 6/1941, Stalin và Molotov vẫn còn chuộng Đức của Hitler hơn là phương Tây.
Ở phương diện này có một chỗ dành cho một bản tiểu sử, hay một bản phác thảo tiểu sử, của một viên chức nham hiểm của Liên Xô mang tên Vladimir Dekanozov, người thân cận với Molotov trong suốt thời gian dài, một trong những kẻ thân Đức quan trọng trong hàng ngũ viên chức cao cấp của Liên Xô (và vào năm 1941 còn là Đại sứ tại Berlin). Có chứng cứ cho rằng khoảng cuối mùa xuân năm 1943, Molotov đã điều Dekanozov đến Stockholm với mục tiêu thiết lập mối liên hệ với Đức Quốc Xã. Ribbentrop đã sẵn sàng gặp Dekanozov nhưng bị Hitler cấm không cho gặp. Vào cuối năm 1953, Khruschev đã ra lệnh xử tử Dekanozov.
Hai tuyên bố lịch sử đã xuất hiện bằng văn bản sau khi cuộc chiến kết thúc được một thời gian. Vào tháng 12/1941, Churchill điều Bộ trưởng Ngoại giao Anthony Eden đến Moskva. Các lực lượng tiến công của Đức chưa tới được Moskva nhưng vẫn có thể nghe thấy tiếng súng ở bên ngoài bức tường của điện Kremlin. Stalin nói với Eden: “Vấn đề của Hitler là ông ta không biết nên dừng lại chỗ nào.” Eden: “Thế có ai biết không?” Stalin: “Tôi biết.” Hai từ này không hoàn toàn xa rời sự thật. Vào tháng 11/1944, Churchill đến gặp De Gaulle tại Paris. De Gaulle nghiêm trách người Mỹ vì đã để Liên Xô chiếm toàn bộ Đông Âu. Churchill bảo, vâng, Liên Xô giờ đây là con sói đói khát. “Nhưng sau bữa ăn là đến giai đoạn tiêu hóa.” Liên Xô sẽ không thể tiêu hóa được phần lớn Đông Âu. Và quả đúng vậy.
Những sự kiện lịch sử trong bang giao quốc tế cách nay gần một thế kỷ qua những tài liệu đã được giải mật khiến chúng ta hết sức bất ngờ rất nhiều vấn đề quan trọng.
Những bài học lịch sử trong quá khứ luôn nhắc nhở những người cầm quyền của các quốc gia ngày nay luôn tỉnh táo trong cách ứng xử với các nước, nhất là những nước lớn đầy tham vọng bành trướng và luôn tồn tại trong họ một niềm đam mê thôn tính những nước nhỏ khác để thể hiện vị thế quyền lực của mình.
“Bạn – Thù” có thể thay đổi chóng vánh chung quy cũng vì quyền lợi của quốc gia dân tộc nên để một quốc gia tồn tại giữa “bầy sói” thì không cách gì khác là dân tộc phải đoàn kết để tạo một sức mạnh, biết chọn bạn tốt để liên minh khi xảy ra chiến tranh khi không thể nào cứ nhẫn nhịn để mong có hòa bình với một kẻ thù hiếu chiến.
Việt Nam như một định mệnh đã an bài khi về mặt địa chính trị sát sườn với một nước Trung Quốc khổng lồ luôn có những tham vọng về đất đai, bành trướng không khác gì Đức Quốc Xã của Hitler xưa kia!
Trước một kẻ thù nham hiểm và nhiều tính toán trong âm mưu thôn tính láng giềng, chúng ta khó biết trước điều gì sẽ xảy ra nay mai.
Trung Quốc có một bậc thầy về binh pháp là Tôn Tử nên nghệ thuật chiến tranh của họ “thiên biến vạn hóa” rất khó lường. Kết giao bên ngoài nghe chừng thân thiết kiểu “bạn Vàng – bạn Tốt” chỉ là cái chiêu bài vỏ bọc, còn cái sâu xa thì chúng ta phải nhìn những bài học lịch sử của họ mà hơn ai hết người Việt chúng ta biết quá rõ!
Mới đây chúng ta cũng thật buồn cười khi chính Trung Quốc cho phát hành một bản đồ mới đầy sức hoang tưởng của họ khi khoanh cả vùng Thái Bình Dương kể cả Hawaii của Mỹ vào vùng biển …Trung Quốc! Tham lam quá độ kiểu Trung Quốc thì chúng ta không lạ gì!
Đừng cứ nghĩ rằng Việt Nam đã ký những Hiệp ước Tương trợ với Trung Quốc rồi chúng ta cứ yên tâm với cái hiệp ước đó rồi đến một ngày nào đó chúng ta lại bị “sốc” đến ngớ cả người khi từng binh đoàn Trung Quốc bỗng xuất hiện khắp các vùng miền của Việt Nam! Khi đó chẳng khác gì Stalin “ngớ” người vì sự “phản bội” của Hitler khi từng binh đoàn Đức Quốc Xã đang ngấp nghé kinh thành Moskva!
Ở đời thì thường “ Mã tầm Mã, Ngưu tầm Ngưu” và chúng ta cũng đừng tự biến mình thành Mã, Ngưu để làm “bạn với tất cả” dẫu biết đó là bạn xấu.
Tốt là tốt, xấu là xấu, chớ trộn lẫn theo kiểu vàng thau để rồi sau này nhặt ra là khó lắm thay!
Hoài Nguyễn – 17/5/2016
*Bài viết có tham khảo bài điểm sách cho cuốn The Devils’ Alliance: Hitler’s Pact with Stalin, 1939–1941 của Roger Moorhouse của Nghiencuuquocte.net
Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018
Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018
*Phong thái của một kẻ sĩ … sinh nhầm thời.- Phiếm luận - Hoài Nguyễn
*Phong thái của một kẻ sĩ … sinh nhầm thời.
Phiếm luận - Hoài Nguyễn
Trong những nhà thơ miền Nam thuộc hàng tiền bối, tôi đặc biệt yêu quý cụ Nguyễn Đình Chiểu, một “nhà thơ mù” nhưng “tâm ngời sáng” của miền đất “Nam kỳ Lục tỉnh” xưa kia.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là nhà thơ lớn nhất của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XIX, giai đoạn của một đất nước Việt Nam đầy nhiễu nhương bị ngoại xâm giày xéo và chiếm cứ.
Cụ Đồ Chiểu lúc này mắt đã bị mù lòa nhưng tai vẫn “chứng kiến” những cảnh đời éo le của nước nhà khi bị giặc Pháp đô hộ, biết cảnh của bọn bán nước cầu vinh đang nhỡn nhơ trên nỗi đau của đồng bào, nghe những câu chuyện của những bậc sĩ phu yêu nước luôn phản kháng chống lại sự đàn áp của bè lũ cướp nước và cướp nước.
Một sự tha hóa về đạo đức trong xã hội đã hình thành và phá vỡ cái “đạo” mà cha ông đã lưu truyền ngàn đời nay.
Lòng yêu nước thương dân của cụ Đồ Chiểu chỉ biết thể hiện qua ngòi bút, qua văn chương mang màu sắc “phản kháng bất bạo động”, mang tính “ẩn dụ” qua những tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay như: “Truyện Lục Vân Tiên” (1851) gồm 2082 câu thơ lục bát. Đây là một "bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý đáng trọng ở đời" đã làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu, và là một tác phẩm lớn của văn học Việt Nam, được nhân dân, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ yêu chuộng; “Dương Từ - Hà Mậu”(truyện thơ Nôm, bắt đầu soạn khoảng 1854); “Ngư Tiều vấn đáp” (1867); “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”(1861); và nhiều bài thơ văn khác…
Về quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, cụ dứt khoát đứng về phía nhân dân chống lại bọn cướp nước, bán nước và tay sai, bọn bồi bút đang phục vụ cho chế độ mới ngoi lên ở Việt Nam thời ấy.
Trong bài “Than đạo”, cụ Đồ Chiểu thể hiện một “thông điệp” về vai trò “kẻ sĩ” theo quan niệm thời đó rất rõ ràng:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Tòan bài “Than đạo” như sau:
Ba vua năm đế dấu vừa qua,
Nối đạo trời rao đức thánh ta.
Hai chữ can thường dằn các nước,
Một câu trung hiếu dựng muôn nhà.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Căm lấy lòng nhơ mong thói bạc,
Trời gần chẳng gánh gánh trời xa.
Hai câu thơ mang đến cho chúng ta một quan niệm văn chương thời ấy và vẫn còn tính “thời sự” cho đến tận ngày nay, đó là quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Những nhà thơ nhà văn như Nguyễn Đình Chiểu không thể cầm giáo gươm súng đạn và đánh giặc thì họ sẽ cầm bút để tấn công kẻ thù trên mặt trận tư tưởng tinh thần. Nó giống như con thuyền có thể là nhỏ bé kia, dẫu có trở bao nhiêu “đạo” thì cũng không đắm không chìm. Đạo đức là một thứ văn chương thời bấy giờ luôn hướng đến và đem vào thơ ca để mang đến sự truyền tải đến với người đọc. Còn mấy “thằng gian tà” gồm những kẻ bán nước và cướp nước kia dẫu có dùng bút mà vạch tội đâm thẳng vào bộ mặt chúng cũng không tà, không mòn bút.
Văn chương “tải đạo” đâm giặc bằng ngòi bút của ông thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc, vạch ra những tội ác mà bọn chúng đã gây ra cho chính nhân dân ta, những nỗi nhục nỗi khổ ấy được thể hiện rõ trong những câu thơ bài “Chạy Tây”:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”
Như vậy qua đây chúng ta thấy Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rõ quan niệm sáng tác trong hai câu thơ của mình qua những bài thơ của mình. Thế mới biết rằng Nguyễn Đình Chiểu luôn đi đầu trong việc cầm bút để đánh giặc.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu dễ dàng phân biệt “chính – tà” và kẻ cướp nước cũng như bán nước nên mặc dù không còn sức lực để chiến đấu chống ngoại xâm nhưng cụ đã “mài sắc” ngòi bút và dùng mảng thơ văn đạo lý về cuộc đời thường để phát triển trở thành thơ văn yêu nước, với hai nội dung chủ yếu: tố cáo tội ác của giặc và ca ngợi những tấm gương yêu nước sáng ngời.
Khi Pháp xâm lược Việt Nam, trước cảnh nước mất nhà tan, một số tên “bút nô”, “điếm bút”, “bồi bút” vì chút bơ sữa, cơm thừa canh cặn của bọn giặc “cướp – bán” nước, đã dùng thơ văn để tô vẽ cho bộ mặt của kẻ thù nhân dân, thanh minh và cố bảo vệ cho thái độ đầu hàng của chúng trước bọn giặc.
