Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

Lịch sử Thánh nhạc Công giáo Việt Nam

Lịch sử Thánh nhạc Công giáo Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lịch sử Thánh nhạc Công giáo Việt Nam nói về quá trình hình thành và phát triển của dòng nhạc Thánh ca Công giáo tại Việt Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi nói đến bài thánh ca đầu tiên của Việt Nam thì có nhiều ý kiến khác nhau.
Ý kiến thứ nhất cho đó là bài Nửa đêm mừng Chúa ra đời và Ca vịnh Đức Bà của linh mục nhạc sĩ Phaolồ Đạt, người con họ đạo Búng (Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương xưa thuộc giáo phận Sài Gòn, nay thuộc giáo phận Phú Cường), hai bài thánh ca đầu tiên này được viết vào năm 1907, và được in ấn ở Tân Định ấn quán vào năm 1910.
Ý kiến thứ hai cho đó là bài Thánh Thể sáng tác năm 1901 và bài Dâng Mẹ hoa sáng tác vào năm 1902 của tu sĩ Anphong Châu. Đây là ý kiến cũng vừa được ông Sơn Đông đưa ra bằng chứng hai quyển Cantemus Domino và Cung thánh Tổng hợp 1&2 của Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh có nêu rõ. Cả hai bài này được hát thông dụng ở Nam Định, nay đã thất lạc.
Ý kiến thứ ba cho những bài thánh ca đầu tiên của Việt Nam là do linh mục có tên là Vượng, dệt lời Việt vào các thánh ca La-tinh và Pháp, rồi đóng thành tập 20 bài và phổ biến rộng rãi ở Nam Định, Hà Nội và lan rộng khắp những nơi nào có giáo hữu, ở cả Bắc, Trung và Nam, trở thành một quyển sách hát thánh ca đầu tiên, dù không còn ai nhớ tên quyển sách là gì, chỉ còn nhớ cách gọi phổ biến là Sách hát cha già Vượng. Sách hát cha già Vượng xuất bản vào những năm 1943, dù cha không sáng tác bài nào mà chỉ đặt lời Việt cho giai điệu có sẵn, nhưng bán chạy như tôm tươi do giáo hữu lúc bấy giờ nghe hát tiếng La-tinh chẳng hiểu gì, bỗng được hát bằng tiếng Việt thì vô cùng thích thú. Điều đó nói lên chưa có bài hát tiếng Việt nào trong nhà thờ trước đó, mọi người mới khao khát đến như thế.

Bối cảnh chung[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh chung của Công giáo là hát tiếng La-tinh, cụ thể là Bình ca loại Cantus Gregorianus. Những bài hát tiếng La-tinh được các linh mục truyền giáo mang theo vào Việt Nam cùng với phụng vụ và giáo lý, đã trở thành nhạc phụng vụ đặc trưng đến nỗi không mấy ai dám có ý nghĩ thay thế nó. Tuy nhiên theo luật tiến hóa tự nhiên, lúc đó giáo hữu đọc kinh, suy ngắm, đọc sách hạnh thánh (giảng sách) đã hình thành dần một giọng đọc mà linh mục nhạc sư Antôn Tiến Dũng gọi là "tụng kinh", dịch từ chữ La-tinh psallere (hay psalmodier trong tiếng Pháp), là lối hát gần với đọc, dùng để:
  1. Đọc kinh (đọc chung những bản kinh và ngắm chung những bài ngắm)
  2. Đọc sách (còn gọi là giảng sách: đọc những loại sách suy gẫm)
  3. Dâng lời cầu nguyện (quý chức đọc những kinh cầu nguyện)
  4. Xướng-đáp trong thánh lễ (các công thức chủ tế xướng, cộng đoàn đáp)
Tất cả gọi chung là hình thể cung đọc (tonus). Cung đọc vốn có sẵn trong lòng người Việt Nam do 6 dấu giọng của ngôn ngữ rất đặc thù, không dân tộc nào có, cho nên người ngoại quốc khi nghe người Việt Nam nói chuyện họ gọi là "hát tiếng Việt" chứ không phải là nói tiếng Việt.[1]
Các cung đọc luôn có ba dấu nhạc - mà linh mục nhạc sư Antôn Tiến Dũng - gọi là ba dấu trụ. Ba dấu trụ thay đổi theo từng miền; dựa trên ba dấu trụ này, nhiều ông "quý chức" (thành viên của Ban Hành giáo hay Hội đồng Mục vụ hôm nay) khi xướng kinh, còn thêm thắt vào đó những dấu nhạc phụ, khiến lối đọc kinh, đọc sách, dâng lời nguyện và xướng đáp trở nên gần với hát dần, ở miền Bắc Việt Nam được hệ thống rất công phu thành ngắm ngồi, ngắm đứng, vãn dâng hoa; ở miền Trung và miền Nam Việt Nam còn hình thành nên những bài hát như Kinh cầu Đức BàKinh cầu Trái timKinh Hồng ân... nghe rất hay, hoặc kinh Mừng tuổi Chúa dịp Tết Nguyên đánvãn Nhơn sao (biến thể của khúc vịnh ca Dân ta ơi) trong ngày Thứ Sáu Tuần thánh.
Như vậy song song với hát thánh ca bằng loại nhạc Bình ca trong phụng vụ, lịch sử phát triển thánh nhạc Việt Nam không thể bỏ qua giai đoạn phát triển đi từ đọc kinh tiến dần đến hát kinh. Trên cơ sở này, có thể "phân chia giả định" lịch sử nền thánh nhạc Việt Nam làm 6 thời kỳ:

