Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2013

Thánh Bartôlômêô Tông Đồ

Thánh Bartôlômêô Tông Đồ

Sưu tầm
Thánh Bartolomeo - trong Phúc Âm đôi khi còn được gọi là Nathanael - là một trong mười hai tông đồ. Ngài quê ở thành Cana xứ Galilê. Bạn thân ngài là thánh Philipphê đã đưa ngài đến gặp Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã hết lời khen ngợi thánh nhân khi vừa gặp mặt: Đây là một người Israel chân chính, không có gì gian trá. Thánh nhân đã giảng đạo tại miền Ả rập, và sau đó, tại Armenia, nơi ngài đã chịu tử vì đạo.

 Cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu.
Truyền thống vẫn coi Bartholomeo chính là Nathanael, bạn thân của Philipphê, người đã loan tin về cuộc gặp đầy vui mừng với Chúa Giêsu: Chúng tôi đã được gặp Đấng mà Moses trong Lề Luật và các tiên tri đã viết về, đó là Đức Giêsu, con ông Giuse thành Nazareth. Nathanael, cũng như mọi người Do Thái tốt lành khác, đều biết Đấng Cứu Thế sẽ xuất thân từ thành Bêlem, quê hương vua Đavít. Vì chính ngôn sứ Michah đã tiên báo: Còn ngươi, hỡi Bêlem, thuộc Ephrathah, ngươi không phải là nhỏ bé nhất giữa các tộc Giuđa đâu, vì từ ngươi sẽ xuất hiện Đấng cai trị trên Israel. Có lẽ diện tích nhỏ bé của làng Nazareth đã khiến Nathanael thốt lên lời khinh thường: Từ Nazareth có cái chi hay đâu? Không cần giải thích, Philipphê đã mời người bạn của mình đến gặp Thầy Chí Thánh. Hãy đến mà xem. Philipphê đã quá biết Chúa Kitô không làm ai phải thất vọng. Chúa Giêsu đã kêu gọi Nathanael qua Philipphê, cũng như Người đã kêu gọi Phêrô qua anh trai là Anrê. Đó là đường lối quan phòng của Chúa – mời gọi và hướng dẫn chúng ta thông qua những người khác. Thiên Chúa không muốn hoạt động một mình: Sự khôn ngoan và tốt lành của Người cho chúng ta cộng tác vào công trình tạo dựng và trật tự của mọi vật. Bao nhiêu lần chúng ta đã sẵn lòng làm khí cụ, để cho bè bạn và người thân của chúng ta có thể nhận ra tiếng Chúa kêu gọi họ? Bao nhiêu lần chúng ta đã lên tiếng như thánh Philipphê: Hãy đến mà xem?
Nathanael vui vẻ đi với Philipphê đến gặp Chúa Giêsu… và ông đã kinh ngạc. Thầy Chí Thánh đã chiếm được lòng trung thành đến cùng của Nathanael. Khi nhìn thấy Nathanael cùng với Philipphê đến với mình, Chúa đã nói: Đây là một người Israel chân chính, không có gì gian trá! Thật là một lời ca ngợi quí báu biết bao! Nathanael ngạc nhiên, và hỏi lại: Tại sao Ngài biết tôi? Và Chúa đã đáp lại – cũng là cho chúng ta - bằng những lời đầy mầu nhiệm, nhưng rõ ràng và có sức soi sáng: Trước khi Philipphê gọi ngươi, lúc ngươi còn ở dưới gốc cây vả, Ta đã nhìn thấy ngươi.
Khi nghe Chúa Giêsu nói, Nathanael đã hiểu tỏ tường. Những lời của Chúa nhắc nhở ông về một biến cố riêng tư: có lẽ đó là lời xác nhận về một quyết định nào đó ông sắp thực hiện. Cuộc gặp gỡ đã khiến Nathanael phải thốt ra một lời công khai tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế: Lạy Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa, là Vua Israel. Chúa đã đáp lại: Bởi vì Ta đã bảo cho ngươi rằng Ta đã nhìn thấy ngươi ở dưới gốc cây vả, nên ngươi đã tin. Ngươi sẽ còn nhìn thấy nhiều điều lớn lao hơn nữa. Chúa Giêsu còn mượn lời từ một bản văn của ngôn sứ Daniel, để nhấn mạnh đến những lời Người vừa nói với người môn đệ này: Quả thật, quả thật, Ta nói với ngươi, ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các thiên thần Chúa lên xuống trên Con Người.
Lời ca ngợi của Chúa. Nhân đức thành thực.
Trong lời Chúa Giêsu ca ngợi Nathanael, chúng ta nhận ra Người đặc biệt yêu chuộng những tâm hồn thành thực. Người gian trá là người hai lưỡi, một lưỡi nói sự thật, còn lưỡi kia nói lời dối trá. Thầy Chí Thánh nói về người môn đệ mới là không có gì gian trá: không có gì giả tạo. Chớ gì mỗi người chúng ta cũng được ca ngợi bằng những lời như thế, bởi vì chúng ta là những người đang cố gắng sống phù hợp với đức tin chúng ta đã tuyên xưng, với tất cả những hệ quả của nó. Kẻ dối trá toàn những tráo trở, luôn luôn thay đổi, lúc nào như một cái chuông vỡ: Bạn đang đọc quyển tự điển về những từ đồng nghĩa của từ thiếu thành thực: ‘hai mặt, phiến diện, vụng trộm, tránh né.’ Khi bạn đóng quyển sách lại, bạn đã xin Chúa để đừng bao giờ có ai áp dụng những tính từ ấy vào bạn, và bạn quyết tâm theo đuổi hơn nữa nhân đức thành thực, một nhân đức vừa siêu nhiên vừa nhân bản.
Nhân đức này là điều căn bản để theo Chúa Kitô, bởi vì Người là Sự Thật chí thánh, Người gớm ghét tất cả những gì là gian trá. Ngay cả những đối thủ của Chúa Kitô cũng phải nhìn nhận Người yêu chuộng sự thật. Có lần họ đã nhìn nhận: Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật, và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. Chúa dạy chúng ta phải có những tư tưởng ước muốn phù hợp với chân lý: Có thì nói có, không thì nói không – thêm điều đặt chuyện là do sự dữ mà ra. Ngược lại, ma quỉ là cha sự dối trá, bởi vì lúc nào chúng cũng ra sức lôi kéo con người vào đàng tội lỗi, tức là sự dối trá kinh khủng nhất. Chúa Giêsu là Đấng lúc nào cũng cảm thông và nhân ái trước mọi yếu đuối của con người, nhưng Người đã nghiêm khắc kết án thói giả hình của bọn Biệt Phái. Từ đó, chúng ta có thể tưởng tượng Chúa đã hài lòng như thế nào trong cuộc gặp gỡ với Nathanael.
Chân lý sẽ đưa chúng ta đến tự do đích thực. Phúc Âm đã thiết lập một tương quan mật thiết giữa sự thật và tự do. Chúa Giêsu Kitô gặp gỡ nhân loại thuộc mọi thời đại, kể cả chúng ta, bằng những lời vẫn như thế: ‘Các ngươi sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải thoát các ngươi’ (Ga 8:32). Những lời ấy đồng thời cũng hàm chứa một đòi hỏi cơ bản và một khuyến cáo: chân thành sống theo chân lý là điều kiện để được tự do đích thực.13 Ước chi chúng ta đừng bao giờ sợ hãi sự thật, mặc dù đôi khi sự thật dường như chỉ đem lại phiền toái, và chúng ta có thể tránh khỏi chỉ bằng một lời nói dối. Thiện ích chỉ xuất phát từ sự thật. Nói dối - dù chỉ giấu giếm một chút sự thật - không bao giờ đem lại giá trị vững bền, ngay cả trong vấn đề kiếm lợi kinh tế, hoặc giải gỡ chúng ta khỏi hình phạt hay một thời gian khốn khó.

 Thành thực với Chúa trong việc linh hướng và trong cuộc sống với tha nhân. Nhân đức đơn sơ.
Chúng ta cần phải sống chân thật và thành thực trong tương quan với tha nhân. Thiếu nhân đức này, việc sống chung trở nên khó khăn hoặc thậm chí còn bất khả. Tóm lại, nếu bị tách rời khỏi sự thật, cuộc sống nhân loại sẽ trở nên ngày càng u ám và tăm tối vì sai lạc. Khi ấy, mặc dù không ý thức, nhưng xã hội sẽ bắt đầu tự lừa dối, bằng việc ưa chuộng sự dữ hơn sự lành.
Chúng ta phải sống hết sức thành thực với Thiên Chúa, đến với Người không chút gian dối, không chút che đậy, vui tươi tin tưởng như một người con trước sự hiện diện đầy nhân ái của cha mẹ.
Nhân đức này đặc biệt cần thiết trong việc linh hướng: chúng ta phải bộc lộ tình trạng linh hồn mình cho những vị hữu trách nhân danh Chúa mà giúp đỡ chúng ta trên con đường về trời. Nơi toà cáo giải, thành thực là điều rất quan trọng, vì một người không nhìn nhận tội lỗi thì không thể nhận lãnh ơn Chúa. Huống nữa, đây không phải chỉ là vấn đề thành thực với con người, mà là với chính Thiên Chúa.
Thái độ giả trá, lừa lọc không thể đem lại những lợi ích. Thánh Augustine nói, Kẻ đến với bác sĩ để được chữa lành, nhưng lại quên mất mình đang nói chuyện với ai, chỉ đưa ra những cơ phận khỏe mạnh mà giấu giếm những cơ phận yếu bệnh. Thiên Chúa là Đấng duy nhất có thể chữa lành những vết thương của bạn, chứ không phải bản thân bạn. Nếu bạn dùng những miếng băng để che giấu những vết thương của mình, bác sĩ sẽ không thể chữa lành cho bạn được. Cần phải để bác sĩ thực hiện việc băng bó, bởi vì ông sẽ băng các vết thương với thứ thuốc đặc hiệu. Trong khi các vết thương lành là nhờ việc chữa trị của bác sĩ, thì chúng lại mưng mủ vì việc xen vào thiếu kinh nghiệm của chính bệnh nhân. Bạn nghĩ bạn giấu
giếm những điều ấy với Đấng nào? Đó là Đấng biết hết mọi sự. Nếu chúng ta thành tâm, tội lỗi còn trở nên một thuận lợi để gắn bó chúng ta mật thiết hơn với Thiên Chúa.
Đi liền với sự thành thực là lòng đơn sơ, một nhân đức mà chúng ta thán phục nơi thánh Bartholomeo, một nhân đức cần thiết giúp chúng ta gặp được Thiên Chúa. Ngược lại với nhân đức này là sự phô trương trong ngôn ngữ và hành vi, ước muốn được nổi trội, hợm hĩnh, khoác lác hay cao ngạo. Đó là những khiếm điểm khiến chúng ta bước theo Chúa rất khó khăn, và tạo nên những trở ngại nghiêm trọng khiến chúng ta không thể giúp tha nhân đến được với Chúa Giêsu. Người đơn sơ không gặp rắc rối hay phức tạp. Họ nhắm thẳng đến việc làm hài lòng Chúa trong mọi sự. Thành thực và đơn sơ là hai nhân đức nhân bản diệu kỳ giúp ta nhận lãnh sứ điệp của Chúa Kitô. Ngược lại, tất cả những rắc rối và phức tạp nội tâm, quanh co và lật lọng, chỉ tạo nên trở ngại khiến ta không thể nghe được tiếng Chúa.
Hôm nay, chúng ta xin thánh Bartholomeo giúp chúng ta thực hành hai nhân đức rất đẹp lòng Chúa và cần thiết cho đời sống cầu nguyện, trong tình thân ái và cách cư xử với tha nhân, cũng như trong công việc tông đồ. Chúng ta xin Đức Mẹ ban ơn để sống trọn một cuộc sống không có những thủ đoạn, luôn luôn thành thực và đơn sơ: ‘Tota pulchra es Maria, et macula original non est in te’… ‘Lạy Mẹ Maria, Mẹ toàn mỹ, không hề vương vấn nguyên tội!’ Nơi Mẹ, không có một bóng mờ tráo trở. Hằng ngày, tôi cầu nguyện xin Đức Mẹ ban cho chúng ta biết cởi mở tâm hồn khi thụ hướng, và để ánh sáng ân sủng có thể chiếu giãi toàn bộ cách sống của chúng ta.
Nếu như chúng ta nài xin, Đức Mẹ sẽ ban cho chúng ta ơn can đảm biết sống thành thực, để có thể đến gần Thiên Chúa Ba Ngôi hơn nữa.18 Hôm nay, thánh Bartholomeo sẽ là vị cầu bầu chủ yếu cho chúng ta với Đức Mẹ.