Đối lập với bọn này, ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu chỉ xoay quanh một vấn đề là vấn đề mất nước. Lời ca tiếng thép của ngòi bút ông lúc này đều hướng vào một mục tiêu duy nhất là cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu sống không chỉ hiện diện bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm gian hiểm, bọn Đặng Sinh ỷ thế làm càn, bọn tham vàng bỏ nghĩa Võ Công, mà còn nhiều bộ mặt xấu xa gian ác và giả dối khác.
Bọn chúng đối lập với những con người sáng ngời đạo đức như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực. Tuy trải qua nhiều gian nan nguy hiểm nhưng cuối cùng những người tốt vẫn được hưởng sung sướng, hạnh phúc. Đó chính là giấc mơ lớn về cuộc sống tốt đẹp với những con người tốt đẹp, sống theo đạo lý của nhân dân, như nhân dân mơ ước.
Hơn thế kỷ sau, đất nước Việt Nam lại có xu hướng quay lại thời kỳ của cụ Đồ Chiểu xưa kia, cũng với bọn cướp nước và bán nước nhưng với hình thức và nội dung tinh vi hơn nhiều.
Ngày nay bọn bồi bút, điếm bút, đĩ bút … đông nhan nhãn như quân Nguyên và cũng như xưa kia, vì miếng cơm manh áo, vì bơ thừa sữa cặn mà bán rẽ lương tâm, quay lưng với dân tộc, đất nước … sẵn sàng bẻ cong ngòi bút viết tung hê những điều mà ai cũng biết là trái với lương tri loài người, là phục vụ cho bọn cai trị độc tài…
Như người ta vẫn thường ca cẩm ngày nay “bọn Ác” nhiều hơn “người Hiền”, quỷ sứ nhiều hơn thiên thần, bọn nịnh thần lấn át trung thần, người ngay sợ kẻ gian … thì bọn cầm bút cũng vậy!
Thời đại ngày nay đầy rẫy những bọn tham quan ô lại mà người ta ví như chuột, sâu đục khoét tài nguyên đất nước, chèn ép nhân dân, sống phè phỡn xa hoa trên nỗi đau dân tộc, nhắm mắt làm ngơ cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc gặm nhắm dần mòn đất đai tổ tiên để lại…
Bây giờ tìm ra những người như cụ Đồ Chiểu xưa kia thật hiếm, nhưng mới vừa mở mắt ra đã thấy bọn “bưng bô” đông kịt như bầy kền kền chờ rỉa rói xác chết!
Tìm ra cái “chất dũng” của người cầm bút hôm nay để “đâm mấy thằng gian” khó như tìm kim đáy bể!
Bây giờ tìm đọc thơ văn “kiểu” như của cụ Đồ Chiểu nhằm vạch mặt bọn người theo giặc, phản bội quê hương, bọn "theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc" đế "ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì", những kẻ tham danh cầu lợi "ăn dơ tanh rình, đổi hình tóc râu" thực sự khó lắm thay!
Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng về một người trí thức yêu nước, sống và lao động nghệ thuật trong hoàn cảnh lịch sử đất nước trải qua một thời gian khó nhưng vĩ đại. Toàn bộ cuộc đời ông từ ý nghĩ đến hành động đều thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc. Sự nghiệp thơ văn của ông là thơ văn yêu nước. Theo ông, nhân nghĩa là yêu nước thương dân, biết đứng về lẽ phải của nhân dân chống lại áp bức của tà quyền.
Tóm lại, thơ văn đạo lý của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ truyền thống đạo lý của dân tộc, ca ngợi đạo làm người trong cuộc đời thường, có giá trị giáo dục sâu sắc. Ngòi bút của cụ thương ghét rất rõ ràng, dù thực sự lúc ấy chính – tà đang lẫn lộn, không phải ai cũng nhận ra con đường chính nghĩa để đi theo. Còn thơ văn yêu nước của ông "không đi bên lề các cuộc khởi nghĩa, mà trực tiếp tham gia vào phong trào kháng chiến như một thành viên thực sự. Nó giải quyết những khúc mắc về tư tưởng, động viên tinh thần nghĩa sĩ và nhân dân. Vì vậy nó cũng hầu như mang nguyên vẹn cái âm điệu bi hùng của cuộc sống và con người thời đại…
Cái tên Nguyễn Đình Chiểu sẽ còn được con cháu mai sau nhắc đến mãi mãi như một kẻ sĩ … sinh nhầm thời ....
Copyright of Hoài Nguyễn - (16/5/2017 )
Phiếm luận - Hoài Nguyễn
Trong những nhà thơ miền Nam thuộc hàng tiền bối, tôi đặc biệt yêu quý cụ Nguyễn Đình Chiểu, một “nhà thơ mù” nhưng “tâm ngời sáng” của miền đất “Nam kỳ Lục tỉnh” xưa kia.
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tục gọi là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là nhà thơ lớn nhất của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ XIX, giai đoạn của một đất nước Việt Nam đầy nhiễu nhương bị ngoại xâm giày xéo và chiếm cứ.
Cụ Đồ Chiểu lúc này mắt đã bị mù lòa nhưng tai vẫn “chứng kiến” những cảnh đời éo le của nước nhà khi bị giặc Pháp đô hộ, biết cảnh của bọn bán nước cầu vinh đang nhỡn nhơ trên nỗi đau của đồng bào, nghe những câu chuyện của những bậc sĩ phu yêu nước luôn phản kháng chống lại sự đàn áp của bè lũ cướp nước và cướp nước.
Một sự tha hóa về đạo đức trong xã hội đã hình thành và phá vỡ cái “đạo” mà cha ông đã lưu truyền ngàn đời nay.
Lòng yêu nước thương dân của cụ Đồ Chiểu chỉ biết thể hiện qua ngòi bút, qua văn chương mang màu sắc “phản kháng bất bạo động”, mang tính “ẩn dụ” qua những tác phẩm còn lưu truyền đến ngày nay như: “Truyện Lục Vân Tiên” (1851) gồm 2082 câu thơ lục bát. Đây là một "bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý đáng trọng ở đời" đã làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu, và là một tác phẩm lớn của văn học Việt Nam, được nhân dân, đặc biệt là nhân dân Nam Bộ yêu chuộng; “Dương Từ - Hà Mậu”(truyện thơ Nôm, bắt đầu soạn khoảng 1854); “Ngư Tiều vấn đáp” (1867); “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”(1861); và nhiều bài thơ văn khác…
Về quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, cụ dứt khoát đứng về phía nhân dân chống lại bọn cướp nước, bán nước và tay sai, bọn bồi bút đang phục vụ cho chế độ mới ngoi lên ở Việt Nam thời ấy.
Trong bài “Than đạo”, cụ Đồ Chiểu thể hiện một “thông điệp” về vai trò “kẻ sĩ” theo quan niệm thời đó rất rõ ràng:
“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”
Tòan bài “Than đạo” như sau:
Ba vua năm đế dấu vừa qua,
Nối đạo trời rao đức thánh ta.
Hai chữ can thường dằn các nước,
Một câu trung hiếu dựng muôn nhà.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Căm lấy lòng nhơ mong thói bạc,
Trời gần chẳng gánh gánh trời xa.
Hai câu thơ mang đến cho chúng ta một quan niệm văn chương thời ấy và vẫn còn tính “thời sự” cho đến tận ngày nay, đó là quan niệm “văn dĩ tải đạo”. Những nhà thơ nhà văn như Nguyễn Đình Chiểu không thể cầm giáo gươm súng đạn và đánh giặc thì họ sẽ cầm bút để tấn công kẻ thù trên mặt trận tư tưởng tinh thần. Nó giống như con thuyền có thể là nhỏ bé kia, dẫu có trở bao nhiêu “đạo” thì cũng không đắm không chìm. Đạo đức là một thứ văn chương thời bấy giờ luôn hướng đến và đem vào thơ ca để mang đến sự truyền tải đến với người đọc. Còn mấy “thằng gian tà” gồm những kẻ bán nước và cướp nước kia dẫu có dùng bút mà vạch tội đâm thẳng vào bộ mặt chúng cũng không tà, không mòn bút.
Văn chương “tải đạo” đâm giặc bằng ngòi bút của ông thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc, vạch ra những tội ác mà bọn chúng đã gây ra cho chính nhân dân ta, những nỗi nhục nỗi khổ ấy được thể hiện rõ trong những câu thơ bài “Chạy Tây”:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay”
Như vậy qua đây chúng ta thấy Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rõ quan niệm sáng tác trong hai câu thơ của mình qua những bài thơ của mình. Thế mới biết rằng Nguyễn Đình Chiểu luôn đi đầu trong việc cầm bút để đánh giặc.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu dễ dàng phân biệt “chính – tà” và kẻ cướp nước cũng như bán nước nên mặc dù không còn sức lực để chiến đấu chống ngoại xâm nhưng cụ đã “mài sắc” ngòi bút và dùng mảng thơ văn đạo lý về cuộc đời thường để phát triển trở thành thơ văn yêu nước, với hai nội dung chủ yếu: tố cáo tội ác của giặc và ca ngợi những tấm gương yêu nước sáng ngời.
Khi Pháp xâm lược Việt Nam, trước cảnh nước mất nhà tan, một số tên “bút nô”, “điếm bút”, “bồi bút” vì chút bơ sữa, cơm thừa canh cặn của bọn giặc “cướp – bán” nước, đã dùng thơ văn để tô vẽ cho bộ mặt của kẻ thù nhân dân, thanh minh và cố bảo vệ cho thái độ đầu hàng của chúng trước bọn giặc.
Đối lập với bọn này, ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu chỉ xoay quanh một vấn đề là vấn đề mất nước. Lời ca tiếng thép của ngòi bút ông lúc này đều hướng vào một mục tiêu duy nhất là cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Thời đại của cụ Đồ Chiểu sống không chỉ hiện diện bọn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm gian hiểm, bọn Đặng Sinh ỷ thế làm càn, bọn tham vàng bỏ nghĩa Võ Công, mà còn nhiều bộ mặt xấu xa gian ác và giả dối khác.
Bọn chúng đối lập với những con người sáng ngời đạo đức như Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực. Tuy trải qua nhiều gian nan nguy hiểm nhưng cuối cùng những người tốt vẫn được hưởng sung sướng, hạnh phúc. Đó chính là giấc mơ lớn về cuộc sống tốt đẹp với những con người tốt đẹp, sống theo đạo lý của nhân dân, như nhân dân mơ ước.