Thời kỳ Cung đọc (~ 1901)[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh ca Việt Nam lúc này chưa phải là thánh ca đúng nghĩa, chỉ là cung đọc, cung kinh (ngắm), cung sách và cung xướng đáp. Lời ca là bản kinh, lời nguyện, bài ngắm, sách Hạnh các thánh, Sấm truyền (Kinh thánh), Gương phúc, sách Giảng Đức Bà, sách Dọn mình chết lành… Giai điệu chỉ có ba dấu nhạc làm ba dấu trụ, càng về sau càng phát triển ra thành bốn năm dấu nhạc như Kinh Cầu Đức BàKinh Cầu Trái Tim ở miền Trung và miền Nam Việt Nam; riêng ở miền Bắc Việt Nam giọng đọc có tới 3 mùa: mùa Vui và mùa Mừng cho quanh năm, mùa Thương cho mùa chay, tất cả xoay chuyển trên 3 làn điệu: làn điệu kinh Kính mừng, làn điệu kinh Ngắm lễ hàng ngày và làn điệu kinh Dọn mình & cảm ơn rước lễ; mỗi làn điệu có từ 2 dấu trụ (Thương) tới 4 dấu trụ (Vui và Mừng). Nhịp điệu đều đều như tụng kinh bên Phật giáo.

Thời kỳ Thánh ca giọng Đọc (năm 1901-1920)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ của những bài thánh ca thật sự, nhưng vẫn còn ảnh hưởng giọng cung đọc, nặng về cung đọc như những bài thánh ca của tu sĩ nhạc sĩ Anphong Châu, linh mục nhạc sĩ Phaolồ Đạt, linh mục nhạc sĩ Phaolồ Quy (cũng là người ở họ đạo Búng, Lái Thiêu, cùng quê với thánh Philipphê Phan Văn Minh và thánh Phêrô Đoàn Công Quý)… Lời ca do các nhạc sĩ tự sáng tác, nhưng chịu ảnh hưởng của các lời kinh, nên văn phong đầy chất kinh kệ Hán ngữNôm ngữ. Giai điệu nhiều chất hát hơn, lên bổng xuống trầm nhiều hơn, nhưng vẫn còn đậm màu cung đọc. Nhịp điệu khá hơn nhưng vẫn chưa hay. Chưa có hòa âm. Kỹ thuật sáng tác chưa có.

Thời kỳ Thánh ca giọng Hát (1920-1935)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ của những bài thánh ca mà âm nhạc lấy từ 2 nguồn: nguồn thứ nhất là những bài dân ca cổ truyền như các điệu Lưu thủyHành vân,Bình bán; nguồn thứ hai là những bài ca nước ngoài được dệt lời Việt. Đây là thời của cha già Vượng (Sách hát cha già Vượng… như đã nói ở trên). Bắt chước cha già Vượng, nhiều nơi cũng dịch hay dệt lời khác cho các bài hát Bình ca hoặc Pháp ca. Tuy nhiên không hẳn chỉ như thế, vì nhiều ý kiến cho rằng quyển sách hát thánh ca đầu tiên đúng nghĩa của Việt Nam có tên Ca ngợi Đức Chúa Bà Maria (1922)Ca ngợi Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giêsu (1923) của linh mục nhạc sĩ Phaolồ Qui do Tân Định ấn quán xuất bản cho thấy nhạc và lời hoàn toàn do nhạc sĩ người Việt sáng tác, tuy có pha lẫn lời kinh hoặc chịu ảnh hưởng nặng lời kinh. Lời Việt khá hơn, nhưng vẫn còn đầy chất kinh. Giai điệu hay vì là của nước ngoài, hoặc nếu là giai điệu do tự sáng tác thì còn thô sơ mộc mạc. Nhịp điệu hay do âm nhạc của nước ngoài lão luyện vốn sẵn, của người Việt sáng tác thì còn độc điệu. Hòa âm hai bè, những bài thuần Việt chỉ có một bè. Kỹ thuật sáng tác tốt vì do người nước ngoài sáng tác, nếu do người Việt thì chưa có kỹ thuật, chỉ là phổ cho có nhạc chứ chưa có ý nhạc, câu cú và bố cục...