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Mừng lễ Thánh Mônica: vai trò của hiền mẫu


Mừng lễ Thánh Mônica: vai trò của hiền mẫu
Chủ nhật - 26/08/2012 18:37
 
Ngày 27/08 hàng năm, nhiều xứ đạo lại hồ hởi tổ chức lễ mừng kính Thánh nữ Mônica, bổn mạng của giới hiền mẫu. Đây là dịp thuận tiện để những người làm mẹ nhìn lại trách nhiệm và vai trò của mình trong việc chăm lo giáo dục đời sống đức tin cho con cái và xây dựng bầu khí gia đình ngày càng thấm đượm Tin Mừng hơn. Gương sáng đạo hạnh của Thánh Mônica trở thành chuẩn mực cho các hiền mẫu noi theo để “sống thánh” trong gia đình và giữa đời thường.
Cuộc sống hôm nay đang đặt ra nhiều thách đố cho các gia đình, đặc biệt là các gia đình Công giáo. Nhu cầu hưởng thụ vật chất ngày càng cao cùng với lối sống có xu hướng cá nhân hóa đã tạo nên những khó khăn không nhỏ trong việc duy trì mối tương quan tốt đẹp trong gia đình. Nhiều biểu hiện sa sút trầm trọng, phổ biến nơi những người trẻ là tiếng chuông báo động khẩn thiết cho những bậc làm cha mẹ. Các phương tiện truyền thông thường xuyên đưa tin “nóng” về thảm trạng nhiều “trai tơ, kiều nữ” dấn sâu vào con đường phạm tội. Biết bao người mẹ đã không thể ngăn tiếng khóc đắng cay, đau xót nhìn theo bóng hình con yêu lẫm lũi bước vào chốn lao tù ! Tiếng khóc ấy gợi cho chúng ta nhớ đến tiếng khóc của Bà Mônica xưa, nó đã bật lên như một lời cầu nguyện.
Mônica sinh năm 331 tại Thagaste, Phi Châu (thuộc Algerie ngày nay). Thánh nữ Mônica đã gặp phải nhiều khó khăn thử thách trong đời sống gia đình tưởng chừng khó có thể vượt qua nổi. Việc thành hôn với Patricius, một người ngoại giáo đã tạo nên bước ngoặt trong cuộc đời Mônica. Là một viên chức hành chính tại Thagaste, thuộc dòng dõi quý phái nhưng tính khí Patricius lại rất nóng nảy, ngang tàng, ưa phóng khoáng vô độ. Mặc dù rất nể phục đời sống đạo hạnh của Mônica nhưng Patricius rất khó hòa hợp với vợ mình về quan điểm niềm tin tôn giáo. Ông nhất mực không cho các con được lãnh phép Thánh Tẩy. Hơn nữa, mẹ của Patricius là người rất khó tính, lại tỏ thái độ bênh vực chủ trương không tôn giáo và lối sống phóng túng của con mình. Tình cảnh này đã khiến cho Mônica phải đau khổ rất nhiều. Trong âm thầm đau đớn, Thánh nữ đã khóc ròng rã suốt nhiều năm trường, mong cho gia đình được ấm êm, sung túc. Tiếng khóc của Mônica không tuyệt vọng nhưng luôn chứa đựng niềm tin tưởng tuyệt đối nơi Chúa, Đấng sẽ lái con thuyền gia đình thánh nhân cập bến hạnh phúc. Nhờ tâm hồn hiền hòa, đơn sơ, nhẫn nhục chịu đựng và sự thánh thiện lan tỏa, Mônica đã chinh phục được Patricius cùng mẹ chồng, đã đưa họ trở lại với Kitô giáo. Patricius mất năm 371 sau khi đã được rửa tội, bỏ lại vợ hiền Mônica cùng 3 đứa con thơ, trong đó có Augustinô. Một mình Mônica tiếp tục mang gánh nặng gia đình.
Người con trưởng của Mônica là Augustinô thông minh, lanh lợi, hoạt bát nhưng tính tình phóng khoáng, thích đời sống tự do như thân phụ lúc sinh thời. Do đó, Augustinô không thể “lọt tai” giáo huấn lề luật Đạo Chúa và Giáo Hội mà mẹ ông truyền đạt. Trái lại, ông thích thú sống theo các quan điểm và triết thuyết cổ vũ một lối sống phóng túng, buông thả, tự do như thuyết Manikê. Mônica vô cùng đau buồn khi thấy con mình trượt dài trên con đường tội lỗi, xa lìa đức tin. Thánh nữ càng tha thiết cầu nguyện, cầu nguyện trong tiếng khóc, mong đứa con hư hỏng sớm thức tỉnh trở về cùng Chúa và Giáo Hội. Mônica đã luôn theo sát Augustinô trên bước đường công danh, sự nghiệp của ông với hy vọng cảm hóa con mình. Những năm tháng “thỏa chí tang bồng” trên đất Ý của Augustinô đã ghi đậm dấu ấn tận hiến tâm lực của Mônica. Vui vẻ chịu đau khổ, Thánh nữ đã không quản trước bất cứ hy sinh, cam go nào miễn là Augustinô nghe được tiếng Chúa gọi. Lời kinh nguyện của Mônica đã thấm đẫm nước mắt của người mẹ phải đau khổ tận cùng. Bà đã khóc nhiều đến nỗi có người nói rằng “Mônica không còn nước mắt để khóc nữa”. Thánh Ambrôsiô, người có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc đời Augustinô, cũng là vị linh hướng của Thánh Mônica, đã an ủi bà: “Nước mắt bà không vô ích đâu, bà hãy cứ vững lòng trông cậy. Augustinô con bà sẽ trở lại !”. Đúng là nước mắt và lời cầu nguyện của Mônica đã “không vô ích”. Chúa đã bù đắp cho Thánh Mônica vượt xa ước nguyện, sự hy sinh của ngài suốt những năm trường. Lễ Phục Sinh năm 387, chính Giám mục Ambrôsiô đã rửa tội cho Augustinô. Không những Augustinô được ơn làm một Kitô hữu chân chính mà còn trở thành một linh mục. Hơn thế nữa, Augustinô đã trở thành một giám mục tài đức, tận tụy với đàn chiên, đã sống một cuộc đời hoàn toàn lo tìm kiếm Thiên Chúa và phục vụ Hội Thánh.  
Vậy là Mônica hoàn toàn toại nguyện. Sau biến cố trở lại với Chúa của người chồng và đặc biệt của Augustinô, Thánh Mônica đã hân hoan từ giã cõi đời ở tuổi 56 trong tâm tình tạ ơn sau hành trình thập giá với nhiều đắng cay, khổ lụy của đời sống gia đình. Lời tâm huyết của thánh nhân với Augustinô còn dư âm mãi trong chúng ta: “Con ơi, riêng phần mẹ, mẹ chẳng còn lấy chi làm vui thích trên trần gian này nữa,…Thiên Chúa đã ban cho mẹ quá lòng mẹ mong ước: mẹ còn đang được thấy con khinh chê hạnh phúc trần gian mà làm tôi tớ phụng sự Người. Bây giờ mẹ ở đây làm chi nữa ?” (Các bài đọc Kinh Sách, tr. 567).
Thật vinh dự cho các bà mẹ của chúng ta khi nhận Thánh Mônica làm bổn mạng. Là hiền mẫu, những người làm vợ, làm mẹ được mời gọi nhìn lên Thánh Mônica để chiêm ngắm, học hỏi, nhất là sống “tinh thần Mônica” ngay trong đời sống gia đình. Không dừng lại ở việc tổ chức mừng lễ Thánh Monica như một thông lệ, giới hiền mẫu cần thể hiện vai trò chứng nhân Tin Mừng trước bao nhiêu khó khăn, thúc bách đối với gia đình mình. Dẫu biết, vô vàn những cam go, nan giải đang đặt ra cho những người làm mẹ, đôi khi những khó khăn vượt quá khả năng chịu đựng của các bà, các chị. Nào là nhu cầu cơm áo, gạo tiền đòi hỏi những người mẹ phải cật lực hơn, hy sinh hơn. Nào là bối bận tâm lo cho cuộc sống tương lai của con cái có nơi ăn, chốn ở đàng hoàng, có nghề nghiệp, vị thế ổn định trong xã hội. Và còn vô kể những mối lo toan khác đôi khi đã làm cho những người mẹ của chúng ta phải hoang mang, đau khổ bởi gánh nặng gia đình: những đứa con hư hỏng, những ông chồng sa đọa… Biết bao người mẹ đã khóc, đã rơi vào cơn tuyệt vọng vì khó cứu vãn nổi hạnh phúc gia đình. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta rất đỗi cảm phục nhiều người mẹ trong giới hiền mẫu đã thể hiện sinh động trách nhiệm và vai trò của những “Monica mới”, sống hiền hòa, nhẫn nhục, âm thầm hy sinh và kiên trì cầu nguyện.
Theo gương Thánh Mônica, những người mẹ đã sống một đời tận hiến cho hạnh phúc của chồng con, đã thức khuay dậy sớm, tần tảo lo cho chồng con có một cuộc sống ổn định, nhất là có điều kiện tốt để phát triển bầu khí gia đình ngày càng thấm nhuần Tin Mừng hơn.
Theo gương Thánh Mônica, các bà, các chị đã ân cần, tha thiết dâng lên Chúa câu than, tiếng khóc, nỗi niềm đau khổ bởi gánh nặng gia đình. Như Thánh Mônica, những người mẹ của chúng ta luôn trọn niềm phó thác, tin tưởng Chúa sẽ thánh hóa nước mắt và lời kinh đau khổ, chúc lành cho những hy sinh thầm lặng trở thành mảnh đất tốt trổ sinh nhiều hoa thơm thánh thiện trong gia đình, giữa lòng Giáo Hội và xã hội hôm nay.
Trong tâm tình tạ ơn Chúa, chúng ta hãy cùng giới hiền mẫu hát lên “Khúc ca một người mẹ”: “Người mẹ hiền Mônica, trong phong ba bão táp gia đình, lời nguyện cầu không ngưng nghỉ, nhìn về trời kiên vững niềm tin. Dù biển cuộc đời nổi dông phong ba, dù tình loài người dửng dưng phôi pha, lòng người mẹ hiền niềm tin không vơi, nguyện một lòng son tin vào Chúa Trời…” (Khúc ca một người mẹ, nhạc và lời Hồng - Bính).