Hơn thế kỷ sau, đất nước Việt Nam lại có xu hướng quay lại thời kỳ của cụ Đồ Chiểu xưa kia, cũng với bọn cướp nước và bán nước nhưng với hình thức và nội dung tinh vi hơn nhiều.
Ngày nay bọn bồi bút, điếm bút, đĩ bút … đông nhan nhãn như quân Nguyên và cũng như xưa kia, vì miếng cơm manh áo, vì bơ thừa sữa cặn mà bán rẽ lương tâm, quay lưng với dân tộc, đất nước … sẵn sàng bẻ cong ngòi bút viết tung hê những điều mà ai cũng biết là trái với lương tri loài người, là phục vụ cho bọn cai trị độc tài…
Như người ta vẫn thường ca cẩm ngày nay “bọn Ác” nhiều hơn “người Hiền”, quỷ sứ nhiều hơn thiên thần, bọn nịnh thần lấn át trung thần, người ngay sợ kẻ gian … thì bọn cầm bút cũng vậy!
Thời đại ngày nay đầy rẫy những bọn tham quan ô lại mà người ta ví như chuột, sâu đục khoét tài nguyên đất nước, chèn ép nhân dân, sống phè phỡn xa hoa trên nỗi đau dân tộc, nhắm mắt làm ngơ cho kẻ thù truyền kiếp phương Bắc gặm nhắm dần mòn đất đai tổ tiên để lại…
Bây giờ tìm ra những người như cụ Đồ Chiểu xưa kia thật hiếm, nhưng mới vừa mở mắt ra đã thấy bọn “bưng bô” đông kịt như bầy kền kền chờ rỉa rói xác chết!
Tìm ra cái “chất dũng” của người cầm bút hôm nay để “đâm mấy thằng gian” khó như tìm kim đáy bể!
Bây giờ tìm đọc thơ văn “kiểu” như của cụ Đồ Chiểu nhằm vạch mặt bọn người theo giặc, phản bội quê hương, bọn "theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc" đế "ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì", những kẻ tham danh cầu lợi "ăn dơ tanh rình, đổi hình tóc râu" thực sự khó lắm thay!
Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng về một người trí thức yêu nước, sống và lao động nghệ thuật trong hoàn cảnh lịch sử đất nước trải qua một thời gian khó nhưng vĩ đại. Toàn bộ cuộc đời ông từ ý nghĩ đến hành động đều thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc. Sự nghiệp thơ văn của ông là thơ văn yêu nước. Theo ông, nhân nghĩa là yêu nước thương dân, biết đứng về lẽ phải của nhân dân chống lại áp bức của tà quyền.
Tóm lại, thơ văn đạo lý của Nguyễn Đình Chiểu xuất phát từ truyền thống đạo lý của dân tộc, ca ngợi đạo làm người trong cuộc đời thường, có giá trị giáo dục sâu sắc. Ngòi bút của cụ thương ghét rất rõ ràng, dù thực sự lúc ấy chính – tà đang lẫn lộn, không phải ai cũng nhận ra con đường chính nghĩa để đi theo. Còn thơ văn yêu nước của ông "không đi bên lề các cuộc khởi nghĩa, mà trực tiếp tham gia vào phong trào kháng chiến như một thành viên thực sự. Nó giải quyết những khúc mắc về tư tưởng, động viên tinh thần nghĩa sĩ và nhân dân. Vì vậy nó cũng hầu như mang nguyên vẹn cái âm điệu bi hùng của cuộc sống và con người thời đại…
Cái tên Nguyễn Đình Chiểu sẽ còn được con cháu mai sau nhắc đến mãi mãi như một kẻ sĩ … sinh nhầm thời ....
Copyright of Hoài Nguyễn - (16/5/2017 )
*Người đánh cá và hung thần Zawbaat – Truyện Cổ Ả-Rập
*Người đánh cá và hung thần Zawbaat – Truyện Cổ Ả-Rập
LGT: Trong các thể chế độc tài toàn trị, để dễ dàng cai trị người dân thì những chế độ này luôn độc quyền về thông tin và sử dụng chính sách ngu dân nhằm cho người dân chỉ biết nghe một thứ tiếng nói duy nhất từ nhà cầm quyền!
Do đó những chế độ này luôn bưng bít thông tin, thường nói dối và rất sợ sự thật.
Những sự thật này nhà cầm quyền rất sợ nó và được xem như là một |hung thần” với chính sự tồn tại của họ và muốn nó phải bị “đóng hủ” thả xuống biển sâu!
Thời đại ngày nay, với sự phát triển của mạng Internet toàn cầu mà trên đó rất đa dạng những luồng thông tin có thể kiểm chứng và chưa được hiểm chứng thì người dân bắt đầu “bội thực | thông tin và những gì thông tin từ nhà cầm quyền trước đây độc quyền thì ngày nay đã bắt đầu lung lay trong niềm tin của người dân…
Câu chuyện cổ Ả-rập dưới đây cho ta hình dung ra một khi sự dối trá bị bưng bít quá lâu, bị đóng hũ quá lâu đến khi nó đã được “giải phóng” thì khó lòng “thu hồi” những niềm tin mà chính quyền độc tài đã gieo rắc trước đây…
------------------------------
Ngày xửa ngày xưa có một vị vua trị vì một đất nước rất hùng mạnh tên là Souleymane. Một hôm ông ta mơ thấy thánh Allah hiện về và tặng cho ông ta một chiếc đũa thần. Chiếc đũa này có thể mang đến cho Souleymane sự thông thái, sức mạnh và giàu có. Lúc tỉnh dậy, thật bất ngờ, ông ta thấy chiếc đũa thần đang ở trong tay.
Nhờ có chiếc đũa, Souleymane đã cai trị được tất cả những loài quỷ trên sa mạc và bắt chúng xây cho nhà vua rất nhiều lâu đài, đền miếu, khắc tượng, đào giếng để lấy nước và dựng thêm nhiều thành phố xung quanh kinh thành.
Nhưng một ngày kia, lũ quỷ không còn sợ nhà vua nữa. Chúng tụ tập nhau chống đối lại nhà vua. Souleymane dễ dàng dẹp được cuộc nổi loạn này. Để trừng trị lũ quỷ, ông đã nhốt tất cả chúng vào chai rồi gắn chì vào miệng chai, trên đó có in hình chiếc đũa thần. Sau đó, nhà vua ném tất cả các chai xuống biển. Một trong những chiếc chai chìm sâu nhất là chiếc chai nhốt hung thần Zawbaat.
Một trăm năm sau, Zawbaat vẫn bị nhốt trong chai và chiếc chai vẫn nằm dưới cát. Ở trong chai Zawbaat luôn mồm nói:
- Ai cứu ta ra khỏi nơi này, ta sẽ ban cho nhiều của cải.
Nhưng không ai nghe thấy.
- Ai cứu ta ra khỏi nơi này, ta sẽ thực hiện tất cả những điều ước - Zawbaat lại hét lên.
Nhưng vẫn vô ích...
Năm trăm năm sau, Zawbaat chửi rủa số phận của mình và thề rằng sẽ giết kẻ nào cứu hắn ra khỏi chai. Vừa nghĩ như vậy thì hắn thấy chiếc chai như đang được đẩy lên mặt biển. Thì ra chiếc chai đang nằm trong lưới của một ông lão đánh cá nghèo khổ.
Cả ngày hôm đó, ông lão đánh cá vẫn chưa được một con cá nào cả, lần nào kéo lưới lên cũng là chiếc lưới trống không. Bây giờ, khi kéo lưới lên thấy nặng tay, ông đã mừng thầm. Không ngờ lần này chỉ là một cái chai cũ rích.
Nhưng khuôn mặt của ông lão rạng rỡ hẳn lên, ông nghĩ: “Mình sẽ đem cái chai này ra chợ bán, ít ra mình cũng được mươi xu. Nhưng trước tiên, mình phải mở nó ra để xem có gì ở bên trong không.”
Ông lấy dao và nậy nắp chai ra. Nắp chai vừa bật thì một làn khói dày đặc bay ra và bay vút lên không trung. Ông lo sợ quá ngã lăn ra bãi cát. Zawbaat hiện ra và nói, giọng giận dữ:
- Ngươi hãy chuẩn bị để chết. Ta vừa thề rằng sẽ giết kẻ nào mở nắp chai, nhưng ta chưa kịp nghĩ ra giết bằng cách nào. Ta cho phép ngươi được chọn lấy cách chết.
- Lạy thánh Allah, xin ngươi hãy đến cứu con - Ông lão đánh cá khốn khổ thổn thức.
Nhưng hung thần vẫn rít lên:
- Nhanh lên, lão già! Ngươi phải chết - Tôi không thể nào tin được. Một người cao to như ông lại ở trong cái chai này. Ngay cả ngón tay bé nhất của ông cũng không thể chui lọt.
Hung thần cười phá lán khiến cả dãy núi phải rung chuyển:
- Điều này quá dễ đối với ta. Hãy nhìn đây!
Nói rồi, hung thần biến thành làn khói và chui tọt vào trong chai.
Ông lão đánh cá không nói không rằng, đợi cho làn khói đã nằm gọn trong chai liền lấy ngay nắp chai đậy lại. Sau đó, ông cười khoái trá:
- Ha ha! Ngươi đã nằm trong tay ta rồi. Ta sẽ trả ngươi về với biển cả. Ta sẽ ném ngươi ra thật xa để ngươi không còn bị mắc vào lưới nữa. Đi đến đâu ta cũng kể rằng có một con quỷ rất độc ác bị nhốt trong chai, nó sẽ giết bất kể ai cứu nó. Sẽ không bao giờ ngươi còn nhìn thấy ánh nắng mặt trời nữa.
Con quỷ lồng lộn trong chai nhưng nắp chai đã đậy kín. Nó van vỉ:
- Ông lão đánh cá ơi, xin ông đừng độc ác như vậy. Tôi không hề có ý định giết ông. Ban nãy, tôi chỉ nói đùa thôi mà. Tôi chỉ muốn xem phản ứng của ông ra sao thôi.
Ông lão đánh cá vẫn lạnh lùng nói:
- Con quỷ xấu xa kia, ngươi lại lừa ta ư? Ta không thèm tin một lời nào của ngươi.
Nói rồi, ông lão định cầm chai lên quăng xuống biển.
- Nếu thả tôi ra ông sẽ cứu được hàng ngàn người đang phải chịu đau khổ - Hung thần thì thào sát vào nút chai.