Thời kỳ khởi đầu Thánh ca với dòng nhạc Việt Nam (1935-1955)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ bị ảnh hưởng nhạc Pháp đang phong trào thánh ca cải cách qua quyển sách hát dành cho giới trẻ Cantiques de la jeunesse rất hay, sôi nổi và phổ biến, một số nhạc sĩ như nhạc sĩ Hùng Lân, nhạc sĩ Hải Linh, linh mục nhạc sĩ Trinh Cát, nhạc sĩ Thiên Phụng, nhạc sĩ Nguyễn Khắc Xuyên (trước là linh mục, sau hồi tục), nhạc sĩ Duy Tân, linh mục nhạc sĩ Hoài Đức, nhạc sĩ Tâm Bảo... Lời ca hoàn toàn do các nhạc sĩ Việt Nam sáng tác. Giai điệu tuy bị ảnh hưởng nặng nhạc Pháp, nhạc Bình ca, nhưng đã bắt đầu có dấu ấn riêng của người Việt Nam. Nhịp điệu gần với một số tiết điệu thuộc nhịp đi (hành khúc: marche militaire), nhịp nhảy (foxfox-trotswingpasodoble...).
Giữa thời kỳ này ở 3 miền Bắc, Trung và Nam, đã khai sinh những nhạc đoàn như Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh, Tiếng Chuông Nam, Sao Mai, Piô X, Thánh Tâm, Á thánh Philipphê Phan Văn Minh, Thánh Gia... Hòa âm vì sơ khai nên khá giản dị. Kỹ thuật sáng tác đã có, nhưng theo lối "cân phương" (carurre, luật cân phương vẫn còn ảnh hưởng rất nhiều nhạc sĩ thánh ca cho đến ngày hôm nay). Thời kỳ này vì phát triển song song với dòng nhạc đời kháng chiến bên ngoài xã hội, nên cũng bị ảnh hưởng qua lại ít nhiều, nhất là âm nhạc không tránh khỏi nhuốm chút ít chất "khí thế đấu tranh" (thấy rõ ở các bài viết về các thánh tử đạo). Thời kỳ của cuộc di cư khổng lồ những người miền Bắc Việt Nam vào định cư tại miền Nam đã giúp pha trộn, hoà hợp bản sắc và phong cách thánh ca giữa các miền thành một bản sắc và phong cách chung.