Mừng lễ Thánh Mônica năm 2012

J.B. Nguyễn Quốc Tuấn
Nguồn tin: giaophanvinh.net

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI 15/8

LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
(Lu-ca 1: 39-56)



        Bài Tin Mừng Lu-ca 1:39-56 cho ta một hình ảnh sống động về hiệu quả ơn cứu chuộc, tiếp nối biến cố Truyền Tin vừa được thánh sử kể lại trước đó.  Mỗi người trong câu truyện biểu lộ tâm tình của mình đối với công việc của Thiên Chúa theo cách của mình.  Thai nhi Gio-an chưa nói được thì “nhảy lên vui sướng.”  Bà mẹ Ê-li-sa-bét được tràn đầy Thánh Thần thì cảm nhận ân phúc của Thiên Chúa ban cho mình qua người thân:  “Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy?”  Nhưng quan trọng nhất vẫn là tâm tình tạ ơn và ngợi khen của Mẹ Ma-ri-a, Đấng “có phúc” và “đã tin”.  Lời lẽ trong bài ca Ngợi khen (Magnificat) phản ảnh một tâm hồn luôn mở rộng đón nhận ân sủng Thiên Chúa cũng như sự thánh thiện và khiêm nhường của Mẹ.  Những yếu tố như phản ứng của mẹ con bà Ê-li-sa-bét, ân sủng của Thiên Chúa và sự thánh thiện của Mẹ Ma-ri-a, tất cả đều được nêu cao để giúp ta hiểu tột đỉnh của ân sủng Thiên Chúa ban cho Mẹ, đó là sự kiện Hồn Xác Lên Trời.


a)  Mẹ Ma-ri-a đầy ân phúc và đức tin

        Ân phúc là quà tặng Chúa ban và đức tin là đáp lại ân sủng của Thiên Chúa.  Hiểu như thế, ta sẽ nhận ra tất cả cuộc sống của Mẹ Ma-ri-a là một mối quan hệ sống động giữa Mẹ và Đấng Tạo Dựng, từ khởi đầu với đặc ân không hề mắc tội tổ tông truyền cho tới khi được đưa về trời cả xác lẫn linh hồn.
        Trong biến cố Truyền Tin, sứ thần Gáp-ri-en đã kính chào Mẹ là “Đấng đầy ân sủng.”  Có nghĩa là Mẹ được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt và trang điểm cho Mẹ với tất cả những gì quý giá nhất.  Không có đặc ân nào cao trọng hơn ơn Vô nhiễm nguyên tội.  Ngoài Chúa Giê-su ra, không ai trong loài người đã được gìn giữ cách đặc biệt để ngay từ giây phút đầu tiên được thụ thai trong lòng mẹ đã không bị một chút ảnh hưởng nào do hậu quả tội A-đam.  Có lẽ chỉ có Gio-an Tiền hô là được khỏi tội nguyên tổ khi Chúa Cứu Thế trong lòng Mẹ Ma-ri-a đến thăm, nhưng ít ra ông cũng đã sống trong ảnh hưởng của tội ấy sáu tháng trời.
        Đầy ân phúc cũng có nghĩa là được đẹp lòng Thiên Chúa, theo như sứ thần đã khẳng định.  Thêm vào đó, lời giải thích của sứ thần cho ta thấy một chiều kích khác của tình trạng đầy ân phúc:  Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà.  Khi ta có Thiên Chúa đầy tràn trong tâm hồn tức là ta được đầy tràn ân phúc.  Cho nên Mẹ Ma-ri-a quả thực là đầy ân phúc, trước hết vì Mẹ được đầy tràn Thánh Thần, hoặc nếu diễn tả theo hình ảnh của Chúa Giê-su, Đức Mẹ cũng được “Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng như chim bồ câu” (Lc 3:22), hoặc “được đầy Thánh Thần” (Lc 4:1) hay “được quyền năng Thần Khí thúc đẩy” (Lc 4:14).  Mẹ cũng đầy ân phúc vì quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Mẹ.  Trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã ở lại với dân Người dưới hình thức một đám mây che phủ Nhà Tạm và Lều Chứng Ước, dẫn dắt họ ban ngày và che chở họ ban đêm (Ds 9:18-22; 10:24).  Giờ đây, sự hiện diện quyền năng của Thiên Chúa cũng ở nơi Mẹ Ma-ri-a qua thân xác con người của Thiên Chúa nơi Chúa Giê-su, ân sủng được nhập thể của Thiên Chúa.
        Đó là những gì Thiên Chúa đã ban cho Mẹ Ma-ri-a.  Đáp lại, Đức Mẹ đã tiếp nhận Ân Sủng với tất cả lòng tin.  Đức tin của Mẹ là nền tảng để Mẹ nhận ra Thiên Chúa là Đấng nào và Người đã làm gì cho ta.  Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ đích thực, là Đấng Toàn Năng.  Danh của Người thật cao cả và Người luôn hành động để bênh vực kẻ nghèo hèn.  Người độ trì Ít-ra-en và Người trung thành giữ lời hứa.  Đức tin của Mẹ đã tóm tắt lại tất cả những gì Kinh Thánh nói cho ta biết về Thiên Chúa và Mẹ đã dệt thành một bài ca Ngợi khen.  Phải đi từ nền tảng đức tin sâu xa ấy của Mẹ, ta mới có thể hiểu được bài ca đã được sống qua từng biến cố cuộc đời Mẹ.  Không là bài ca hời hợt với mỹ từ, nhưng là bài ca sống động mới chỉ diễn tả được một phần thực tại cuộc sống của Mẹ.


b)  Linh hồn và xác Đức Mẹ lên trời là hoa trái của tình trạng đầy ân phúc và đức tin

        Để nắm bắt được chân lý này, ta cần nhờ thánh Phao-lô soi sáng cho ta hiểu.  Ngài trình bày sự sống lại của Chúa Ki-tô như nền tảng cho sự sống lại của mọi người.  Sự Phục sinh của Chúa Ki-tô và sự kiện Linh hồn và xác Đức Mẹ lên trời không phải là hai sự kiện tách biệt nơi hai vị, nhưng được đan kết với nhau vì Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.  Mẹ tham dự vào kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa một cách đặc biệt và cũng lãnh nhận hiệu quả ơn cứu rỗi một cách đặc biệt qua và trong Đấng Mẹ đã cưu mang.  Do đó, ta chỉ có thể thấy ý nghĩa của việc Linh hồn và xác lên trời của Mẹ nếu ta nắm vững được ý nghĩa của sự Phục sinh của Chúa Ki-tô.  Trong thư 1 Cô-rin-tô, thánh Phao-lô khẳng định:  được chỗi dậy từ cõi chết, Chúa Giê-su là “hoa quả đầu mùa.”  Tiếp đến, thánh Phao-lô trình bày:  “Quả thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống.  Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình:  mở đường là Đức Ki-tô, rồi khi Đức Ki-tô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người” (1 Cr 15:22-23).  Thử hỏi có ai “liên đới với Đức Ki-tô” khắng khít hơn là chính Thân mẫu Người?  Có ai “theo thứ tự của mình” sát với Đức Ki-tô cho bằng chính Mẹ Ma-ri-a?  Như vậy, đặc ân Hồn Xác lên trời Thiên Chúa dành cho Mẹ Đấng Cứu Thế trước ngày quang lâm của Chúa Giê-su hẳn không có gì là quá đáng, nhưng rất xứng hợp với vai trò của Mẹ trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa.


c)  Suy nghĩ và cầu nguyện

        Cũng như Mẹ Ma-ri-a, tôi có là người mang những ân phúc của Thiên Chúa không?  Những ân phúc đó là gì?  Tôi đã đáp lại tình thương của Người như thế nào?
        Để chuẩn bị cho ngày được sống lại, được lên trời với Chúa Giê-su, tôi có liên đới với Chúa Ki-tô như Mẹ Ma-ri-a đã liên đới với Con Mẹ không?  Tôi phải diễn tả sự liên đới ấy như thế nào?
        Tôi có mang ân sủng của Thiên Chúa đến cho anh chị em chung quanh không?
        Ý tưởng nào trong bài ca Ngợi khen của Đức Mẹ hợp với hoàn cảnh của tôi nhất?


Cầu nguyện:

        “Lạy Mẹ Ma-ri-a,
        khi đọc Phúc Âm,
        lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.
        Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Đức Giê-su,
        Mẹ đưa Con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.
        Mẹ tìm Con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.
        Mẹ đi thăm Đức Giê-su khi Ngài đang rao giảng.
        Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.
        Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi
        âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,
        từ con người hay từ Thiên Chúa.
        Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Đức Giê-su
        trong mọi bước đường của cuộc sống.
        Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa.
        Có những con đường đầy máu và nước mắt.
        Xin Mẹ dạy chúng con
        đừng sợ lên đường mỗi ngày,
        đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa
        dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.
        Xin giữ chúng con luôn đi trên Đường-Giêsu
        để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ
        đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.”
                        (Trích RABBOUNI, lời nguyện 51) 

Lm. Đaminh Trần Đình Nhi

Mừng Mẹ Lên Trời Hồn Xác, Xin Mẹ Cầu Bàu Cho Chúng Con Là Con Cái Mẹ
Còn Đang Ở Thế Đầy Mưu Ma Chước Quỉ
Đầy Những Cám Dổ Xác Thịt
Luôn Làm Mất Lòng Chúa, Thêm Những Gai Nhọn, Vết Roi, Xỉ Nhục.
Xin Mẹ Giúp Chúng Con

Thánh ĐAMINH nhà giảng thuyết

Thánh ĐAMINH nhà giảng thuyết

Mặc dầu là tổ phụ của một Dòng chuyên việc giảng thuyết, Thánh Đa Minh không phải là nhà Thuyết Giáo bẩm sinh. Ngài đã phải nỗ lực nhiều để trở thành nhà Thuyết Giáo. Nếu Đức Giêsu có 30 năm ẩn dật ở Nagiarét, thì Đa Minh khởi sự giảng thuyết khi đã 35 tuổi, sau một tiến trình dài chuẩn bị có định hướng trong học hành và cầu nguyện. Tiếp theo đó là 10 năm du thuyết theo sự thúc đẩy của Thánh Thần. Cha Đa Minh đã hình thành những kinh nghiệm sâu sắc để truyền thụ cho môn sinh mình trong sáu năm cuối đời. Xin mở lại những trang sử, để theo dõi những chặng đường tâm linh của Ngài, khởi từ chiếc nôi gia đình.
Thánh Đa Minh sinh ngày 24-6-1170 tại Caleruega thuộc giáo phận Osma, miền Castille, nước Tây Ban Nha. Thân phụ ngài là bá tước Felix de Guzman, thân mẫu là chân phước Gioanna de Aza. Ba anh em trai đều thụ phong linh mục, người anh cả Antôniô làm tuyên úy bệnh viện, còn anh thứ Mannes, sau vào Dòng Thuyết Giáo của em mình.