Lần này thì ông lão đánh cá phải cân nhắc. Ông không mạo hiểm đời mình với lời hứa sẽ mang lại của cải của hung thần, nhưng nếu như ông có thể cứu được hàng nghìn người khác thì...
Lão đánh cá đưa tay từ từ mở nút chai. Ngay lập tức khói tuôn ra và hung thần trở lại với hình dáng y như lần trước. Việc đầu tiên mà hung thần làm là đá chiếc chai xuống biển.
- Biến đi, chiếc chai đáng nguyền rủa! Từ nay ta không còn phải nhìn thấy mi nữa.
Lão đánh cá nhìn thấy hành động của hung thần liền hốt hoảng tự nhủ:
- Không ổn rồi. Hắn ta sẽ giết mình. Chắc chắn là thế rồi.
Nghĩ vậy, ông úp mặt mình vào hai lòng bàn tay.
Zawbaat nhấc bổng ông và cả tấm lưới lên. Ông lão đánh cá chắc mẩm lần này là mình chết thật. Nhưng thật kỳ lạ, hung thần đưa lão đi sang bên kia dãy núi và đặt lão xuống bên cạnh một hồ nước rộng mênh mông. Xung quanh hồ nước là những quả đồi thoai thoải. Hung thần chỉ vào những con cá sặc sỡ sắc màu đang bơi lội dưới hồ bảo với ông lão:
- Đó là phần thưởng của ông. Ông hãy buông lưới mà vớt cá lên. Nhưng ta báo cho ông biết, mỗi ngày ông chỉ được bắt bốn con cá, nếu không sẽ mang hoạ vào thân. Ông hãy mang cá đến bán cho nhà vua. Với số tiền đó, ông tiêu cả đời cũng không hết.
Ông lão chưa kịp hỏi hung thần về việc cứu vớt những kẻ bất hạnh thì hung thần đã dậm mạnh chân xuống đất, mặt đất rẽ ra và hung thần biến mất.
Ông lão quăng lưới xuống hồ. Khi kéo lưới lên ông thấy có bốn con cá trong lưới. Điều khiến ông vô cùng kinh ngạc là bốn cơn cá có bốn màu khác nhau: trắng, đỏ, xanh và vàng.
Ông sung sướng vội vã đem bốn con cá về dâng lên nhà vua.
Nhìn thấy bốn con cá, nhà vua liền ra lệnh:
- Hãy ban cho ông lão bốn trăm đồng tiền vàng và đem cá đi nấu ngay cho ta. Ta rất muốn biết mùi vị của nó ra sao.
Ông lão đánh cá hoan hỷ cầm tiền trở về nhà.
Bà đầu bếp của nhà vua làm cá sạch sẽ rồi cho lên chảo rán. Khi bà vừa lật con cá đầu tiên thì tường bếp bỗng nứt ra. Một cô gái cực kỳ xinh đẹp ăn mặc lộng lẫy, tay đeo vòng hồng ngọc hiện ra. Nàng nói với bốn con cá:
- Hỡi đàn cá, các ngươi vẫn giữ lời hứa đấy chứ? Các ngươi sẽ im lặng chứ?
Bốn con cá ngóc đầu lên và đồng thanh đáp:
- Vâng. Hãy tin chúng tôi.
Đàn cá vừa dứt lời, cô gái biến mất vào trong tường. Bà đầu bếp lặng người đi vì kinh sợ trước cảnh tượng đó. Đến khi trấn tĩnh trở lại thì bốn con cá đã cháy thành tro.
Bà vội vã đi tâu lại với nhà vua mọi chuyện. Nhà vua cũng kinh ngạc không kém. Ngài ra lệnh cho tể tướng:
- Hãy đi tìm lão đánh cá và bảo lão mang lại cho ta những con cá khác. Lần này chính tay ngươi phải nấu cá. Ta cho rằng bà đầu bếp chắc đã ngủ gật nên làm cháy cá của ta rồi bịa chuyện để ta khỏi trừng phạt.
Ngày hôm sau, mọi chuyện diễn ra với tể tướng y hệt như đã diễn ra với bà đầu bếp. Ngày hôm sau nữa đích thân nhà vua xuống bếp. Khi ngài bắt đầu lật con cá thứ nhất thì bức tường lại mở ra, một cô gái xinh đẹp hiện lên nói chuyện với đàn cá và trước khi nhà vua kịp trấn tĩnh thì bốn con cá đã cháy thành than.
Nhà vua ra lệnh cho tể tướng:
- Ngươi hãy đưa lão đánh cá lại đây cho ta. Ta muốn hiểu rõ bí mật này.
Khi lão đánh cá được dẫn đến nhà vua hỏi:
- Nhà ngươi bắt những con cá này ở đâu?
- Muôn tâu bệ hạ, lão bắt chúng ở một hồ nước có nhiều đồi vây quanh - Ông lão đánh cá run rẩy trả lời.
- Hồ nước đó có gần đây không?
- Thưa gần ạ... Lão đi bộ trong nửa giờ là tới.
Nhà vua quát lớn:
- Lão nói láo! Cách đây nửa giờ đi bộ không hề có hồ nước mà cũng chẳng có núi đồi. Nhưng thôi, ta tin lời lão nếu như lão dẫn ta tới đó.
Ba mươi phút sau, nhà vua cùng ông lão đánh cá đã đứng bên hồ nước ngắm nghía những con cá sặc sỡ đang bơi lội. Nhà vua nói:
- Nhất định ta phải làm rõ chuyện này. Ta sẽ đi xung quanh hồ nước còn lão hãy trở về cung điện và nói với tể tướng thay ta trị vì vương quốc trong lúc ta vắng mặt. Nếu một tuần nữa mà không thấy ta trở về thì hãy cử quân lính đến tìm ta!
Nhà vua đi một ngày ròng rã rồi lại hết đêm hôm đó. Ngày hôm sau ngài thấy mình đang đứng trước cổng một kinh thành. Các đường phố đều đẹp đẽ nhưng hoàn toàn được phủ bằng màu đen và vắng vẻ không một bóng người. Ngài đi tận đến cung điện nhưng vẫn không gặp ai. Ngài nghĩ:- Nơi này cũng chẳng giúp ta hiểu về bí mật của những con cá được.
Vừa nghĩ đến đó thì ngày bỗng nghe có tiếng thổn thức:- Ôi, lạy thánh Allah! Tại sao số phận ta lại nghiệt ngã như vậy? Ai có thể đem niềm hạnh phúc lại cho ta? Ai có thể cứu vớt được dân chúng của ta?
Nhà vua mạnh dạn bước vào trong cung điện. Một chàng trai đang úp mặt vào hai bàn tay khóc nức nở. Trước mặt chàng trai là một nấm mồ bằng đá có khắc hình khuôn mặt nhăn nhó của một người đàn ông da đen.
- Xin chào! - Nhà vua lên tiếng.
- Xin chào ngài! Đáng lẽ tôi phải đứng lên để đón tiếp ngài nhưng tôi không thể cử động được. Nửa phần cơ thể phía dưới của tôi đã hoá đá. Xin ngài hãy thứ lỗi. - Chàng trai vừa nói vừa chỉ xuống hai chân đã tê liệt.
- Tôi rất thông cảm với nỗi khổ đau của ngài. Chắc hẳn đã có những chuyện không hay xảy ra ở thành phố này. Tôi đã thấy kinh thành của ngài chìm ngập trong màu đen chết chóc và sự yên lặng đến rợn người. Khi đến đây tôi lại thấy ngài đã bị hoá đá một nửa cơ thể. Vậy ngài có thể cho tôi biết nguyên cớ của những bất hạnh này không?
Chàng trai nhẹ nhàng đáp:
- Tôi sẽ kể cho ngài nghe mọi chuyện. Nhưng sau đó ngài phải rời khỏi thành phố này ngay lập tức, nếu không ngài cũng sẽ bị chịu chung số phận như tôi đây.
Và chàng trai bắt đầu kể:
- Tôi là người trị vì vương quốc này. Tôi có một người vợ vô cùng xinh đẹp. Tôi yêu hoàng hậu say đắm và tin rằng tôi cũng được yêu như vậy. Nhưng rồi một hôm, tôi vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra hoàng hậu có quan hệ lén lút với một tên nô lệ da đen. Cơn ghen tức nổi lên tôi rút gươm chém ngay tên đó trước mặt vợ tôi. Sau đó, tôi quay mũi gươm về phía mụ ta. Ngay lúc đó, mụ ta lẩm bẩm câu gì đó bằng thứ tiếng rất lạ khiến tôi không hiểu. Mụ vừa dứt lời thì một nửa cơ thể của tôi liền bị hoá đá. Mụ tàn phá kinh thành này, nhấn chìm các cánh đồng giữa những quả đồi, biến dân chúng nước tôi thành những con cá nhiều màu rồi xua họ xuống hồ nước.
Từ đó trở đi, ngày nào mụ cũng đến quật tôi một trăm roi rồi ngồi thủ thỉ rất lâu với nấm mồ của tình nhân.
Trước khi kết thúc câu chuyện, chàng trai thở dài phiền muộn:
- Thưa ngài, còn bây giờ, xin ngài hãy đi khỏi nơi đây trước khi quá muộn.
Ngay lúc đó, nhà vua nghe thấy tiếng bước chân đang tiến dần đến. Ngài chỉ kịp chạy ra nấp sau nấm mộ. Một thiếu phụ trong bộ đồ tang buồn bã bước vào. Mụ ta tiến đến bên cạnh chàng trai, vạch vai chàng ra và quất túi bụi. Vị vua trẻ tuổi thét lên đau đớn nhưng mụ ta vẫn không hề thương cảm mà còn vụt mạnh hơn. Khi chàng trai ngất đi thì mụ ta mới ném roi xuống đất rồi quỳ bên nấm mồ thì thầm:
- Hãy nói đi, người tình của em. Chàng hãy nói đôi lời để em lại được nghe giọng nói ngọt ngào của chàng.
Nhà vua nấp sau nấm mồ lấy tay bịt miệng lại rồi nói giả giọng người da đen:
- Mụ phù thủy xấu xa, mi không đáng được nghe ta nói.
Nghe thấy vậy mù phù thuỷ vô cùng mừng rỡ reo lên:
- Ôi, người tình của em, chàng đã trở về!
- Đúng vậy, nhưng ta không thể ra khỏi nấm mồ này chừng nào ngươi vẫn còn phù phép chồng ngươi và đất nước này. Chúng ta không thể có hạnh phúc nếu để tất cả những người vô tội này phải chịu đau khổ.