Thời kỳ Thánh ca tuổi trưởng thành và phát triển (1955-1975)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ của nhiều nhạc sĩ mới như linh mục nhạc sư Tiến Dũng, linh mục nhạc sĩ Nguyễn Văn Hoà (hiện là giám mục Nha Trang, chủ tịch HĐGMVN), linh mục nhạc sĩ Gioan Minh, linh mục nhạc sĩ Lương Hoàng Kim, linh mục nhạc sĩ Thiện Cẩm, linh mục nhạc sĩ Ngô Duy Linh, nhạc sĩHùng Lân, linh mục nhạc sĩ Vinh Hạnh, linh mục nhạc sĩ Kim Long... cuối thời kỳ này nổi lên nhóm tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế với linh mục nhạc sĩ Thành Tâm, linh mục nhạc sĩ Hoàng Đức, linh mục nhạc sĩ Trần Sỹ Tín... Lời ca tự dệt theo ý riêng hay ý Thánh Kinh. Giai điệu hay và có phần lộng lẫy đáng gọi là thời Hoàng kim của nền thánh nhạc Việt Nam. Nhịp điệu hay, có bản sắc, nhưng cuối thời kỳ này một số ít nhạc sĩ chịu ảnh hưởng trào lưu nhạc châu Mỹ La tinh, nhạc Jazz, nhạc Rock và nhạc Pop (những trào lưu âm nhạc này đã theo chân quân đội đồng minh vào Việt Nam). Hòa âm bắt đầu được chú trọng.
Kỹ thuật sáng tác được linh mục nhạc sư Antôn Tiến Dũng xuyên qua trường Suối Nhạc và đại học Minh Đức, đã đẩy lên cao. Đặc biệt bắt đầu thành lập Ủy ban Thánh nhạc Toàn quốc, và trong số những vị tổng thư ký đầu tiên của Ủy ban có một vị là linh mục nhạc sĩ Gioan Minh đã có sáng kiến tổ chức lần thứ nhất Đại hội Thánh nhạc Việt Nam tại hội trường Tabert Sài Gòn ngày 21 tháng 11 năm 1971, khiến phong trào sáng tác, xuất bản, hát thánh ca cùng với phong trào học thánh nhạc, thành lập ca đoàn trong các giáo xứ thay cho các Hội hát (chuyên hát Bình ca)... bắt đầu dâng cao.
Đặc biệt năm 1968, linh mục nhạc sư Antôn Tiến Dũng, cùng với Ủy ban Thánh nhạc Toàn quốc thành lập trường thánh nhạc đầu tiên lấy tên là trường J.S. Bach, sau đổi tên thành trường Suối Nhạc, hoạt động đến năm 1975 thì đóng cửa. Chỉ 7 năm hoạt động nhưng đã cung cấp nhiều tài năng thánh nhạc và nâng cao ý thức học tập thánh nhạc. Vào thời kỳ này, lại còn thêm tác động của Đại chủng viện Thánh Giuse Sàigòn qua hai việc: một là xuất bản hai quyển thánh ca Chúc tụng Chúa IChúc tụng Chúa II, với nhiều nhạc sĩ mới nổi lên và nhiều bài thánh ca với phong cách mới mẻ, trẻ trung, nhiều tính phóng túng, bắt đầu mang nhiều hơi thở nhạc đời hơn nữa; hai là khởi xướng phong trào hát tụng thánh vịnh trong các Giờ kinh phụng vụ và nghi thức hát Đáp ca của thánh lễ... làm cho nền thánh nhạc Việt Nam thêm khởi sắc.

Thời kỳ Thánh ca tuổi tạm dừng phát triển (1975-2005)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ này sinh hoạt thánh nhạc tuy rầm rộ với sự xuất hiện của rất nhiều nhạc sĩ mới là giáo dân nhiều hơn (trước đó nhạc sĩ phần đông là giáo sĩ), đi kèm rất nhiều tác phẩm mới xuất hiện, nhưng thánh ca thời kỳ này chứa nay sự trăn trở, mất hướng vừa vì thời cuộc, vừa vì không còn các ủy ban thánh nhạc các cấp lèo lái và hướng dẫn.
Những nhạc sĩ như linh mục nhạc sĩ Thành Tâm, nhạc sĩ Viết Chung, linh mục nhạc sĩ Phạm Liên Hùng, linh mục nhạc sĩ Xuân Thảo, linh mục nhạc sĩ Nguyễn Duy, linh mục nhạc sĩ Vũ Mộng Thơ, linh mục nhạc sĩ Văn Chi, linh mục nhạc sĩ Dao Kim, nhạc sĩ Phạm Đức Huyến... nền nã là thế, cũng vẫn không kiềm nổi sự chao đảo hướng đi của thánh nhạc Việt Nam.
Những cuộc trình diễn thánh ca được tổ chức dày đặc khắp các giáo xứ biến thành những buổi "văn nghệ đạo đức", vì phong trào ca đoàn trăm hoa đua nở (mỗi giáo xứ có nhiều ca đoàn, thậm chí mỗi hội đoàn hoặc mỗi giới cũng có ca đoàn riêng), phát triển mạnh hơn sự cần thiết đã khiến quan niệm về thánh nhạc không phát triển theo kịp. Giai điệu hay, nhưng bị hơi thở của nhạc đời ăn luồng bên trong rất sâu rất nặng. Hòa âm khá, nhưng nổi lên phong trào viết hòa âm bắt chước lối đa âm điệu (motetum) rồi gọi là hát đuổi. Kỹ thuật sáng tác chưa thoát khỏi ám ảnh của luật cân phương.