1/ Cây trồng trên đất chọn lựa

Ngay từ khi chào đời và trong suốt thời thơ ấu, Đa Minh đã được sống trong bầu khí thuận lợi cho sứ vụ trong tương lai. Tuy thuộc gia đình quí tộc, mọi người đã đón chờ và nuôi dưỡng cậu để trở thành giáo sĩ chứ không phải hiệp sĩ. Trước khi sinh, bà Gioanna mơ thấy từ lòng mình có con chó nhảy ra, cắn bó đuốc chạy khắp địa cầu. Giấc mộng đó chứng tỏ bà ước mong con trai mình trở thành nhà thuyết giáo. Ước vọng tốt đẹp được diễn ra trong mộng bằng biểu tượng phổ biến đương thời : vì hình ảnh "con chó ngậm bó đuốc sáng rực" biểu hiệu nhà thuyết giáo, hỗ trợ vị mục tử Giêsu, canh chừng cho đoàn chiên khỏi sói rừng, đã từng xuất hiện trong tiểu sử thánh Benađô (1090-1153) cũng như nhiều bản văn thời Trung Cổ. Tóm lại, Đa Minh từ bé đã được đào tạo để phục vụ Thiên Chúa.
Như thế, những câu chuyện hấp dẫn thời thơ ấu của Đa Minh, có lẽ chính là bài học của người thân muốn truyền thụ cho cậu hoài bão lớn lao ấy. Ngôi sao trên trán là lời nhắc nhủ sống thánh thiện cao vời, những sự kiện đơn sơ như nằm đất được dùng để nói đến hy sinh. Rồi khi Đa Minh bảy tuổi, gia đình đã gửi đến cậu ruột là linh mục xứ Gumiel gần đó. Constantin d'Ovieto so sánh sự kiện này như tiên tri Samuel được gửi đến thày cả Hêli trong Cựu Ước. Bảy năm sau, Đa Minh được theo học tại trường nhà thờ chính tòa Palencia. Nơi đây, Đa Minh không màng đến văn chương nghệ thuật, chỉ miệt mài học hỏi Lời Chúa. Đến độ "nhiều đêm gần như không ngủ để học hỏi Kinh Thánh".
Sau này Kinh Thánh vốn là nguồn suy niệm không bao giờ cạn của thánh Đa Minh. Hành trang ngài luôn mang theo là Phúc Âm thánh Matthêu và các thư thánh Phaolô. Trên đường đi thuyết giáo, mỗi tối ngài đưa các bạn đồng hành vào nơi thanh vắng, cùng nhau đọc một vài đoạn Sách Thánh và chia sẻ cho nhau những gì mình suy niệm. Còn giờ đây ở Palencia, Đa Minh đang nghiền gẫm và khám phá Đức Kitô cũng như giáo huấn của Ngài.

2/ Kinh nghiệm giác ngộ

Nhiều nhà sử học gần đây thường coi kinh nghiệm giác ngộ, đổi đời, hay hoán cải của Đa Minh đã diễn ra trong biến cố bán sách giúp người nghèo. Nạn đói đang hoành hành ở Palencia, cũng như khắp Tây Ban Nha, trở thành lời kêu gọi phải hành động. Những năm gắn bó với Kinh Thánh đã sinh hoa kết trái. Từ một người nghiên cứu Kinh Thánh, cậu sinh viên Đa Minh trở thành người sống triệt để Tin Mừng.
Vì đối với một sinh viên trẻ, bộ Tin Mừng và phần chú giải mà mình đã bỏ bao nhiêu thời gian để nắn nót ghi chép là cả một gia tài vô giá không thể lìa xa. Thế mà, chàng sinh viên Đa Minh đã đem bán gia tài ấy cùng với những vật dụng khác để có tiền giúp người nghèo. Anh nói : "Tôi không thể học trên trên những miếng da chết đang khi người khác chết đói". Như thế Tin Mừng đối với Đa Minh không còn là những hàng chữ chết nữa, mà đã trở thành Lời ban sự sống. Thánh Jordano nhấn mạnh quyết định bán sách của Đa Minh được thực hiện nhanh chóng, ngay lập tức, vì muốn thực hiện Lời Chúa : "Ai muốn nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, bố thí cho người nghèo, đoạn hãy theo Tôi" (Mt.19,21). Chúa lên tiếng gọi và Đa Minh đã đáp trả vững vàng.
Sau khi hoàn tất chương trình học, Đa Minh theo lời mời của linh mục Diego, gia nhập hội kinh sĩ địa phận Osma. Ít lâu sau, anh thụ phong linh mục và làm phó bề trên kinh sĩ đoàn.

3/ Tại Osma

Gia nhập kinh sĩ đoàn trong thời vàng son này, cha Đa Minh đã học được kinh nghiệm sống chung theo tinh thần Giáo Hội tiên khởi (Cv.4,32). Theo tu luật Augustino, các kinh sĩ sống hòa hợp "một trái tim một tâm hồn", để tài sản làm của chung, đề cao kinh nguyên chung, việc học hành và chia nhau đi rao giảng, giúp đỡ người bất hạnh. Tại Osma, cha Đa Minh nổi bật về lòng khiêm tốn, trở nên người rốt hết trong cộng đoàn. Sau này, điều đầu tiên ngài căn dặn về việc huấn luyện tập sinh, là sống khiêm tốn trong lòng cũng như bên ngoài. Ngoài ra thánh Jordano còn ghi nhận, cha Đa Minh đã sử dụng cuốn "Đối chiếu các giáo phụ", bàn về các nết xấu và cuộc đời hoàn thiện. Nhờ đó cha khám phá ra những đường lối muôn nẻo dẫn tới ơn đứu độ. Cha hết mình sống theo đường lối đó.
"Nhờ ơn sủng hỗ trợ, cuốn sách đã giúp cha đạt được một lương tâm tinh tuyền, chiêm ngưỡng được nhiều ánh sáng và lên đến đỉnh hoàn thiện"
Thế nhưng điều cần nhấn mạnh hơn cả trong giai đoạn này là lối cầu nguyện của cha Đa Minh. Đó là biểu hiện của lòng khát vọng liên kết mật thiết với Đức Kitô, cảm thông những khốn khổ của nhân trần và hiến toàn thân cho họ được ơn cứu độ.

4. Cha Đa Minh cầu nguyện

Là người từng chung sống, chứng kiến và nghe cha Đa Minh cầu nguyện, chân phước Jordano ghi rằng :"Cha thường cầu nguyện suốt đêm, Chúa đã ban cho cha ơn đặc biệt cầu nguyện cho các tội nhân, cho người nghèo và người sầu khổ. Cha cảm thông với những sầu khổ của họ tận đáy lòng, và biểu hiện ra bên ngoài bằng những dòng nước mắt. Có khi giữa đêm thanh vắng. Ngài lớn tiếng kêu nài : "Chúa ơi ! Rồi đây các tội nhân sẽ ra sao? "
Đó là sự đồng cảm với Đức Kitô, yêu nhân gian bằng những rung cảm, thao thức của chính Chúa thuở xưa. Tình yêu đó thúc đẩy cha, trong giờ cầu nguyện, thân thưa với Chúa về những người đã gặp, học với Chúa để biết xót thương và cảm thông với những người sẽ gặp:
"Lúc nào cha cũng cầu xin cho được lòng bác ái đích thực để mưu tìm và chăm lo phần rỗi cho mọi người cách hữu hiệu. Cha nghĩ rằng chỉ khi nào mình noi gương Chúa Cứu Thế, hiến toàn thân toàn sức cứu rỗi các linh hồn thì mới thực sự trở thành chi thể của Chúa"
Cha không hề nghi ngờ Thiên Chúa Đấng hằng xót thương. Cha chỉ xin Chúa mở rộng cõi lòng mình để biết yêu thương và cảm thông. Và trong giờ kinh nguyện nồng cháy đó, cha muốn đưa hết thảy lương dân, người Do thái, người Hồi giáo hay anh em Ly giáo... nghĩa là tất cả, đến với Chúa Cứu Thế.
Lời cầu nguyện đó biểu lộ lòng cha yêu thương các tội nhân. Cha lấy tấm lòng của Thiên Chúa để ôm ấp họ. Cha không chuyển cầu cho bằng "kết hợp" ngày càng sâu xa hơn với Đức Giêsu, là Đấng trên Thánh Giá đã dạy cho loài người nghệ thuật yêu thương.
Và như thế đó, hết đêm này tới đêm khác, cha Đa Minh học với Chúa nghệ thuật giảng thuyết. Tuy nhiên, cha không vội vã lên đường thi hành sứ vụ ngay. Có lẽ cha cũng chưa nghĩ tới điều đó. Suốt đời, cha không bao giờ đốt giai đoạn, cha biết chờ đợi đúng lúc.


5/ Một đêm không ngủ

Năm 1203, lần đầu tiên cha Đa Minh có cảm hứng lập Dòng, nhưng mọi chuyện đã xảy ra như bất ngờ. Giám mục Diego chọn cha Đa Minh tháp tùng đi Đan Mạch cầu hôn cho hoàng tử, con vua Alphonso VIII, miền Castille. Khi đi ngang miền nam nước Pháp, cha Đa Minh chứng kiến cảnh đau lòng. Người ta thiếu tin tưởng vào giới chức trong Giáo Hội. Ngày càng đông các thiện nam tín nữ rời bỏ Giáo Hội đi theo các nhóm Cathares, theo chủ thuyết nhị nguyên, vừa sống thanh thoát, vừa hoạt động hăng say.
Ngay đêm đầu tiên ngủ tại quán trọ, cha gặp người chủ quán đã gia nhập nhóm Cathares. Thế là lửa nhiệt tâm với các linh hồn đã đượm nóng suốt bao năm chiêm niệm tại Osma, bỗng bừng cháy lên. Cha Đa Minh thức trắng đêm, thân ái nhưng thẳng thắn, trao đổi và thuyết phục người chủ quán trở về chính lộ. Chính đêm nay cha mường tượng thấy một điều: Muốn cảm hóa được lạc giáo, cần phải có những người nhiệt tình, hiểu và sống Tin Mừng, sẵn sàng ra đi, đối thoại và thuyết phục họ.