Mụ phù thủy ngạc nhiên nói:
- Chàng khác xưa nhiều quá. Nhưng em sẽ làm theo ý muốn của chàng.
Mụ phù thủy cầm một bát nước trong tay, miệng lẩm bẩm niệm thần chú. Khi bát nước bắt đầu sôi, mụ ta vảy vài giọt lên người vị vua trẻ và niệm:
- Hãy trở về với hình dạng ban đầu!
Đôi chân của chàng trai bắt đầu động đậy rồi có thể đứng lên được. Chàng trai nhảy lên vì vui sướng. Mụ phù thuỷ nhìn ra hồ nước, mụ lại cầm bát nước lên và niệm chú. Chiếc bát bay lên như con chim. Khi những giọt nước trong bát vừa đổ xuống hồ thì những con cá sặc sỡ màu sắc biến thành một đoàn người. Sau đó, hồ nước biến mất.
Mụ phù thủy quay về phía nấm mồ và nói:
- Người tình của em, chàng còn muốn gì nữa không?
- Hãy lại gần đây! - Nhà vua ra lệnh.
Mụ ta nghiêng mình vào sát nấm mồ. Nhanh như chớp, nhà vua rút gươm đâm vào ngực mụ ta.
Ánh sáng trở lại trong cung điện và khắp kinh thành, đám đông lần lượt tìm thấy nhà cửa, hàng hiệu của mình.
Nhà vua nói:
- Bây giờ tôi phải trở về vương quốc của tôi.
Chàng trai nghẹn ngào dặn dò nhà vua:
- Tôi sẽ cho quân lính hộ tống ngài trở về và sẽ cung cấp đầy đủ lương thảo. Khi đến đây ngài chỉ đi hết một ngày vì vương quốc của tôi đang bị phù phép. Còn bây giờ ngài phải đi hết một năm tròn.
Nhà vua cảm tạ chàng trai rồi vội vã lên đường. Ngài vượt qua rất nhiều sa mạc, núi rừng, đồng ruộng và cuối cùng đã về tới kinh thành của mình.
Tể tướng, các quan trong triều và dân chúng cứ ngỡ ông đã chết vì ông đi quá lâu không có tin tức trở về. Họ sung sướng mở tiệc ăn mừng vì thấy nhà vua vẫn bình an vô sự.
Nhà vua cho vời ông lão đánh cá đến và khen thưởng cho ông rất nhiều vàng bạc.
Ông lão đánh cá vẫn còn nhớ mãi đến hung thần Zawbaat nhưng chẳng bao giờ ông gặp lại hung thần nữa.
LGT: Trong các thể chế độc tài toàn trị, để dễ dàng cai trị người dân thì những chế độ này luôn độc quyền về thông tin và sử dụng chính sách ngu dân nhằm cho người dân chỉ biết nghe một thứ tiếng nói duy nhất từ nhà cầm quyền!
Do đó những chế độ này luôn bưng bít thông tin, thường nói dối và rất sợ sự thật.
Những sự thật này nhà cầm quyền rất sợ nó và được xem như là một |hung thần” với chính sự tồn tại của họ và muốn nó phải bị “đóng hủ” thả xuống biển sâu!
Thời đại ngày nay, với sự phát triển của mạng Internet toàn cầu mà trên đó rất đa dạng những luồng thông tin có thể kiểm chứng và chưa được hiểm chứng thì người dân bắt đầu “bội thực | thông tin và những gì thông tin từ nhà cầm quyền trước đây độc quyền thì ngày nay đã bắt đầu lung lay trong niềm tin của người dân…
Câu chuyện cổ Ả-rập dưới đây cho ta hình dung ra một khi sự dối trá bị bưng bít quá lâu, bị đóng hũ quá lâu đến khi nó đã được “giải phóng” thì khó lòng “thu hồi” những niềm tin mà chính quyền độc tài đã gieo rắc trước đây…
------------------------------
Ngày xửa ngày xưa có một vị vua trị vì một đất nước rất hùng mạnh tên là Souleymane. Một hôm ông ta mơ thấy thánh Allah hiện về và tặng cho ông ta một chiếc đũa thần. Chiếc đũa này có thể mang đến cho Souleymane sự thông thái, sức mạnh và giàu có. Lúc tỉnh dậy, thật bất ngờ, ông ta thấy chiếc đũa thần đang ở trong tay.
Nhờ có chiếc đũa, Souleymane đã cai trị được tất cả những loài quỷ trên sa mạc và bắt chúng xây cho nhà vua rất nhiều lâu đài, đền miếu, khắc tượng, đào giếng để lấy nước và dựng thêm nhiều thành phố xung quanh kinh thành.
Nhưng một ngày kia, lũ quỷ không còn sợ nhà vua nữa. Chúng tụ tập nhau chống đối lại nhà vua. Souleymane dễ dàng dẹp được cuộc nổi loạn này. Để trừng trị lũ quỷ, ông đã nhốt tất cả chúng vào chai rồi gắn chì vào miệng chai, trên đó có in hình chiếc đũa thần. Sau đó, nhà vua ném tất cả các chai xuống biển. Một trong những chiếc chai chìm sâu nhất là chiếc chai nhốt hung thần Zawbaat.
Một trăm năm sau, Zawbaat vẫn bị nhốt trong chai và chiếc chai vẫn nằm dưới cát. Ở trong chai Zawbaat luôn mồm nói:
- Ai cứu ta ra khỏi nơi này, ta sẽ ban cho nhiều của cải.
Nhưng không ai nghe thấy.
- Ai cứu ta ra khỏi nơi này, ta sẽ thực hiện tất cả những điều ước - Zawbaat lại hét lên.
Nhưng vẫn vô ích...
Năm trăm năm sau, Zawbaat chửi rủa số phận của mình và thề rằng sẽ giết kẻ nào cứu hắn ra khỏi chai. Vừa nghĩ như vậy thì hắn thấy chiếc chai như đang được đẩy lên mặt biển. Thì ra chiếc chai đang nằm trong lưới của một ông lão đánh cá nghèo khổ.
Cả ngày hôm đó, ông lão đánh cá vẫn chưa được một con cá nào cả, lần nào kéo lưới lên cũng là chiếc lưới trống không. Bây giờ, khi kéo lưới lên thấy nặng tay, ông đã mừng thầm. Không ngờ lần này chỉ là một cái chai cũ rích.
Nhưng khuôn mặt của ông lão rạng rỡ hẳn lên, ông nghĩ: “Mình sẽ đem cái chai này ra chợ bán, ít ra mình cũng được mươi xu. Nhưng trước tiên, mình phải mở nó ra để xem có gì ở bên trong không.”
Ông lấy dao và nậy nắp chai ra. Nắp chai vừa bật thì một làn khói dày đặc bay ra và bay vút lên không trung. Ông lo sợ quá ngã lăn ra bãi cát. Zawbaat hiện ra và nói, giọng giận dữ:
- Ngươi hãy chuẩn bị để chết. Ta vừa thề rằng sẽ giết kẻ nào mở nắp chai, nhưng ta chưa kịp nghĩ ra giết bằng cách nào. Ta cho phép ngươi được chọn lấy cách chết.
- Lạy thánh Allah, xin ngươi hãy đến cứu con - Ông lão đánh cá khốn khổ thổn thức.
Nhưng hung thần vẫn rít lên:
- Nhanh lên, lão già! Ngươi phải chết - Tôi không thể nào tin được. Một người cao to như ông lại ở trong cái chai này. Ngay cả ngón tay bé nhất của ông cũng không thể chui lọt.
Hung thần cười phá lán khiến cả dãy núi phải rung chuyển:
- Điều này quá dễ đối với ta. Hãy nhìn đây!
Nói rồi, hung thần biến thành làn khói và chui tọt vào trong chai.
Ông lão đánh cá không nói không rằng, đợi cho làn khói đã nằm gọn trong chai liền lấy ngay nắp chai đậy lại. Sau đó, ông cười khoái trá:
- Ha ha! Ngươi đã nằm trong tay ta rồi. Ta sẽ trả ngươi về với biển cả. Ta sẽ ném ngươi ra thật xa để ngươi không còn bị mắc vào lưới nữa. Đi đến đâu ta cũng kể rằng có một con quỷ rất độc ác bị nhốt trong chai, nó sẽ giết bất kể ai cứu nó. Sẽ không bao giờ ngươi còn nhìn thấy ánh nắng mặt trời nữa.
Con quỷ lồng lộn trong chai nhưng nắp chai đã đậy kín. Nó van vỉ:
- Ông lão đánh cá ơi, xin ông đừng độc ác như vậy. Tôi không hề có ý định giết ông. Ban nãy, tôi chỉ nói đùa thôi mà. Tôi chỉ muốn xem phản ứng của ông ra sao thôi.
Ông lão đánh cá vẫn lạnh lùng nói:
- Con quỷ xấu xa kia, ngươi lại lừa ta ư? Ta không thèm tin một lời nào của ngươi.
Nói rồi, ông lão định cầm chai lên quăng xuống biển.
- Nếu thả tôi ra ông sẽ cứu được hàng ngàn người đang phải chịu đau khổ - Hung thần thì thào sát vào nút chai.
Lần này thì ông lão đánh cá phải cân nhắc. Ông không mạo hiểm đời mình với lời hứa sẽ mang lại của cải của hung thần, nhưng nếu như ông có thể cứu được hàng nghìn người khác thì...
Lão đánh cá đưa tay từ từ mở nút chai. Ngay lập tức khói tuôn ra và hung thần trở lại với hình dáng y như lần trước. Việc đầu tiên mà hung thần làm là đá chiếc chai xuống biển.
- Biến đi, chiếc chai đáng nguyền rủa! Từ nay ta không còn phải nhìn thấy mi nữa.
Lão đánh cá nhìn thấy hành động của hung thần liền hốt hoảng tự nhủ:
- Không ổn rồi. Hắn ta sẽ giết mình. Chắc chắn là thế rồi.
Nghĩ vậy, ông úp mặt mình vào hai lòng bàn tay.
Zawbaat nhấc bổng ông và cả tấm lưới lên. Ông lão đánh cá chắc mẩm lần này là mình chết thật. Nhưng thật kỳ lạ, hung thần đưa lão đi sang bên kia dãy núi và đặt lão xuống bên cạnh một hồ nước rộng mênh mông. Xung quanh hồ nước là những quả đồi thoai thoải. Hung thần chỉ vào những con cá sặc sỡ sắc màu đang bơi lội dưới hồ bảo với ông lão:
- Đó là phần thưởng của ông. Ông hãy buông lưới mà vớt cá lên. Nhưng ta báo cho ông biết, mỗi ngày ông chỉ được bắt bốn con cá, nếu không sẽ mang hoạ vào thân. Ông hãy mang cá đến bán cho nhà vua. Với số tiền đó, ông tiêu cả đời cũng không hết.