Thời kỳ Thánh ca thế hệ mới (2005 ~)[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ bắt đầu xác định hướng đi mới, nguyệt san Thánh Nhạc Ngày Nay khởi xướng phong trào viết và hát thánh ca mới (bố cuc mới) gần với các hình thể thánh nhạc truyền thống của Giáo hội. Nguyệt san Thánh nhạc Ngày Nay cũng đã khởi xướng thành lập và tổ chức Ngày Nhạc sĩ (3 tháng 9) lần I để mỗi năm tưởng nhớ các nhạc sĩ quá cố kết hợp với việc họp mặt các nhạc sĩ sinh thời; khởi xướng và tổ chức Ngày Ca trưởng (22 tháng 11) lần I để các ca trưởng khắp ba miền đất nước đoàn kết, tương trợ, giúp nhau trong công tác điều khiển ca đoàn hát phụng vụ; thành lập và tổ chức Quỹ Phaolô Đạt để những ai hoạt động thánh nhạc tương trợ giữa nhau, giúp đỡ người hoạt động thánh nhạc trong cảnh già yếu, bệnh hoạn, nhất là cổ vũ cộng đoàn nhớ ơn các nhạc sĩ vì họ xưa nay đã luôn cống hiến thầm lặng và hết mình qua việc sáng tác và để cho mọi người sử dụng tác phẩm của họ một cách hết sức tự do mà không được hưởng hay cũng không có yêu cầu gì về bản quyền lẫn tác quyền.
Cũng cần ghi chú nho nhỏ, nhưng quan trọng, đó là song song với nhịp đi của lịch sử Thánh nhạc Việt Nam, từ đầu cho đến giữa thời kỳ V tức năm 1965, Bình ca vẫn là nền âm nhạc chính thức dùng trong phụng vụ, sau Công đồng Vaticano II, âm nhạc Bình ca mới thực sự lui bước nhường hẳn cho thánh nhạc hoàn toàn Việt Nam. ^

Tờ báo đầu tiên về thánh nhạc ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Dù năm 1970 Ủy ban Phụng vụ-Thánh nhạc-Mỹ thuật Tôn giáo do giám mục Giuse Phạm Văn Thiên làm chủ tịch, có xuất bản tập san Phụng vụ(số đầu tiên ra vào tháng 12 năm 1970, trong đó có 3 phần: Phụng vụ, Thánh nhạc, Mỹ thuật Tôn giáo) nhưng chưa kể là tờ báo chuyên về thánh nhạc. Do tư nhân chủ xướng là nguyệt san Cantáte, số đầu tiên ra ngày 13 tháng 3 năm 1993, sống gần 13 năm chuyển sang thành Thánh Nhạc Ngày Nay, số đầu tiên ra ngày 15 tháng 8 năm 2005 nhân biến cố linh mục nhạc sư Antôn Tiến Dũng và nhạc sĩ Thy Yên cùng qua đời; kế tiếp là nguyệt san Hát Lên Mừng Chúa (1995-2003) do linh mục Anrê Đỗ Xuân Quế và Ban thánh nhạc Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương được 95 số, Hương trầm (1998-1999) do linh mục nhạc sư Antôn Tiến Dũng và linh mục nhạc sĩ Kim Long - Ủy ban Thánh nhạc Toàn quốc - chủ trương được 5 số, cả hai sau một thời gian đã ngưng hoạt động.
Cần biết thêm, trong thời kỳ này, vào năm 1993, nhạc sĩ Ngọc Kôn, thay mặt linh mục nhạc sư Antôn Tiến Dũng, thành lập lại trường Suối Nhạc đặt tại giáo xứ Tân Định, sau 3 năm giám mục chủ tịch Ủy ban Thánh nhạc Toàn quốc Phaolô Nguyễn Văn Hoà đổi thành Trung tâm Đào tạo Thánh nhạc Toàn quốc hoạt động thêm 2 năm nữa rồi đóng cửa.
  1. ^ Thêm một lưu ý khác, khi nước ta bắt đầu cuộc cách mạng toàn dân đấu tranh giành độc lập, từ những năm giữa thập niên 40, thánh nhạc phần nào cũng thoảng hơi thở của dòng nhạc cách mạng mà các nhạc sĩ Văn Cao, Lưu Hữu Phước (Huỳnh Minh Siêng), Đỗ Nhuận, Trần Hoàn, Hoàng Việt, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Đình Thi, Phạm Tuyên ngoài đời đã dấy lên..

Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016

Chúa nhật 29 Thuờng niên năm C - Chúa Nhật Truyền Giáo

Thánh Kinh bằng hình: Chúa nhật 29 Thuờng niên năm C - Chúa Nhật Truyền Giáo

Ngày16 tháng 10 năm 2016
PHÚC ÂM:   Lc  18, 1-8
"Thiên Chúa sẽ minh xử cho những kẻ người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người".

Suy niệm
Cầu nguyện không hề là việc dễ dàng. Chúa Giêsu chính là gương mẫu cho chúng ta về cầu nguyện. Ngài chỉ dạy chúng ta kinh nghiệm về việc cầu nguyện: cầu nguyện từ những việc cụ thể trong đời sống.
Cầu nguyện phải kiên trì, nhẫn nại. Như khi bắt đầu học một môn thể thao, chúng ta phải cố gắng tập luyện, chịu nhức nhối các cơ bắp thế nào, thì cầu nguyện cũng thế: thời gian đầu mới cầu nguyện, chúng ta khó tập trung, khó giữ thinh lặng, khó đi vào nội tâm với Thiên Chúa; ta cảm giác như mất thời gian hay cảm thấy mình đang vùng vẫy trong đêm tối. Sau thời gian tập luyện, chúng ta sẽ không còn thấy mệt mỏi mà có thể thinh lặng được và cảm giác thời gian quá dài cũng không còn nữa.
Trong đời sống tôn giáo, cầu nguyện là một hoạt động không thể thiếu, bởi cầu nguyện chính là lúc con người đối thoại thân tình với Đấng Tạo Hoá, với Cha yêu thương. Khi cầu nguyện, chúng ta đơn sơ thưa chuyện với Ngài, nói với Ngài rằng chúng ta yêu Ngài, chúng ta muốn ở gần với Ngài, và muốn trở nên thân tình với Ngài. Khi đưa ra dụ ngôn trong đoạn Tin Mừng, Chúa Giêsu muốn dạy các môn đệ phải kiên trì trong cầu nguyện. Kiên trì là một thách đố của thời đại “đầy tính toán” của ngày hôm nay: khi chưa đi vào mối tương quan mật thiết với Chúa, người ta coi cầu nguyện là mất thời gian, không sinh ra mối lợi nhuận nào.
 
Sứ điệp
“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông”, vì thế, chúng ta đừng nản chí khi cầu nguyện. Chúa Giêsu không những kể dụ ngôn, mà Ngài còn giải thích và đưa chúng ta đến đích điểm của Lòng Chúa công bằng, xót thương: “Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?”
Bạn hãy bắt đầu cầu nguyện, gia tăng việc cầu nguyện. Không chỉ cầu nguyện riêng, bạn hãy cầu nguyện cùng với gia đình của mình, nhóm bạn của mình, vì Chúa nói: “Khi anh em họp lại để cầu nguyện, thì Thày ở giữa anh em.”
Nguồn: Tin Mừng Chúa nhật số 11 (tháng 10.2016)
Xem Video clip
 
Thánh Kinh bằng tiếng Việt


 

 

 

 

 

 

 

 
Thánh Kinh bằng tiếng Anh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Chúa nhật XXVIII Thường niên năm C ngày 09.10.2016

Thánh Kinh bằng hình: Chúa nhật XXVIII Thường niên năm C


Ngày 09 tháng 10 năm 2016
PHÚC ÂM: Lc 17, 11-19
"Không thấy ai trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này".
Suy niệm
Mười người bị phong hủi, bị cách ly - loại trừ, đã bạo dạn vượt qua luật cấm để gặp Chúa Giêsu. Cả mười người đều được khỏi, nhưng chỉ có một người quay trở lại!
Niềm mong ước thiết tha tưởng chừng vô vọng của người Samari bị phong cùi đã thành toàn: được khỏi bệnh. Vui mừng, anh ta quay trở lại, lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Nếu như chín người kia xem như là chuyện đương nhiên hay là sự may mắn, thì người Samari đã nhận ra sự lạ xảy ra nơi bản thân: đó là một can thiệp ngoại thường. Lòng biết ơn tận đáy lòng, từ con tim buộc anh quay trở lại, nói lời cảm ơn với người thi ân.
Chúa Giêsu khẳng định: “Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”. Như thế, ơn lành ta nhận được phải cả từ hai phía: người thi ân và người chịu ơn. Tâm tình tạ ơn này tiếp tục được mỗi người “quay trở về” công bố cho cộng đoàn để kiến tạo sự hiệp thông, không còn cảm giác bị loại trừ. Lòng biết ơn trên hết là tuyên xưng: lòng tin của tôi ở nơi Chúa Giêsu.
Sứ điệp
Mỗi người bước vào cuộc đời trần thế này với đôi bàn tay trắng nên tất cả những gì chúng ta có đều là mắc nợ: nợ người khác, và nhất là nợ Thiên Chúa, nợ Ngài tất cả mọi sự. Cảm ơn phải là điều tự nhiên trong cuộc sống. Tuy nhiên, lòng biết ơn không phải tự nhiên mà có, mà là một nhân đức cần luyện tập. Lòng biết ơn chỉ có nơi một con tim biết dừng lại để suy gẫm về những gì đã trải qua; một con tim tinh tế để nhận ra những ơn lành - đôi lúc âm thầm như một làn gió nhẹ; một con tim ngập tràn hạnh phúc vì biết mình được yêu thương.
Thánh Don Bosco nói: “Hãy cho tôi một đứa trẻ có lòng biết ơn, tôi sẽ làm cho nó nên thánh”. Xem ra lòng biết ơn là dấu chứng cho thấy “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa chúng ta”.
Nguồn: Tin Mừng Chúa nhật số 11 (tháng 10.2016)
Xem Video clip
Thánh Kinh bằng tiếng Việt