6/ Đi như người loan báo tin vui

Lửa nhiệt tình truyền giáo đã bùng lên trong cha Đa Minh đêm đó sẽ không bao giờ tắt nữa. Trong chuyến đi lần thứ hai (1205) để đón công chúa Đan Mạch, khi nghe tin công Chúa thất lộc (Nhiều người cho rằng công chúa vào tu trong đan viện), Giám mục Diego và cha Đa Minh hành hương Roma, xin đức thánh cha cho phép đi giảng cho người Cumans, Hồi Giáo. Trong ước muốn đảm nhận sứ vụ của Giáo Hội, hai vị đã tình nguyện đến những biên cương khó khăn nhất. Thế nhưng, tuân theo sự phân công của Giáo Hội, hai vị đã hy sinh ý định lớn lao, sẵn sàng phục vụ tại miền Nam nước Pháp.
Trở về Montpellier, một lần nữa hai vị được chứng kiến sự thành công của nhóm Cathares. Các đặc sứ Tòa Thánh, các đan sĩ hoạt động tại đây, hầu như đã thất vọng hoàn toàn. Hai vị liền để tâm nghiên cứu tình hình và nhận ra lý do thất bại. Các đặc sứ thì uy nghi lộng lẫy với đoàn tùy tùng đông đảo, còn phái Cathares thành công nhờ nếp sống nghèo khổ hạnh.
Nguồn gốc sâu xa của các nhóm lạc giáo khởi từ công cuộc canh tân đã khởi sự được hơn một thế kỷ. Giáo Hội đang sống trong thời đại canh tân, thường được gọi là cuộc canh tân Grêgoriô VII, vị giáo hoàng đã đẩy mạnh cuộc cải tổ này. Phong trào đã tìm thấy nguồn sinh lực gợi hứng từ Kinh Thánh và thời đại các Tông đồ để đáp lại những thách đố và lạm dụng như người ta thấy ngay trong nội bộ giáo sĩ : sự dốt nát, ù lì và thiếu khả năng để rao giảng.
Tìm cách thoát ra những tệ lạm này, một đàng nhờ các giáo sĩ nhiệt tình, đàng khác nhờ chính những giáo dân nỗ lực trở lại với đời sống đơn giản và nghèo khó của giáo hội tiên khởi. Họ lấy việc sống như các Tông đồ làm lý tưởng. Những vị giáo sĩ muốn canh tân này đã đề ra hình thức cụ thể để thực hiện lý tưởng của mình bằng lối sống tu trì tại các kinh sĩ đoàn. Họ nỗ lực đưa đời sống cầu nguyện và sứ vụ tông đồ vào lòng các đan viện. Số các Kinh Sĩ đoàn ngày càng gia tăng đã phát sinh nhiều cộng đoàn nổi tiếng như Prémontrée, Saint-Victor và tại Anh là nhóm Gilbertin.
Những tín hữu muốn tham gia cuộc cải tổ liên đới lại thành các huynh đệ đoàn sám hối, họ nhấn mạnh đời sống nghèo, hãm mình nghiêm ngặt và rao giảng. Vì quá nhiệt tâm, nhiều người trong họ đã đi đến sai lầm, họ đánh giá việc khó nghèo như các Tông đồ là điều kiện tiên quyết và tối cần để giảng thuyết và trao ban các bí tích thành sự. Nhưng dầu sao, nếp sống nghèo của họ hấp dẫn hơn với quần chúng.
Nhờ kinh nghiệm đã từng theo nếp sống giáo hội sơ khai tại kinh sĩ đoàn Osma, đức cha Diego và cha Đa Minh hăng hái cổ cõ các viện phụ rũ bỏ các hành lý cổng kềnh, để ra đi với đôi bàn tay trắng của Đức Kitô. Cần phải trở thành người loan báo tin vui chứ đừng làm kẻ chinh phục. Vị giám mục nói : "Xin quý ngài cho đoàn tùy tùng trở về, hãy đi từng hai người một theo gương các Tông đồ, Chúa sẽ chúc phúc cho những nỗ lực của quý ngài".
Hiến kế xong, hai vị làm ngay điều mình nói và các viện phụ đều theo ... "Mọi người nhận vị Giám mục làm người chỉ huy toàn chiến dịch. Tất cả bắt tay vào việc truyền bá đức tin, tự nguyện sống nghèo, đi chân đất và không mang tiền bạc... Các ngài chỉ giữ lại sách và một số vật dụng tối cần thiết"
Cha Đa Minh không quản ngại khó khăn vất vả. Mấy tháng liền Cha dành trọn ban ngày cho tha nhân và thức trắng đêm thờ phượng Chúa. Đặc biệt trong mỗi lần tranh luận, cha mời đối phương cử trọng tài. Sự tín nhiệm đó đã đem lại hiệu quả bất ngờ. Một lần kia, Chúa tỏ dấu xác nhận lời cha. "Ở Montréal, người Cathares không đốt nổi cuốn sách do cha viết". Đã đến lúc những hoạt động hăng say, lời giảng trìu mến kèm với dấu lạ cuốn sách không bị cháy, trỗ sinh hoa trái đầu mùa : một vài phụ nữ bỏ phái Cathares đến xin cha hướng dẫn.
Cảm hứng theo tổ chức của lạc giáo, vốn có các "tín nữ" yểm trợ đắc lực cho những nhà du thuyết, cha Đa Minh đã bố trí họ trong cộng đoàn Prouille, miền Fanjeaux nước Pháp, ngay trên địa bàn của lạc giáo. Tu viện Prouille trở thành cơ sở đầu tiên của nữ đan viện Đa Minh (1206). Dưới mái trường êm ấm đó, các chị học theo Chúa Cứu Thế hiền từ và khiêm nhượng trong lòng, luyện tập mở rộng tâm hồn, mong ước cho mọi người được ơn cứu độ ... Và dĩ nhiên, trước tiên cho những thân hữu lạc giáo sống quanh mình.
Năm 1207, Đức cha Diego phải trở về Osma để thu xếp công việc địa phận và qua đời tại đó. Chỉ còn cha Đa Minh với cái tên thân ái "Anh Đa Minh" vẫn tiếp tục rao giảng không mỏi mệt. Theo lời cha Jordano : "thỉnh thoảng có vài anh em đến chung sống với cha, nhưng chưa có ai khấn vâng lời".


7/ Tình yêu Chúa thúc bách tôi

Năm 1208, do thái độ cứng rắn, đặc sứ Pierre Castelnau bị sát hại. Đức Innocentê III mất kiên nhẫn, tuyên bố thánh chiến với Albigeois. Nhưng cha Đa Minh không tham gia cuộc chiến này. Ba tài liệu viết tay của ngài còn được lưu giữ, gồm một thư gửi các nữ đan sĩ và hai chứng từ cấp cho người Cathares trở lại. Con đường ngài chọn vẫn là cầu nguyện và rao giảng. Ngài nói : "chống kiêu ngạo bằng khiêm tốn, chúng ta hãy đi chân không đến gặp Goliát". Cha không tin vào vũ khí bạo lực mà tin vào những hòn sỏi nhỏ bé cộng với sự phù trì của Thiên Chúa.
Lần kia, khi khuyên một người lạc giáo trở về, cha nhận được câu trả lời bất ngờ : "Tôi không thể rời xa họ, vì tôi ăn nhờ ở trọ trong nhà họ". Cha Đa Minh vừa lúng túng vừa đau lòng vì không có gì để trợ cấp cho anh ta. Cuối cùng cha tìm ra giải pháp : tự bán thân mình để lấy tiền cứu anh khỏi hố thẳm tội lỗi.
Như vậy, cha Đa Minh muốn theo sát Đức Kitô, vì "không có gì cao quý bằng kẻ hiến mạng sống mình cho người mình yêu". Nhiều lần cha ước mơ làm nạn nhân của những tấn tuồng tử đạo khủng khiếp. Khi đối phương hỏi ngài có sợ bị bắt không? Ngài trả lời: "Nếu bắt được tôi, xin các anh đừng giết tôi ngay, hãy băm xác tôi ra thành trăm mảnh, xẻo tai cắt mũi, rồi để tôi nửa sống nửa chết hay muốn kết liễu thì tùy ý anh". Lần khác cha vui vẻ theo nhóm lạc giáo vào rừng gai, nhìn chân xước, máu chảy ngài nói "sám hối phải thế đó". Rồi cười thoải mái trước sự ngạc nhiên của họ.

8/ Chân dung nhà thuyết giáo

Cha Đa Minh thường chọn đi giảng ở Carcassone, vì ngài nói : "Ở Toulouse này tôi gặp nhiều người ca tụng, còn ở Carcas-sonne, mọi người chống lại tôi". Quả thế, tại vùng đó, đối phương sỉ nhục ngài đủ cách. Họ nhỗ nước miếng, ném bùn, nhét rơm vào áo rồi chế diễu. Như các tông đồ xưa, ngài sung sướng được chịu sỉ nhục vì Danh Chúa Kitô, kiên cường không lùi bước trước trở ngại đe dọa. Ngài bình thản tiếp tục hành trình, vui vẻ ca hát.
Viện phụ Guillaume de Pierre, một nhân chứng đương thời cho ta biết : "Đa Minh khát khao mãnh liệt ơn cứu rỗi các linh hồn ... Ngài hăng say rao giảng ngày đêm, trong nhà thờ, nơi nhà riêng, giữa cánh đồng và ngay trên đường đi. Ngài không ngừng công bố Lời Chúa, cổ võ anh em cũng làm như vậy, bao giờ cũng chỉ nói về Chúa. Ngài từ chối chức giám mục Conséran... Ngài âu yếm an ủi anh em bệnh tật, kiên nhẫn khích lệ những người nản chí. Ngài quảng đại tặng người nghèo mọi thứ mình có. Ngài không có giường nào ngoài nhà thờ, nếu không có nhà thờ, ngài ngủ ghế, ngủ đất, hoặc tháo nệm gia chủ trải để nằm trên trỉ giường. Bao giờ tôi cũng thấy ngài mặc áo chùng, vá trên vá dưới. Ngài luôn luôn mặc áo xấu nhất trong anh em. Ngài cổ võ người này kẻ khác sống đức tin và bình an"
Có lẽ từ năm 1213, cha Đa Minh phổ biến Kinh Mân Côi, khi đó còn dưới dạng thức đơn giản "Kính Mừng Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc hơn mọi người nữ". Nhóm Cathares vốn coi vật chất là điều xấu, họ không tin Chúa Giêsu nhập thể trong xác phàm và như thế họ cũng chối nhân tính đức Giêsu trên Thánh Giá. Lời kinh Mân Côi đơn sơ nhắc nhớ đến mầu nhiệm nhập thể và cứu độ, có sức tác động giúp suy niệm về cuộc sống, cuộc khổ nạn và vinh quang của Đức Giêsu, đưa nhiều người rời bỏ lạc giáo

Ghi chú : Theo những sử liệu chính xác, Pierre Alain de la Roche OP (1428-75) ở Bretagne là người ổn định chuỗi 150 với ba mùa Vui, Thương, Mừng như hiện nay. Kinh "Thánh Maria" cũng chuyển biến từ thế kỷ XIII và có dạng hiện nay do đức Pio V ấn định năm 1508. Kinh "Sáng Danh" cuối mỗi chục kinh, xuất hiện ở nhà thờ Đaminh Sopra Minerva tại Roma năm 1613. Thánh danh Giêsu và Maria được đức Urbano IV (1261-64) thêm vào.