Ông lão chưa kịp hỏi hung thần về việc cứu vớt những kẻ bất hạnh thì hung thần đã dậm mạnh chân xuống đất, mặt đất rẽ ra và hung thần biến mất.
Ông lão quăng lưới xuống hồ. Khi kéo lưới lên ông thấy có bốn con cá trong lưới. Điều khiến ông vô cùng kinh ngạc là bốn cơn cá có bốn màu khác nhau: trắng, đỏ, xanh và vàng.
Ông sung sướng vội vã đem bốn con cá về dâng lên nhà vua.
Nhìn thấy bốn con cá, nhà vua liền ra lệnh:
- Hãy ban cho ông lão bốn trăm đồng tiền vàng và đem cá đi nấu ngay cho ta. Ta rất muốn biết mùi vị của nó ra sao.
Ông lão đánh cá hoan hỷ cầm tiền trở về nhà.
Bà đầu bếp của nhà vua làm cá sạch sẽ rồi cho lên chảo rán. Khi bà vừa lật con cá đầu tiên thì tường bếp bỗng nứt ra. Một cô gái cực kỳ xinh đẹp ăn mặc lộng lẫy, tay đeo vòng hồng ngọc hiện ra. Nàng nói với bốn con cá:
- Hỡi đàn cá, các ngươi vẫn giữ lời hứa đấy chứ? Các ngươi sẽ im lặng chứ?
Bốn con cá ngóc đầu lên và đồng thanh đáp:
- Vâng. Hãy tin chúng tôi.
Đàn cá vừa dứt lời, cô gái biến mất vào trong tường. Bà đầu bếp lặng người đi vì kinh sợ trước cảnh tượng đó. Đến khi trấn tĩnh trở lại thì bốn con cá đã cháy thành tro.
Bà vội vã đi tâu lại với nhà vua mọi chuyện. Nhà vua cũng kinh ngạc không kém. Ngài ra lệnh cho tể tướng:
- Hãy đi tìm lão đánh cá và bảo lão mang lại cho ta những con cá khác. Lần này chính tay ngươi phải nấu cá. Ta cho rằng bà đầu bếp chắc đã ngủ gật nên làm cháy cá của ta rồi bịa chuyện để ta khỏi trừng phạt.
Ngày hôm sau, mọi chuyện diễn ra với tể tướng y hệt như đã diễn ra với bà đầu bếp. Ngày hôm sau nữa đích thân nhà vua xuống bếp. Khi ngài bắt đầu lật con cá thứ nhất thì bức tường lại mở ra, một cô gái xinh đẹp hiện lên nói chuyện với đàn cá và trước khi nhà vua kịp trấn tĩnh thì bốn con cá đã cháy thành than.
Nhà vua ra lệnh cho tể tướng:
- Ngươi hãy đưa lão đánh cá lại đây cho ta. Ta muốn hiểu rõ bí mật này.
Khi lão đánh cá được dẫn đến nhà vua hỏi:
- Nhà ngươi bắt những con cá này ở đâu?
- Muôn tâu bệ hạ, lão bắt chúng ở một hồ nước có nhiều đồi vây quanh - Ông lão đánh cá run rẩy trả lời.
- Hồ nước đó có gần đây không?
- Thưa gần ạ... Lão đi bộ trong nửa giờ là tới.
Nhà vua quát lớn:
- Lão nói láo! Cách đây nửa giờ đi bộ không hề có hồ nước mà cũng chẳng có núi đồi. Nhưng thôi, ta tin lời lão nếu như lão dẫn ta tới đó.
Ba mươi phút sau, nhà vua cùng ông lão đánh cá đã đứng bên hồ nước ngắm nghía những con cá sặc sỡ đang bơi lội. Nhà vua nói:
- Nhất định ta phải làm rõ chuyện này. Ta sẽ đi xung quanh hồ nước còn lão hãy trở về cung điện và nói với tể tướng thay ta trị vì vương quốc trong lúc ta vắng mặt. Nếu một tuần nữa mà không thấy ta trở về thì hãy cử quân lính đến tìm ta!
Nhà vua đi một ngày ròng rã rồi lại hết đêm hôm đó. Ngày hôm sau ngài thấy mình đang đứng trước cổng một kinh thành. Các đường phố đều đẹp đẽ nhưng hoàn toàn được phủ bằng màu đen và vắng vẻ không một bóng người. Ngài đi tận đến cung điện nhưng vẫn không gặp ai. Ngài nghĩ:- Nơi này cũng chẳng giúp ta hiểu về bí mật của những con cá được.
Vừa nghĩ đến đó thì ngày bỗng nghe có tiếng thổn thức:- Ôi, lạy thánh Allah! Tại sao số phận ta lại nghiệt ngã như vậy? Ai có thể đem niềm hạnh phúc lại cho ta? Ai có thể cứu vớt được dân chúng của ta?
Nhà vua mạnh dạn bước vào trong cung điện. Một chàng trai đang úp mặt vào hai bàn tay khóc nức nở. Trước mặt chàng trai là một nấm mồ bằng đá có khắc hình khuôn mặt nhăn nhó của một người đàn ông da đen.
- Xin chào! - Nhà vua lên tiếng.
- Xin chào ngài! Đáng lẽ tôi phải đứng lên để đón tiếp ngài nhưng tôi không thể cử động được. Nửa phần cơ thể phía dưới của tôi đã hoá đá. Xin ngài hãy thứ lỗi. - Chàng trai vừa nói vừa chỉ xuống hai chân đã tê liệt.
- Tôi rất thông cảm với nỗi khổ đau của ngài. Chắc hẳn đã có những chuyện không hay xảy ra ở thành phố này. Tôi đã thấy kinh thành của ngài chìm ngập trong màu đen chết chóc và sự yên lặng đến rợn người. Khi đến đây tôi lại thấy ngài đã bị hoá đá một nửa cơ thể. Vậy ngài có thể cho tôi biết nguyên cớ của những bất hạnh này không?
Chàng trai nhẹ nhàng đáp:
- Tôi sẽ kể cho ngài nghe mọi chuyện. Nhưng sau đó ngài phải rời khỏi thành phố này ngay lập tức, nếu không ngài cũng sẽ bị chịu chung số phận như tôi đây.
Và chàng trai bắt đầu kể:
- Tôi là người trị vì vương quốc này. Tôi có một người vợ vô cùng xinh đẹp. Tôi yêu hoàng hậu say đắm và tin rằng tôi cũng được yêu như vậy. Nhưng rồi một hôm, tôi vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra hoàng hậu có quan hệ lén lút với một tên nô lệ da đen. Cơn ghen tức nổi lên tôi rút gươm chém ngay tên đó trước mặt vợ tôi. Sau đó, tôi quay mũi gươm về phía mụ ta. Ngay lúc đó, mụ ta lẩm bẩm câu gì đó bằng thứ tiếng rất lạ khiến tôi không hiểu. Mụ vừa dứt lời thì một nửa cơ thể của tôi liền bị hoá đá. Mụ tàn phá kinh thành này, nhấn chìm các cánh đồng giữa những quả đồi, biến dân chúng nước tôi thành những con cá nhiều màu rồi xua họ xuống hồ nước.
Từ đó trở đi, ngày nào mụ cũng đến quật tôi một trăm roi rồi ngồi thủ thỉ rất lâu với nấm mồ của tình nhân.
Trước khi kết thúc câu chuyện, chàng trai thở dài phiền muộn:
- Thưa ngài, còn bây giờ, xin ngài hãy đi khỏi nơi đây trước khi quá muộn.
Ngay lúc đó, nhà vua nghe thấy tiếng bước chân đang tiến dần đến. Ngài chỉ kịp chạy ra nấp sau nấm mộ. Một thiếu phụ trong bộ đồ tang buồn bã bước vào. Mụ ta tiến đến bên cạnh chàng trai, vạch vai chàng ra và quất túi bụi. Vị vua trẻ tuổi thét lên đau đớn nhưng mụ ta vẫn không hề thương cảm mà còn vụt mạnh hơn. Khi chàng trai ngất đi thì mụ ta mới ném roi xuống đất rồi quỳ bên nấm mồ thì thầm:
- Hãy nói đi, người tình của em. Chàng hãy nói đôi lời để em lại được nghe giọng nói ngọt ngào của chàng.
Nhà vua nấp sau nấm mồ lấy tay bịt miệng lại rồi nói giả giọng người da đen:
- Mụ phù thủy xấu xa, mi không đáng được nghe ta nói.
Nghe thấy vậy mù phù thuỷ vô cùng mừng rỡ reo lên:
- Ôi, người tình của em, chàng đã trở về!
- Đúng vậy, nhưng ta không thể ra khỏi nấm mồ này chừng nào ngươi vẫn còn phù phép chồng ngươi và đất nước này. Chúng ta không thể có hạnh phúc nếu để tất cả những người vô tội này phải chịu đau khổ.
Mụ phù thủy ngạc nhiên nói:
- Chàng khác xưa nhiều quá. Nhưng em sẽ làm theo ý muốn của chàng.
Mụ phù thủy cầm một bát nước trong tay, miệng lẩm bẩm niệm thần chú. Khi bát nước bắt đầu sôi, mụ ta vảy vài giọt lên người vị vua trẻ và niệm:
- Hãy trở về với hình dạng ban đầu!
Đôi chân của chàng trai bắt đầu động đậy rồi có thể đứng lên được. Chàng trai nhảy lên vì vui sướng. Mụ phù thuỷ nhìn ra hồ nước, mụ lại cầm bát nước lên và niệm chú. Chiếc bát bay lên như con chim. Khi những giọt nước trong bát vừa đổ xuống hồ thì những con cá sặc sỡ màu sắc biến thành một đoàn người. Sau đó, hồ nước biến mất.
Mụ phù thủy quay về phía nấm mồ và nói:
- Người tình của em, chàng còn muốn gì nữa không?
- Hãy lại gần đây! - Nhà vua ra lệnh.
Mụ ta nghiêng mình vào sát nấm mồ. Nhanh như chớp, nhà vua rút gươm đâm vào ngực mụ ta.
Ánh sáng trở lại trong cung điện và khắp kinh thành, đám đông lần lượt tìm thấy nhà cửa, hàng hiệu của mình.
Nhà vua nói:
- Bây giờ tôi phải trở về vương quốc của tôi.