Thánh Kinh bằng tiếng Anh









Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

ÐỨC MẸ MÂN CÔI Ngày 07/10

ÐỨC MẸ MÂN CÔI
Ngày 07/10

Lc 1,26-38

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT



Nói về Mẹ Maria qua tràng chuỗi mân côi,nhân loại đang sống trong lòng tin sẽ không bao giờ có thể phủ nhận được con đường Mẹ dậy mọi người đi với ba mầu nhiệm:Nhập thể, Ðau khổ và Phục sinh của Con duy nhất của Mẹ là Chúa Giêsu Kitô luôn rõ nét, sáng ngời giữa mọi biến cố của lịch sử cứu độ. Mẹ Maria như Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết:" Vào bình minh của ngàn năm mới,chúng ta vui mừng nhận thấy nổi bật lên"chiều kích Thánh Mẫu" của Hội Thánh,ấp ủ trong mình nội dung sâu thẩm nhất của việc canh tân do công đồng đề xướng".Con cái của Mẹ theo sau Mẹ đi từng chặng đường của Con Mẹ đã đi qua.Con đường ấy không đâu xa,đó là con đường:� Vui, Thương, Mừng mà nhân loại muốn đi vào nước trời không thể nào không bước qua những chặng đường ấy.

MẸ MARIA TRONG LỊCH SỬ CỨU ÐỘ

Maria được Thiên chúa tuyển chọn để làm Mẹ Ðức Giêsu Kitô và làm Mẹ nhân loại.Lời xin vâng của Mẹ đã làm đảo lộn cả lịch sử nhân loại,mặc cho nhân loại một ý nghĩa mầu nhiệm,sâu xa.Nếu không có lời xin vâng của Mẹ,nhân loại đã khác hẳn,nhân loại chẳng bao giờ có ngày hôm nay.Với tiếng xin vâng,Mẹ Maria đã tận hiến và chấp nhận ý định của Thiên Chúa,hiến toàn thân mình cho Thiên Chúa,để cùng với Ngài thực hiện chương trình cứu độ nhân loại.Mẹ Maria đã nắm một vai trò thật đặc biệt và quan trọng trong lịch sử cứu rỗi.Sở dĩ Mẹ Maria được Thiên Chúa trao cho một vai trò lớn lao,quan trọng như thế là vì Maria được tràn đầy ân sủng,Thiên Chúa luôn ở cùng Mẹ.Thiên Chúa ở cùng,ở với Mẹ là hạnh phúc lớn nhất ,khiến Mẹ luôn đầy phước lộc chứa chan,nhờ đó Mẹ chiếu tỏa ánh sáng và ân sủng cho mọi người. Maria là một người Mẹ,người Mẹ hoàn toàn đúng nghĩa của nó,một người Mẹ đầy yêu thương,vì Mẹ có đầy hồng phúc.Mẹ Maria là một người trong nhân loại,là một người nữ đúng nghĩa nhất,nhưng Maria lại là một người nữ đặc biệt vì Maria làm đẹp lòng Thiên Chúa.Maria đặc biệt hơn nữa vì tâm hồn đơn sơ,thánh thiện,tinh trong,sáng ngời của Mẹ. Maria hoàn toàn xứng đáng với danh hiệu Mẹ Thiên Chúa vì Mẹ đã chỉ cho nhân loại phải bước theo những chặng đường con của Mẹ là Chúa Giêsu đã bước qua.