Lm. Phanxicô X. Đào Trung Hiệu OP

Nguồn: http://www.daminhvn.com

Thứ Ba, 6 tháng 8, 2013

ĐỊA DANH LA VANG


 
I. ĐỊA DANH LA VANG

Có hai cách giải thích địa danh La Vang:
1. LA VANG = LA + VANG
"La Vang là tiếng kêu om sòm, thường người ta hay đặt tên chỗ này hay chỗ kia bằng cách lấy tên cái khe suối, cái cây cổ thụ hay tên người nào trước đó mà đặt tên chỗ. Song đây thì lấy tiếng La Vang mà đặt tên cũng lạ. La Vang là tiếng la, tiếng đuổi thú dữ. La Vang là tiếng rao truyền. La Vang là tiếng khi người ta đặng sự vui mừng quá bội, hoảng hốt mà kêu la, hay là tiếng quở trách. Tưởng rằng ý định đã xui cho người ta dùng tiếng La Vang mà đặt tên chỗ này cho ứng nghiệm về việc xảy ra bấy lâu nay và sau này nữa."[1]
"Tên La Vang là vì xưa ở nơi đó có nhiều cọp, xóm Trí Bưu vào làm chòi ở lại làm gỗ, vỡ đất nên đêm nào cũng đánh mõ, la lối để đuổi cọp. Vì thế xóm chung quanh nhà thờ gọi là La Vang...  Ban đêm phường La Vang không có sự thinh lặng. Đêm nào người ta cũng la lối om sòm, họ đánh mõ, đánh thùng rộn ràng để đuổi các thú dữ như heo rừng, voi, cọp... Từ rú xanh ra phá hoại khoai sắn, lúa... nên người ta gọi là phường La Vang."[2]
2. LA VANG = LÁ VẰNG
"Xóm La Vang xưa có vô số cây tên gọi 'Lá Vằng'. Các cây xung quanh như sim, tre, hóp... đều bị cây lá vằng leo đầy cả. Vì vậy tục danh kêu xứ đó là Lá Vằng. Lâu ngày nghe không rõ người ta đọc trại đi thành La Vang."[3]
“Khi hết cơn bắt đạo rồi thì bổn đạo Trí Bưu vào La Vang lập một phường gọi là xứ La Văng. Gốc tích tên La Văng trong bộ (địa bạ) Trí Bưu viết hai chữ Lá Vằng. Bởi vì chính nơi họ lập vườn Đức Mẹ và nhà thờ thì có cây lá vằng nhiều lắm, nên họ đặt tên là Lá Vằng, nhưng khi nói chuyện thì nói nhẹ tiếng nên ra La Vang..."[4]
Có lẽ cả hai cách giải thích trên đều dễ thương và dễ chấp nhận, nhưng xét trên bình diện khoa học cũng như tập quán dân gian thì cách giải thích thứ hai (La Vang = Lá Vằng) hợp lý hơn. Linh mục Philipphê Lê Thiện Bá luôn bảo vệ quan điểm này. Theo ngài nếu La Vang = La + Vang "thì trong bộ (địa bạ) Gia Long làng đã viết La Vang. Nhưng không, ngược lại làng đã viết Lá Vằng. Tại sao vậy? Là vì tại vườn Đức Mẹ có vô số cây  lá vằng. Lúc tôi còn đang năm, sáu tuổi (1896) vào La Vang hái hột lá vằng ăn đen cả miệng. Các cây xung quanh vườn Đức Mẹ như hóp, sim, tre... đều bị cây lá vằng leo đầy cả. Vì vậy mà tục danh kêu xứ đó là Lá Vằng. Lâu lâu kêu không rõ rồi ra La Vang cho dễ nói."[5]
Vả lại, một tập quán ngôn ngữ cần được lưu ý, ủng hộ quan điểm của Linh mục Philipphê Lê Thiện Bá, người Quảng Trị không nói La Vang mà nói La Văng.

II. NGUỒN GỐC LÀNG (THÔN) LA VANG
1. SỰ LIÊN HỆ GIỮA LÀNG CỔ VƯU VÀ LA VANG
Trong Ô CHÂU CẬN LỤC (1553) không thấy tên làng Cổ Vưu. Vì thế có thể quả quyết làng Cổ Vưu chỉ có thể được thành lập sớm nhất cũng vào thời kỳ Chúa Nguyễn vào Nam.
Thời kỳ Chúa Nguyễn mở mang Thuận Hóa, huyện Hải Lăng chia làm 5 tổng: Hoa La, An Thư, An Dã, An Khang, Câu Hoan. Tổng Hoa La có 19 xã, 2 phường, 1 thôn trong đó có tên Cổ Bưu, không có tên Lá Vằng.[6]
Từ năm Gia Long thứ tư (1805) đến năm Minh Mạng thứ mười sáu (1836), nhà Nguyễn cho lập địa bạ có quị mô và nhất quán trên toàn quốc. Bộ địa bạ này gọi là Bộ Gia Long hay Châu Bộ, vì được nhà vua phê chuẩn, đóng dấu son.
 Những năm đầu của thế kỷ XX, khi danh tiếng Đức Mẹ La Vang đã lừng lẫy, Linh mục (sau là Giám mục) Đ. Hồ Ngọc Cẩn đã dành nhiều thời gian tìm kiếm tư liệu địa bạ La Vang nhưng ngài quả quyết: "Làng La Vang hẳn thật là không có trong Châu Bộ..."[7]
Tuy nhiên, theo Linh mục Philipphê Lê Thiện Bá, một người quê quán Trí Bưu, rành rõi địa bạ Trí Bưu thì: "Khi hết cơn bắt đạo rồi thì bổn đạo Trí Bưu vào La Vang lập một phường gọi là xứ La Vang."[8]
Thật ra, hai quan điểm trên không hề chống đối nhau nếu "phường", "xứ" ở đây được hiểu đúng nghĩa của nó là phe, giáp, xóm, "là địa bàn dân cư do làng mới khai phá và ở cách xa làng."[9]
Vậy phường Lá Vằng có thể đã xuất hiện vào thời Gia Long quản tu địa bạ, nhưng không thể có địa bạ riêng vì chưa phải là đơn vị làng, mà chỉ là một xóm nằm chung trong địa bạ làng Cổ Vưu. 
2. LÀNG LA VANG BIỆT LẬP KHỎI LÀNG CỔ VƯU
Mãi đến thời Bảo Đại (1925 - 1945) làng La Vang mới xuất hiện trong DANH SÁCH XÃ THÔN TRUNG KỲ, theo đó phủ Hải Lăng chia làm 5 tổng: Cu Hoan, An Thơ, An Nhơn, An Thái và Văn Vân. Tổng An Thái có 20 xã (làng), trong đó có Cổ Bưu xã được đổi tên là Trí Bưu xã. Cùng tồng An Thái có La Văng xã[10]. Vậy, có thể xác định La Vang chỉ được biệt lập khỏi Cổ Vưu để trở thành đơn vị làng (thôn) vào thời vua Bảo Đại với tên gọi La Văng xã.
La Văng xã thuộc tổng An Thái, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Dưới chính thể VNCH, nền đệ nhất Cộng Hòa, chính phủ cho đổi đơn vị hành chánh “phủ" thành "huyện " (phủ Hải Lăng → huyện Hải Lăng), "tổng " thành "xã" (tổng An Thái → xã Hải Phú), "xã" thành "làng, thôn " (La Văng xã → làng La Vang).
Làng La Vang thuộc xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Dưới chính thể nền đệ nhị Cộng Hòa, chính phủ đổi đơn vị hành chánh "huyện” thành "quận". Cắt một phần đất quận Hải Lăng thành lập quận Mai Lĩnh.
Làng La Vang thuộc xã Hải Phú, quận Mai Lĩnh, tỉnh Quảng Trị.
Sau 30.04.1975, chính phủ lâm thời CHMNVN đổi đơn vị "quận " thành "huyện " như cũ. Quận chỉ dùng ở thành phố lớn. Trả quận Mai Lĩnh về huyện Hải Lăng. Đồng thời dựa vào tình hình thực tế, một số thôn làng được nhập chung, trong đó La vang được nhập chung với Phú Long, gọi tên mới là thôn Phú Long. La Vang trở lại thời kỳ trực thuộc.
La Vang thuộc thôn Phú Long, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Ngày 01.05.1976, chính phủ CHXHCNVN cho nhập ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên thành tỉnh Bình Trị Thiên. Đồng thời cho nhập hai huyện Triệu Phong, Hải Lăng thành huyện Triệu Hải.
La Vang thuộc thôn Phú Long, xã Hải Phú, huyện Triệu Hải, tỉnh Bình Trị Thiên.
Ngày 30.06.1989, chính phủ CHXHCNVN cho tách tỉnh Bình Trị Thiên làm ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
La Vang thuộc thôn Phú Long, xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
3. LA VANG – VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
La Vang nằm ở trung độ của hình thể nước Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Cách thành phố Huế 58 cây số về hướng Bắc. Cách thành Dinh Cát cũ 10 cây số về hướng Nam. Cách thị xã Quảng Trị 6 cây số về hướng Nam Tây Nam. Cách làng Trí Bưu 7 cây số về hướng Tây Nam. Cách quốc lộ la hơn 2 cây số về hướng Tây.