Chàng trai nghẹn ngào dặn dò nhà vua:
- Tôi sẽ cho quân lính hộ tống ngài trở về và sẽ cung cấp đầy đủ lương thảo. Khi đến đây ngài chỉ đi hết một ngày vì vương quốc của tôi đang bị phù phép. Còn bây giờ ngài phải đi hết một năm tròn.
Nhà vua cảm tạ chàng trai rồi vội vã lên đường. Ngài vượt qua rất nhiều sa mạc, núi rừng, đồng ruộng và cuối cùng đã về tới kinh thành của mình.
Tể tướng, các quan trong triều và dân chúng cứ ngỡ ông đã chết vì ông đi quá lâu không có tin tức trở về. Họ sung sướng mở tiệc ăn mừng vì thấy nhà vua vẫn bình an vô sự.
Nhà vua cho vời ông lão đánh cá đến và khen thưởng cho ông rất nhiều vàng bạc.
Ông lão đánh cá vẫn còn nhớ mãi đến hung thần Zawbaat nhưng chẳng bao giờ ông gặp lại hung thần nữa.
Copyright of Hoài Nguyễn
Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018
Mưa rừng Sáng tác: Nhạc sĩ Huỳnh Anh (1961) Trình bày: Ca Sĩ Ánh Tuyết
Hoài Nguyễn giới thiệu:
Mưa rừng
Sáng tác: Nhạc sĩ Huỳnh Anh (1961)
Trình bày: Ca Sĩ Ánh Tuyết
------------------------------------
Mưa rừng ơi! Mưa rừng!
Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên
Phải chăng mưa buồn vì tình đời,
Mưa sầu vì lòng người duyên kiếp không lâu.
Sáng tác: Nhạc sĩ Huỳnh Anh (1961)
Trình bày: Ca Sĩ Ánh Tuyết
------------------------------------
Mưa rừng ơi! Mưa rừng!
Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên
Phải chăng mưa buồn vì tình đời,
Mưa sầu vì lòng người duyên kiếp không lâu.
Mưa từ đâu mưa về làm muôn lá hoa rơi tả tơi.
Tiếng mưa gió lạnh về lùa ngoài mành
Lá vàng rơi lìa cành gợi ta nỗi niềm riêng
Tiếng mưa gió lạnh về lùa ngoài mành
Lá vàng rơi lìa cành gợi ta nỗi niềm riêng
Ôi! ta mong ước xa xôi,
những đêm mãi cô đơn gửi tâm tư về đâu?
Mưa thương ai? Mưa nhớ ai?
Mưa rơi như nhắc nhở mưa rơi trong lòng tôi.
những đêm mãi cô đơn gửi tâm tư về đâu?
Mưa thương ai? Mưa nhớ ai?
Mưa rơi như nhắc nhở mưa rơi trong lòng tôi.
Mưa rừng ơi! Mưa rừng
Tìm đâu hỡi ơi bóng ngày xưa
Mỗi khi mưa rừng về muộn màng,
Bóng chiều vàng dần tàn
Lòng thương nhớ nào nguôi.
Tìm đâu hỡi ơi bóng ngày xưa
Mỗi khi mưa rừng về muộn màng,
Bóng chiều vàng dần tàn
Lòng thương nhớ nào nguôi.
học sinh VNCH thời tiểu học đã được dạy lịch sử.
học sinh VNCH thời tiểu học đã được dạy lịch sử.
100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!
Lý Thái Hoà
học sinh VNCH thời tiểu học đã được dạy lịch sử.
100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!
1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?
100 Câu Đố Lịch sử
(của Đào Hữu Dương)
100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!
1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?
100 Câu Đố Lịch sử
(của Đào Hữu Dương)
Câu trả lời là
1- Mai Hắc Đế, mặt sắt đen sì
2- Lý Thái Tổ thuở hàn vi ở chùa
3- Hưng Đạo bẻ gậy phò vua
4- Nguyễn Trãi dùng bút, đánh lừa Vương Thông
5- Ngựa Thánh Gióng phun lửa đầy đồng
6- Voi Hưng Đạo khóc giữa dòng Hóa Giang!
7- Kiếm Lê Lợi trả rùa vàng
8- Súng Cao Thắng nổ Vũ Quang thuở nào.
9- Lê Lai cứu chúa đổi bào
10- Hai Bà Trưng sánh anh hào ra oai!
11- Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài
12- Thoát Hoan chui ống chạy dài bắc phương.
13- Trần Bình Trọng khinh Bắc Vương
14- Mỵ Châu, lông ngỗng rắc đường hại cha!
15- Quang Trung đại thắng Đống Đa
16- Cụ Phan sang Nhật bôn ba tháng ngày! (Phan Bội Châu lập phong trào Đông Du)
17- Đào Duy Từ đắp Lũy Thầy
18- Nguyễn Du xử thế, triều Tây ẩn mình!
19- Bà Triệu lừng lẫy uy danh
20- Đinh Bộ Lĩnh lấy cỏ tranh làm cờ
21- Thánh Tông nguyên súy Hội thơ
22- Lâm Thao Nghĩa Lĩnh đền thờ Hùng Vương
23- Sừng trâu bẻ gẫy: Phùng Hưng
24- Lê Lợi khởi nghĩa, anh hùng Lam Sơn
25- Họ Hồ phản bội cha ông
26- Yết Kiêu, Dã Tượng, thần sông Bạch Đằng!
27- Vạn Hạnh, triều Lý cao tăng
28- “Bình Ngô”… Nguyễn Trãi hùng văn lưu truyền
29- Quốc Dân Đảng, (mười ba) Liệt Sĩ thành Yên
30- Từ Thức treo ấn tu tiên (động) Bích Đào.
31- Âu Cơ (sinh) trăm trứng đồng bào
32- Bình Khôi, Trưng Nhị được trao chúc này
33- Bùi Thị Xuân, nữ tướng tài
34- Hàm Nghi chống Pháp, bị đày xứ xa.
35- Đào Tấn, tổ hát bội nước ta
36- Đặng Trần Côn với khúc ca Chinh Phụ sầu…
37- Gia Long giết hại công hầu
38- Tố Tâm Ngọc Phách xiết bao trữ tình! (Hoàng Ngọc Phách tác giả tiểu thuyết Tố Tâm)
39- Đội Cấn chống Pháp, dấy binh
40- Hoàng Diệu tổng đốc, vị thành vong thân
41- Trần Cảnh mở nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh tức Trần Thái Tông)
42- Chuyện Hiếu Văn Phức, diễn âm lưu truyền (Lý Văn Phức, tác giả Nhị Thập Tứ Hiếu
diễn ca)
43- Chữ Nôm khai sáng, Nguyễn Thuyên
44- Công Trứ dựng nghiệp dinh điền chẳng sai!
45- Tú Xương thơ phú biệt tài
46- Duy Tân chống Phàp, bị đày đảo xa
47- Mùng Năm Tết, giỗ Đống Đa
48- Nam Quan, Nguyễn Trãi nghe cha dặn dò
49- Trưng Vương xây dựng cơ đồ
50- Quang Khải: Hàm Tử “cầm Hồ” hiên ngang (Trần Quan Khải: Đoạt sáo Chương Dương
độ. cầm Hồ Hàm Tử quan
51- Nguyễn Ánh tên huý Gia Long
52- Tướng Lê Văn Duyệt, Lăng Ông phụng thờ
53- Lạc Long kết nghĩa Âu Cơ
54- Thánh Trần, Vạn Kiếp ngai thờ tử lâu
55- Đời Hùng: Lạc Tướng , Lạc Hầu
56- Long Hồ thủy chiến, tướng Châu bỏ mình (Châu Văn Tiếp)
57- Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình
58- Tri Phương, phò mã hy sinh thủ thường (Nguyễn Tri Phương và phò mã Nguyễn Lâm)
59- Triệu Quang Phục, Dạ Trạch Vương
60- Chu thần thảo sớ chém phường nịnh gian (Chu thần tức Chu Văn An)
61- Nguyễn Trãi vì rắn thác oan
62- Nhân Tông triệu tập Diên Hồng đánh Nguyên (Trần Nhân Tông)
63- Lộc Tục dòng dõi Đế Minh (Lộc Tộc tức Kinh Dương Vương)
64- Mất thành, Thanh Giản quyên sinh cùng đường! (Cụ Phan Thanh Giản để mất thành
Vĩnh Long)
65- Mười tháng ba, Giỗ Hùng Vương
66- Tháng hai mồng sáu Nhị Trưng trầm mình
67- Tản Viên ngự trị Sơn Tinh (Tản Viên thuộc dẫy núi Ba Vì ở Hà Tây).
68- Sông Đà núi Tản bút danh thi hào
69- Trăm con một bọc : Đồng Bào
70- Phan Bội Châu khởi phong trào Đông Du
71- Hoàng Hoa Thám lập chiến khu
72- Lê Thánh Tông mở Hội Thơ Tao Đàn
73- Quang Bình giữ nước đuổi Thanh (Nguyễn Quang Bình tức Nguyễn Huệ)
74- Ngọa triều Long Đĩnh khiến tàn Tiền Lê.
75- Hoá Giang Hưng Đạo hẹn thề
76- Mười năm Lê Lợi một bề đuổi Minh
77- Thục Phán được móng rùa thiêng (Thục Phán An Dương Vương)
78- Thường Kiệt đánh Tống bình Chiêm lẫy lừng (Lý Thường Kiệt tức Ngô Tuấn)
79- Lương Đắc Bằng dâng sách “Trị Bình”
80- Đĩnh Chi tướng xấu, ví mình hoa sen (Mạc Đĩnh Chi)
81- Mạc Cửu dựng đất Hà Tiên
82- Ngọc Quyến chống Pháp, Thái Nguyên bỏ mình (Lương Ngọc Quyến)
83- Quy Nhơn, Võ Tánh hy sinh
84- Đại Việt Sử Ký, công trình họ Ngô (Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đời Lê)
85- Lê Văn Duyệt bị san mồ
86- Đồ Chiểu tác giả lòa mù “Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu)
87- Đại Từ nổi tiếng Hải Thần (Nguyễn Hải Thần,hoạt
động cách mạng chống Pháp)
88- Nhữ Học in sách, ân cần dạy dân. (Lương Nhữ Học)
89- Trường Tộ, cải cách điều trần. (Nguyễn Trường Tộ, thời vua Tự Đức)
90- Vua Quang Trung sánh Ngọc Hân chung tình
91- Cao Bá Quát chống Triều Đình
92- Duy Từ đắp lũy, đào kinh bậc thầy (Đào Duy Từ)
93- Phan Kế Toại lãnh ấn Khâm Sai
94- Trương Chi tiếng hát đọa đầy Mị Nương
95- Hải Thượng y thuật danh nhân
96- Lời thề sông Hóa thánh Trần diệt Mông (Trần Hưng Đạo)
97- Khánh Dư nổi tiếng Vân Đồn (Trần Khánh Dư)
98- Trạng Trình ẩn dât chẳng còn lợi danh
99- Mùa Xuân Kỷ Dậu đuổi Thanh
100- Dân quyền, dân chủ an lành Việt Nam.