"CÁC CON ÐỪNG SỢ , THẦY ÐÃ THẮNG THẾ GIAN"( Ga 16,33 )
Chúa Giêsu đã chết,Ngài đã sống lại,lên trời,ban Thánh Thần cho các môn đệ và trở thành niềm cậy trông vững bền cho mọi người,Chúa hứa với các môn đệ và nhân loại:" sẽ ở cùng các con mọi ngày cho tới tận thế "(Ga 14,18).Chúa là con của Mẹ Maria,nên Chúa phục sinh ở với nhân loại mãi mãi cho tới ngày cùng tận trời đất,chắc chắn Mẹ cũng ở với nhân loại cho tới tận thế,vì lúc nào Mẹ cũng mang Chúa trong lòng và giới thiệu Chúa cho nhân loại.Ðức giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết:" Nếu có sự chiến thắng thì Mẹ Maria là người chiến thắng". Mẹ đã hiện ra tại nhiều nơi như Lộ Ðức, Fatima,Labouret,Nam Tư , La Vang và nhiều nơi khác trên khắp thế giới. Nơi nào Mẹ cũng khuyên nhủ:" phải ăn năn sám hối,và năng lần chuỗi mân côi ". Mẹ đã luôn giữ lời hứa và Mẹ luôn muốn con của Mẹ tất cả được thừa hưởng nước trời . Mẹ chiến thắng ma quỉ,sức mạnh của sự dữ.Mẹ chiến thắng tà thần."Trái tim hiến tế của Mẹ đã thắng tội lỗi và những tối tăm của quyền lực ma quỉ, sự dữ.

LỄ MÂN CÔI NÓI GÌ CHO NHÂN LOẠI

Lễ mân côi làm cho dân Chúa hồi tưởng lại thời đạo binh thánh giá chiến thắng quân Phổ ở Lê-pan vào năm 1571 nhờ sự can thiệp của Ðức Trinh Nữ Maria.Tuy nhiên,đó chỉ là lý do phụ .Ðiều cốt thiết của nhân loại là hiệp ý với Mẹ Maria,Nữ Vương an bình,cầu nguyện cho mọi người nhìn nhận ý Thiên Chúa và tuân theo ý Người. Mẹ Maria đã nhiều lần hiện ra cho nhiều người ở nhiều nơi như Lộ Ðức,Mẹ đã hiện ra với thánh nữ Bernadette và tự giới thiệu ngài là Ðấng vô nhiễm nguyên tội.Tại Fatima,Mẹ đã hiện ra với ba trẻ là Lucia,Phanxicô và Jacintha.Trong các lần hiện ra Mẹ đều khuyên các trẻ và nhân loại phải ăn năn sám hối,lần chuỗi và sống trung thành với Chúa.Chắc chắn,mọi người ở muôn thời đều muốn được hạnh
phúc và vui vẻ để sống.Nhưng thái độ của ta đối với Thiên Chúa và tha nhân như thế nào ? Ta đã sám hối và cầu nguyện,lần chuỗi theo ý Mẹ đủ chưa ? Nếu chưa,ta cần thay đổi lối sống,lần chuỗi siêng năng hơn để cùng với Mẹ đi vào các biến cố,các chặng đường của Chúa: Nhập Thể, Khổ Nạn và Phục Sinh.Ta đã sống bác ái, yêu thương đủ chưa ? Nếu chưa,ta cần sống tốt hơn và cố gắng đi vào định luật của tình yêu:" Chúng con hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các con".
Lễ mân côi,một dịp để ta đi vào chương trình cứu rỗi của Chúa Giêsu và là một dịp để chúng ta cố gắng thay đổi con người mới,kết hiệp với Mẹ và sống theo lời khuyên của Mẹ: Sám hối,Cầu nguyện và Lần chuỗi.
Chuỗi mân côi là phương thế dễ dàng và hữu hiệu nhất để giúp ta sống trung thành với Ðạo tình thương của Chúa Giêsu .

"Lạy Chúa.xin đổ ơn thánh đầy lòng chúng con,để nhờ công ơn con Chúa chịu khổ hình thập giá,và nhờ Thánh Mẫu Maria chuyển cầu,Chúa cũng cho chúng con được sống lại hiển vinh"( Lời nguyện nhập lễ,lễ Ðức Mẹ Mân Côi ).