III. CÂU CHUYỆN LA VANG XUẤT PHƯỜNG[11]
1 TỪ Ý ĐỊNH TỐT CỦA CỤ NGUYỄN HỮU BÀI...
Cụ Nguyễn Hữu Bài - vị đại ân nhân của giáo phận Huế, người con cưng quý của Đức Mẹ La Vang và các thánh Tử Đạo Việt Nam - luôn thao thức về một La Vang lớn lao nhằm tôn vinh Đức Mẹ, xứng đáng với nơi Đức Mẹ hiện ra. Theo cụ Bài, đã đến lúc La Vang phải trở thành Trung Tâm Thánh Mẫu Quốc Gia Việt Nam và Đông Dương.
Muốn thế, La Vang phải là một đơn vị độc lập cả về chính quyền lẫn giáo quyền, không như hiện nay, dù đã phát triển mọi mặt, La Vang vẫn lệ thuộc hoàn toàn vào Trí Bưu.
Vấn đề chỉ có thể giải quyết tốt đẹp nếu La Vang được "xuất phường " .
Vả lại, rút kinh nghiệm từ sự thành công đáng tự hào về làng Phước Môn - một trong "ngũ phước" của cụ - từ một vùng đất hoang vu, rừng thiêng nước độc trước đây nay đã trở thành làng mạc trù phú và giáo xứ phồn thịnh có cha sở trông coi. Phước Môn lại giáp ranh La Vang, nếu hai đơn vị này nhập chung thì nhà Mẹ sẽ lớn hơn, thuận lợi hơn trong kế hoạch phát triển. Vấn đề còn lại là làm sao được sự đồng thuận của làng Trí Bưu.
Chủ ý "xuất phường " của cụ Bài được số đông giáo dân La Vang ủng hộ. Cha sở Phước Môn Mathêô Nguyễn Thanh Bạch cũng ủng hộ. Cha Bạch vừa là người hoạch định giỏi, vừa là người rất thân tình với hoàng đế Khải Định sẳn lòng giúp đỡ. Vì thế năm 1922, đại diện La Vang là hai ông Lê Văn Quế (anh ruột cha PX Lê Văn Định) và Lê Hưng, cùng là người Trí Bưu cư ngụ ở La Vang đệ đơn xin xuất phường gởi Bộ Hộ, mà người đứng đầu bấy giờ không ai khác hơn là cụ Nguyễn Hữu Bài. Mọi việc tường như quá dễ dàng!
Nhưng phía Trí Bưu thì hầu như không ai đồng ý chuyện xuất phường cả, bởi không chỉ vì La Vang là đất đai mà tiền nhân họ đã khai phá, là nơi có ruộng vườn mồ mả tổ tiên họ, mà còn vì ở đó Đức Mẹ đã hiện ra với cha ông họ. Rõ ràng là Đức Mẹ muốn con cái Trí Bưu phụng tự Mẹ, nay Mẹ chưa từ bỏ con mà con nỡ nào từ bỏ Mẹ! Nên nhớ Trí Bưu đã là làng toàn tòng từ năm 1895.
Biết được tin giáo dân La Vang gởi đơn lên Bộ xin xuất phường, lý trưởng Trí Bưu kiêm trùm hạt Dinh Cát Lê Thiện Hiển cùng các chức sắc làng Trí Bưu vội vã đến gặp cha sở của mình nhờ giúp đỡ. Cha Lemasle (cố Lễ - sau làm Giám mục) sợ mang tiếng thiên vị không muốn can dự, vì giáo dân Trí Bưu hay giáo dân La Vang đều là con chiên của ngài cả. Lại nữa, hơn ai hết, ngài biết đây là một vụ kiện mà chân lý thuộc về cả hai bên. Mới nhìn tưởng đây là vụ tranh chấp đất đai thông thường, nhưng thực chất là sự tranh chấp quyền được phụng tự Đức Mẹ tại nơi mà Đức Mẹ đã chọn để hiện ra. Tuy nhiên, trách nhiệm của một Linh mục quản xứ không cho phép ngài làm ngơ trước một sự kiện có liên quan tới giáo xứ mình, ngài bèn viết thư cho cha sở Di Loan Cadière (cố Cả) nhờ giúp. Cố Cả vốn đã từng là cha sở Trí Bưu (1904 - 1911), ủng hộ lập trường của Trí Bưu, song ngài thấy không tiện ra mặt can thiệp, không muốn bênh ai bỏ ai vì bổn đạo Trí Bưu hay bổn đạo La Vang đều là cựu con chiên của ngài cả. Vì vậy cố Cả bèn dạy cha phó Di Loan là cha Philipphê Lê Thiện Bá can thiệp giúp đỡ làng Trí Bưu.
Cha Philipphê Lê Thiện Bá vốn là người Trí Bưu, biết rõ ngọn nguồn đất đai Trí Bưu và La Vang. Ngài lại là một nhà nghiên cứu, nắm trong tay đầy đủ chứng từ địa bộ, bằng khoán ruộng đất của cả hai nơi. Trong đơn từ và chứng lý trình Bộ ngài ghi rõ: "Làng (Trí Bưu) vào phở đất (La Vang) đặng 40 mẫu thục điền, trong 120 năm. Còn ngoài làng chỉ có 50 mẫu mà dân đông. Bấy lâu dân làng cũng ăn ruộng phần trong La Vang và cày cấy trong ấy."
Đơn từ xong xuôi, hai ông Lê Đình Thoại (thường gọi là ông xã Thoại), cựu lý trường Trí Bưu và ông Lê Thiện Hiển (chú ruột cha Lê Thiện Bá), đương chức lý trưởng, ra Di Loan nhận về rồi theo trình tự nộp lên tỉnh, tỉnh chuyển lên Bộ. Bộ đồng ý theo đơn không phê việc "xuất phường".
Ít lâu sau, việc "xuất phường" lại rộ lên ở La Vang. Có người bày kế cho phường La Vang kiện lên Bộ nói rằng 40 mẫu thục điền ở La Vang hiện có là do cha ông họ khai phá, đúng lẽ phải là ruộng tư của họ, không biết vì lý do gì trước kia làng (Trí Bưu) lấy, biến thành ruộng công? Nay họ là con cháu xin được thừa kế 40 mẫu ruộng tư ấy.
Nhận đơn, trong Bộ tưởng thật không cần kiểm tra đã cho "xuất phường ". La Vang đang chuẩn bị cho một đơn vị hành chánh mới ra đời. 
Cha Phihpphê Lê Thiện Bá hay tin tức tốc vào Trí Bưu, xin lý trưởng Lê Thiện Hiển là chú ruột ngài mở hòm hồ sơ địa bộ ra coi thì phát hiện 40 mẫu thục điền ấy là đất đai của nhiều người Trí Bưu khai phá trước kia, kẻ bảy tám sào, người đôi ba mẫu... Tất cả cộng lại được 40 mẫu. Chủ sở hữu của 40 mẫu
ruộng ấy đã đồng thuận cúng lại cho làng.
Nắm chắc chứng lý, ngài làm đơn khiếu nại để làng gởi lên Bộ, trong đó ngài ghi đầy đủ tên tuổi người cúng, ngày tháng năm cúng, sơ đồ vị trí ruộng cúng….
Nhận được đơn khiếu nại Bộ chưa tin hẳn, gởi thông tư ra làng yêu cầu làng bổ sung châu bộ và các giấy tờ liên quan của người cúng ruộng. Làng lục tìm đủ bằng chứng đem vào trình Bộ. Bộ cho là đầy đủ chứng lý, rút lại quyết định "xuất phường La Vang". Đồng thời cho điều tra, bắt giam mấy người ở La Vang đứng đơn xin xuất phường về tội man khai, nhưng chỉ giam cảnh cáo mươi ngày chi rồi tha.
Lần thứ hai làng Trí Bưu thắng kiện. Năm 1924, bề trên địa phận cho khởi công xây dựng ngôi nhà thờ lớn La Vang. Toàn thể giáo dân Trí Bưu không phân biệt làng (Trí Bưu) hay rú (La Vang) đều nhiệt liệt hưởng ứng, quên đi chuyện “xuất phường", tập trung sức lực cho công cuộc xây dựng đền thờ Đức Mẹ.
2. …ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ
Năm 1925 vua Khải Định băng hà, hoàng tử Vĩnh Thụy mới 12 tuổi đang du học ở Pháp chưa thể về chấp chánh được, chính phủ Nam Triều thành lập Hội Đồng Phụ Chánh đảm đương công việc chính phủ. Cụ Nguyễn Hữu Bài đương chức Lại Bộ kiêm Hộ Bộ thượng thư, là một trong tứ trụ đại thần, quyền tương đương thủ tướng.
Ấp ủ hoài bão kiến thiết thánh địa La Vang trở thành Trung Tâm Thánh Mẫu Quốc Gia, xứng đáng với nơi Đức Mẹ hiện ra, cụ Bài không thể không nghĩ đến việc "La Vang xuất phường". Nhưng phải xuất làm sao có được sự đồng tình của dân làng Trí Bưu?
Cụ Bài với tư cách đồng hương, đồng đạo cho mời lý trưởng Trí Bưu Lê Thiện Hiển vào tư dinh để trao đổi. Cụ phân tích lý lẽ La Vang cần phải được "xuất phường" thì việc kiến thiết nhà Mẹ mới thuận lợi. Nếu vì việc xuất phường mà làng Trí Bưu bị thiệt hại thì cụ sẽ đền bù, không chỉ là 40 mẫu thục điền ở La Vang mà cụ sẽ cho lại hàng trăm mẫu đất tư của cụ ở Phước Môn, giáp ranh La Vang, hoặc đất đai ở bất cứ đâu trong phần tư hữu của cụ, nếu làng muốn.
Lý trưởng Lê Thiện Hiển bị đặt trước tình thế tiến thoái lưỡng nan. Một bên là ý nguyện chính đáng của bậc trưởng thượng muốn kiến thiết nhà Mẹ, một bên là tâm nguyện dân làng muốn được đích thân phụng tự Mẹ. Biết làm sao bây giờ? ông lễ phép:
- "Thưa cụ, con sợ... Con sợ..."
Cụ Bài hỏi lại:
- “Mi sợ chi ? Mi sợ ai ? Mi không tin cụ có đủ quyền hành sao ? Hay là mi sợ chức mi nhỏ cụ sẽ cho mi thăng chức thăng quyền ? Làm ông Tổng, ông Huyện, cụ cho ?..." 
- "Dạ thưa cụ, đây không phải vì chuyện đất đai hay chức quyền, mà con sợ vì rõ ràng xưa kia Đức Mẹ đã hiện ra với người Trí Bưu trên đất Trí Bưu. Chúng con tin rằng đó là ý Mẹ muốn người Trí Bưu gần gũi phụng tự Mẹ. Bây giờ Mẹ chưa rời bà con mà con đã tính chuyện từ bỏ Mẹ. Điều này làm cho chúng con ray rứt lo buồn lắm! Thưa cụ, con sợ... Con sợ... Thà có lệnh vua phép nước chia cắt La Vang khỏi Trí Bưu thì chúng con đành chịu, như xưa kia cha ông chúng con đã từng bị chặt đầu moi ruột, còn nếu bảo thuận tình cho việc chia cắt La Vang ra khỏi Trí Bưu thì chẳng khác chi tự cầm dao cắt lìa tứ chi mình. Việc đó chúng con không làm được."[12]
Nghe thế, cụ Bài tỏ vẻ không bằng lòng, nhưng cảm phục chí ý của người trưởng làng, trường hội giáo trung kiên. Năm 1932 vua Bảo Đại về nước chấp chánh. Một thời gian sau, chính phủ thiết lập lại nền hành chánh, phân chia lại lãnh thổ và địa giới thôn làng, theo đó: "Các đơn vị hành chánh thuộc làng (phường, xóm, giáp, phe...) ở cách xa làng mõ đánh không tới, trống đánh không nghe, lửa cháy không thấy..., khi hữu sự không tiếp cứu được nhau thì cho phép xuất phường.
"Vì thế trong DANH SÁCH XÃ THÔN TRUNG KỲ, Trí Bưu và La Vang tách biệt thành hai đơn vị hành chánh cơ sở: Trí Bưu xã và La Văng xã, cùng thuộc tổng An Thái, phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.
Dù không nói ra nhưng trong thâm tâm có lẽ nhiều người nghi ngờ về tác động của cụ Bài với chính phủ Nam triều, hay với tân hoàng đế Bảo Đại. Chính cha Philipphê Lê Thiện Bá cũng đã viết trong hồi ký : "Bất đồ cụ Bài xin vua ra luật..."
Thật ra, kể từ khi vua Bảo Đại về nước chấp chánh thì cụ Bài vì tuổi già sức yếu đã dâng sớ xin về hưu. Ngày 02.05.1933, dưới áp lực của toàn quyền Pasquier, người không ưa gì tư tưởng tự chủ của cụ Bài đã buộc hoàng đế Bảo Đại ký sắc dụ số 29, có đoạn: "Kể từ nay là ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ 8 triều Bảo Đại, chính ta để cho Quận công Nguyễn Hữu Bài, Hiệp tá Võ Liêm, Tôn Thất Đàn, Phạm Liệu, Vương Tứ Đại về hưu. " Lúc ấy cụ Bài đã 70 tuổi. Hai năm sau (1935) cụ qua đời.
La Vang xuất phường đã rõ là chuyện phép vua, luật nước, dân làng Trí Bưu chẳng nuối tiếc gì chuyện công điền công thổ như cha Philipphê Lê Thiện Bá đã viết trong hồi ký: "Chúng tôi thua, ngồi cười với nhau", nhưng Trí Bưu chỉ nuối tiếc là không đành xa Mẹ, liền gởi đơn khiếu nại lên Bộ: "Chúng tôi thuận tình theo luật nước việc xuất phường La Vang, vì làng xa bảy cây số. Nhưng yêu cầu Bộ xét cho chúng tôi được giữ lại vườn Đức Mẹ và nhà thờ Đức Mẹ La Vang. Hai nơi này là của làng chúng tôi nên chúng tôi quyết không nhượng."
Nhận được đơn khiếu nại, Bộ tư ra rằng: "Vườn Đức Mẹ và nhà thờ Đức Mẹ La Vang không phải là của riêng làng Trí Bưu hay phường La Vang mà là của chung toàn quốc. "
Cả La Vang và Trí Bưu đều thỏa mãn về cách xử công minh của Bộ.