2- Lý Thái Tổ thuở hàn vi ở chùa
3- Hưng Đạo bẻ gậy phò vua
4- Nguyễn Trãi dùng bút, đánh lừa Vương Thông
5- Ngựa Thánh Gióng phun lửa đầy đồng
6- Voi Hưng Đạo khóc giữa dòng Hóa Giang!
7- Kiếm Lê Lợi trả rùa vàng
8- Súng Cao Thắng nổ Vũ Quang thuở nào.
9- Lê Lai cứu chúa đổi bào
10- Hai Bà Trưng sánh anh hào ra oai!
11- Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài
12- Thoát Hoan chui ống chạy dài bắc phương.
13- Trần Bình Trọng khinh Bắc Vương
14- Mỵ Châu, lông ngỗng rắc đường hại cha!
15- Quang Trung đại thắng Đống Đa
16- Cụ Phan sang Nhật bôn ba tháng ngày! (Phan Bội Châu lập phong trào Đông Du)
17- Đào Duy Từ đắp Lũy Thầy
18- Nguyễn Du xử thế, triều Tây ẩn mình!
19- Bà Triệu lừng lẫy uy danh
20- Đinh Bộ Lĩnh lấy cỏ tranh làm cờ
21- Thánh Tông nguyên súy Hội thơ
22- Lâm Thao Nghĩa Lĩnh đền thờ Hùng Vương
23- Sừng trâu bẻ gẫy: Phùng Hưng
24- Lê Lợi khởi nghĩa, anh hùng Lam Sơn
25- Họ Hồ phản bội cha ông
26- Yết Kiêu, Dã Tượng, thần sông Bạch Đằng!
27- Vạn Hạnh, triều Lý cao tăng
28- “Bình Ngô”… Nguyễn Trãi hùng văn lưu truyền
29- Quốc Dân Đảng, (mười ba) Liệt Sĩ thành Yên
30- Từ Thức treo ấn tu tiên (động) Bích Đào.
31- Âu Cơ (sinh) trăm trứng đồng bào
32- Bình Khôi, Trưng Nhị được trao chúc này
33- Bùi Thị Xuân, nữ tướng tài
34- Hàm Nghi chống Pháp, bị đày xứ xa.
35- Đào Tấn, tổ hát bội nước ta
36- Đặng Trần Côn với khúc ca Chinh Phụ sầu…
37- Gia Long giết hại công hầu
38- Tố Tâm Ngọc Phách xiết bao trữ tình! (Hoàng Ngọc Phách tác giả tiểu thuyết Tố Tâm)
39- Đội Cấn chống Pháp, dấy binh
40- Hoàng Diệu tổng đốc, vị thành vong thân
41- Trần Cảnh mở nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh tức Trần Thái Tông)
42- Chuyện Hiếu Văn Phức, diễn âm lưu truyền (Lý Văn Phức, tác giả Nhị Thập Tứ Hiếu
diễn ca)
43- Chữ Nôm khai sáng, Nguyễn Thuyên
44- Công Trứ dựng nghiệp dinh điền chẳng sai!
45- Tú Xương thơ phú biệt tài
46- Duy Tân chống Phàp, bị đày đảo xa
47- Mùng Năm Tết, giỗ Đống Đa
48- Nam Quan, Nguyễn Trãi nghe cha dặn dò
49- Trưng Vương xây dựng cơ đồ
50- Quang Khải: Hàm Tử “cầm Hồ” hiên ngang (Trần Quan Khải: Đoạt sáo Chương Dương
độ. cầm Hồ Hàm Tử quan
51- Nguyễn Ánh tên huý Gia Long
52- Tướng Lê Văn Duyệt, Lăng Ông phụng thờ
53- Lạc Long kết nghĩa Âu Cơ
54- Thánh Trần, Vạn Kiếp ngai thờ tử lâu
55- Đời Hùng: Lạc Tướng , Lạc Hầu
56- Long Hồ thủy chiến, tướng Châu bỏ mình (Châu Văn Tiếp)
57- Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình
58- Tri Phương, phò mã hy sinh thủ thường (Nguyễn Tri Phương và phò mã Nguyễn Lâm)
59- Triệu Quang Phục, Dạ Trạch Vương
60- Chu thần thảo sớ chém phường nịnh gian (Chu thần tức Chu Văn An)
61- Nguyễn Trãi vì rắn thác oan
62- Nhân Tông triệu tập Diên Hồng đánh Nguyên (Trần Nhân Tông)
63- Lộc Tục dòng dõi Đế Minh (Lộc Tộc tức Kinh Dương Vương)
64- Mất thành, Thanh Giản quyên sinh cùng đường! (Cụ Phan Thanh Giản để mất thành
Vĩnh Long)
65- Mười tháng ba, Giỗ Hùng Vương
66- Tháng hai mồng sáu Nhị Trưng trầm mình
67- Tản Viên ngự trị Sơn Tinh (Tản Viên thuộc dẫy núi Ba Vì ở Hà Tây).
68- Sông Đà núi Tản bút danh thi hào
69- Trăm con một bọc : Đồng Bào
70- Phan Bội Châu khởi phong trào Đông Du
71- Hoàng Hoa Thám lập chiến khu
72- Lê Thánh Tông mở Hội Thơ Tao Đàn
73- Quang Bình giữ nước đuổi Thanh (Nguyễn Quang Bình tức Nguyễn Huệ)
74- Ngọa triều Long Đĩnh khiến tàn Tiền Lê.
75- Hoá Giang Hưng Đạo hẹn thề
76- Mười năm Lê Lợi một bề đuổi Minh
77- Thục Phán được móng rùa thiêng (Thục Phán An Dương Vương)
78- Thường Kiệt đánh Tống bình Chiêm lẫy lừng (Lý Thường Kiệt tức Ngô Tuấn)
79- Lương Đắc Bằng dâng sách “Trị Bình”
80- Đĩnh Chi tướng xấu, ví mình hoa sen (Mạc Đĩnh Chi)
81- Mạc Cửu dựng đất Hà Tiên
82- Ngọc Quyến chống Pháp, Thái Nguyên bỏ mình (Lương Ngọc Quyến)
83- Quy Nhơn, Võ Tánh hy sinh
84- Đại Việt Sử Ký, công trình họ Ngô (Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đời Lê)
85- Lê Văn Duyệt bị san mồ
86- Đồ Chiểu tác giả lòa mù “Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu)
87- Đại Từ nổi tiếng Hải Thần (Nguyễn Hải Thần,hoạt
động cách mạng chống Pháp)
88- Nhữ Học in sách, ân cần dạy dân. (Lương Nhữ Học)
89- Trường Tộ, cải cách điều trần. (Nguyễn Trường Tộ, thời vua Tự Đức)
90- Vua Quang Trung sánh Ngọc Hân chung tình
91- Cao Bá Quát chống Triều Đình
92- Duy Từ đắp lũy, đào kinh bậc thầy (Đào Duy Từ)
93- Phan Kế Toại lãnh ấn Khâm Sai
94- Trương Chi tiếng hát đọa đầy Mị Nương
95- Hải Thượng y thuật danh nhân
96- Lời thề sông Hóa thánh Trần diệt Mông (Trần Hưng Đạo)
97- Khánh Dư nổi tiếng Vân Đồn (Trần Khánh Dư)
98- Trạng Trình ẩn dât chẳng còn lợi danh
99- Mùa Xuân Kỷ Dậu đuổi Thanh
100- Dân quyền, dân chủ an lành Việt Nam.
Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018
Thánh Kinh bằng hình Chúa nhật VII Phục Sinh năm B
Thánh Kinh bằng hình Chúa nhật VII Phục Sinh năm B
Lễ Chúa Thăng Thiên
Phúc Âm Mc 16, 15-20
“Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. ”
Việc về trời hay lên trời của Chúa phục sinh không có nghĩa là một sự thay đổi nơi ở từ mặt đất để về một nơi nào đó ngoài trái đất, nhưng thăng thiên là một sự tôn vinh. Thăng Thiên là một cuộc gặp gỡ, đi vào thân tình với Thiên Chúa Cha, được tôn lên làm Chúa. Chúa Giêsu thành Nagiarét mặc xác phàm làm người, ngoại trừ tội lỗi, nay được tôn lên làm Đức Chúa, nghĩa là cùng được chia sẻ quyền thống trị với Đức Chúa Cha. Mầu nhiệm nằm ở đó, mới lạ ở chỗ đó.
Chính vì thế, nhân loại sẽ không còn ngỡ ngàng tưởng rằng chúa Giêsu được bốc đi, được đưa đi từ điểm này tới điểm nọ. Đức Giêsu Kitô đã đi tới cùng sự chọn lựa của Ngài như thánh Gioan nói:” Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”( Ga 1, 11 ). Chúa Giêsu đã đến thế gian rao giảng nước trời, loan báo Tin Mừng nhưng con người không chịu đón nhận và ngài chấp nhận cái ê chề của cái chết thập giá như một tội nhân dù rằng Ngài hoàn toàn vô tội: Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai (Eph 1, 22). Đức Kitô đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh và trao ban cho sự vinh quang viên mãn, tràn đầy (Eph 1, 23). Chúa về trời nghĩa là được tôn vinh, nên các tín hữu tiên khởi luôn tin tưởng Chúa phục sinh vẫn hiện diện với họ không những ở Giuđêa hay Galilêa mà Ngài ở khắp cùng trái đất, Ngài ở mọi nơi mọi chỗ, Ngài hiện diện trong Giáo Hội. Đoạn Tin Mừng của thánh Mác-cô ngay trong đoạn cuối đã xác nhận Chúa phục sinh luôn hiện diện, luôn có mặt dù rằng Ngài đã được đưa về trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha:” …Còn các tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cộng tác với họ, và dùng dấu lạ điềm thiêng mà xác nhận lời họ rao giảng” (Mc 16, 20).
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Thánh Kinh bằng tiếng Việt
Thánh Kinh bằng tiếng Anh
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