IV. SỰ, HÌNH THÀNH HỌ ĐẠO LA VANG
1. TỪ XÓM ĐẠO LÁ VẰNG ĐẾN GIÁO XỨ LA VANG
+ XÓM ĐẠO LÁ VẰNG
Căn cứ vào bản phúc trình của cha Lorensô Lâu, cha sở tiên khởi Dinh Cát gởi Thánh Bộ Truyền Giáo thì: "Ngày 08.01.1691 trong cuộc viếng thăm các họ đạo vùng Dinh Cát tôi đã tới thăm họ Cổ Vưu. Số giáo dân ở đây gồm có 120 người. Phần đông số giáo hữu họ này đi làm rú, không có mấy người ở nhà…"[13]
Nếu hiểu "rú " đây là rú La Vang thì giáo dân Cổ Vưu đã có mặt ở La Vang từ trước cuối thế kỷ XVII. Theo thói quen giữ đạo ở nước ta, hễ nơi nào có dăm mười người công giáo thì thường vào buổi tối thế nào họ cũng họp nhau đọc kinh chung: Xóm đạo La Vang được định hình.  
+ HỌ NHÁNH LA VANG
Năm 1866, Đức cha Sohier Bình mở cuộc kinh lý toàn địa phận. Ngài chỉ thị các Linh mục quản xứ lập báo cáo gởi về Tòa Giám Mục. Dựa vào đó, tháng 08.1867 Đức cha chia địa phận Huế ra làm 26 địa sở với 108 họ đạo. Tại Quảng Trị có 13 địa sở, 58 họ đạo, chia làm 3 hạt: Đất Đỏ, Bái Trời và Dinh Cát. Hạt Dinh Cát có 35 họ đạo, chia ra 6 địa sở: Nhu Lý, Đại Lộc, Bố Liêu, Nhất Đông, Nhất Tây và Cổ Vưu. Cổ Vưu với 5 họ đạo: Cổ Vưu, Hạnh Hoa, An Đôn, Ba Lòng và Ngô Xá[14]. Không có tên họ đạo La Vang.
Đến năm 1874 "cha sở Gioan Đoạn Trinh Khoan coi địa sở Cổ Vưu và các họ nhánh: Linh địa La Vang, Hạnh Hoa, An Đôn, Ba Lòng, Ngô Xá[15]. Và Cha Gioan Khoan chỉ làm quản xứ Cổ Vưu một năm (1874), qua năm 1875 cha Anrê Trần Văn Doãn đến thay."[16]
Như vậy họ nhánh La Vang có lẽ được thành lập vào năm 1874 dưới thời Đức cha Sohier Bình. Họ nhánh La Vang trực thuộc địa sở Cổ Vưu, hạt Dinh Cát, giáo phận Huế.
+ GIÁO XỨ LA VANG
Đức cha Caspar Lộc là người đã vén bức màn La Vang sau gần một thế kỷ im hơi lặng tiếng, với ngôi nhà thờ ngói đấu tiên khánh thành vào dịp Đại Hội La Vang 1. Nhưng La Vang thời Đức cha Caspar Lộc cũng chỉ là một họ nhánh, một địa điếm hành hương, chưa hội đủ điều kiện để trở thành một giáo xứ.
Năm 1928, sau khi khánh thành ngôi nhà thờ lớn La Vang, Đức cha Allys Lý nhận thầy số giáo hữu hành hương La Vang ngày một đông. Họ muốn được dâng lễ, rước lễ, xưng tội, chầu Mình Thánh Chúa… Vả lại, để nhà Mẹ bớt hoang vu, cần phải có số đông giáo hữu đến định cư bên Mẹ . Điều này sẽ trở nên dễ dàng nếu ở La Vang có Linh mục quản xứ. Vì vậy, năm 1928 Đức cha Allys Lý thành lập giáo xứ La Vang, tách từ giáo xứ Cổ Vưu đồng thời bổ nhiệm Linh mục Phaolô Võ Văn Thới (1878 - 1904 - 1932) làm quản xứ. Đây là cha sở tiên khởi giáo xứ La Vang.
Đáng tiếc, ngày 02.11.1932, cha Phao lô Thới lâm bệnh qua đời. Họ đạo La Vang trở lại thời kỳ họ nhánh thuộc giáo xứ Trí Bưu.
Năm 1943, Linh mục Giacôbê Nguyễn Linh Kinh ra La Vang dưỡng bệnh. Năm 1946 ngài chính thức được bổ nhiệm quản xứ La Vang. La Vang trở lại đơn vị giáo xứ thuộc hạt Dinh Cát, giáo phận Huế.
+ LA VANG CHÍNH VÀ CÁC GIÁO XỨ LA VANG ĐỊNH CƯ[17]
Năm 1954 giáo dân di cư vào Nam tương đối đông. Tại La Vang, ngoài tu viện MTG Di Loan còn có bốn giáo xứ đến định cư bên Mẹ:
• Cha sở An Bằng Phêrô Trần Văn Điển đưa giáo dân di cư, lập giáo xứ La Vang Hữu với 1402 giáo dân.
• Cha sở An Ninh GB Trương Đình Thắng đưa giáo dân di cư, lập giáo xứ La Vang Tả với 817 giáo dân.
• Cha sở Cổ Hiền GB Bửu Đồng đưa giáo dân di cư, lập giáo xứ La Vang Thượng với 1751 giáo dân.
• Cha sở Ba Ngoạt Phêrô Trương Văn Thiên đưa giáo dân di cư, lập giáo xứ La Vang Trung với 1200 giáo dân.
Giáo xứ La Vang chính và bốn giáo xứ La Vang định cư đều thuộc hạt Dinh Cát, giáo phận Huế.
Năm 1960, ĐGH Gioan XXIII ban phép thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam với 3 tổng giáo phận Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Tổng giáo phận Huế được chia làm 3 tổng hạt[18], 9 hạt[19]. Giáo xứ La Vang chính và 4 giáo xứ La Vang định cư đều thuộc hạt Cát Nam, tổng hạt Dinh Cát, tổng giáo phận Huế.



2. TỪ GIÁO XỨ LA VANG ĐẾN TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC LA VANG
+ HỘI ĐỒNG GlÁM MỤC MIỀN NAM VỚI TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC LA VANG.
Ngày 13.04.1961 tại Huế, Hội Đồng Giám Mục Miền Nam gồm giáo tỉnh Huế và giáo tỉnh Sài Gòn đã đồng thanh quyết định chọn La Vang làm TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC. Kèm theo quyết định này HĐGMMN cũng đã chọn thánh đường La Vang làm ĐỀN THỜ TOÀN QUỐC KHẤNG DÂNG TRÁI TIM VÔ NHIỄM ĐỨC MẸ.
Ngày 22.08.1961, ngày cuối cùng của Đại Hội La Vang 15, Đức cha Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục, Tổng Giám mục Huế đã long trọng tuyên bố quyết định ngày 13.04.1961 của HĐGMMN: "Kể từ nay La Vang là nhà của Mẹ, đất của Mẹ, là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc."
+ HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM VỚI TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC LA VANG
Ngày 01.05.1980 tại Hà Nội, lúc 09 giờ, trong phiên họp toàn thể, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đồng thanh biểu quyết chấp thuận La Vang là TRUNG TÂM THÁNH MẪU TOÀN QUỐC…
Sau khi đồng thanh biểu quyết, toàn thể các Đức Giám mục đã đứng lên hát bái Salve Regina rất cảm động.


[1] Bài Diễn thuyết ĐỨC MẸ VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM của linh mục Phan Phát Huồn. CSsR (Dẫn bút tích của cụ Phước Môn Quận Công Nguyễn Hữu Bài ngày 18.02.1925). Ns. ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP. Số 119. Tháng 04.1959. Tr.106
[2] Bài giảng về ĐMLV của Đức cha Hồ Ngọc Cẩn ngày 15.08.1932. Sách ĐỨC MẸ LA VANG (Lm Lê Văn Thành). Cứu Thế Tùng Thư.1955
[3] SỬ KÝ TỈNH QUẢNG TRỊ. Bản đánh máy. Ngày 26.08.1963. Tr.47
[4] TỰ TÍCH LA VĂNG. Bản hồi ký viết tay của Lm Philipphê Lê Thiện Bá. Tài liệu gia đình của ông Lê Thiện Sĩ
[5] Bài diễn thuyết ĐỨC MẸ VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM của Lm Phan Phát Huồn. CSsR (Dẫn bài viết của Lm Philipphê Lê Thiện Bá).Ns. ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP. Số 119. Tháng 04.1959. Tr. 106
[6] LÊ QUÍ ĐÔN TOÀN TẬP. Hà nội 1977. Tr.80
[7] Bài LA VANG TỰ TÍCH của Lm Đ. Hồ Ngọc Cẩn.Tb NAM KỲ ĐỊA PHẬN.Số 1036.Ngày 28.02.1929. Tr.119
[8] TỰ TÍCH LA VĂNG. Bản hồi ký viết tay của Lm Philipphê Lê Thiện Bá. Tài liệu gia đình của ông Lê Thiện Sĩ
[9] Kiến giải chữ phường trong phường Lá Vằng của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh,giảng viên khoa ngữ văn trường Đại Học Sư Phạm Huế
[10] DANH SÁCH XÃ THÔN TRUNG KỲ. Bản đánh máy. Tr.53
[11] Nội dung từ bài ”TỰ TÍCH LA VANG”, hồi ký chép tay của Lm Philipphê Lê Thiện Bá. Tài liệu gia đình của ông Lê Thiện Sĩ.
[12] Đoạn này trích nguyên văn từ tài liệu gia phả Lê Thiện Tộc, trong tài liệu gia đình của ông Lê Thiện Sĩ.
[13] Dẫn lại LINH ĐỊA LA VANG (Lm Sta. Nguyễn Văn Ngọc). Tr.33
[14] Xem và đối chiêu LỊCH SỬ GIÁO PHẬN HUẾ. Tập II. Tr.106
[15] Lm Sta. Nguyễn Văn Ngọc. LINH ĐỊA LA VANG. Tr. 49
[16] TIỂU SỬ CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN HUẾ. Cuốn 1. Tr.108
[17] Lm Sta. Nguyễn Văn Ngọc.LINH ĐỊA LA VANG.Tr.91
[18] Tổng hạt Bên Bộ, tổng hạt Bên Thuỷ và tổng hạt Dinh Cát.
[19] Hạt Bộ Bắc, hạt Bộ Trung,hạt Bộ Nam, hạt Thuỷ Bắc, hạt Thuỷ Biển, hạt Thuỷ Nam, hạt Cát Bắc, hạt Cát Trung, hạt Cát Nam.

(Nguồn: tonggiaophanhue.net)