Thứ Ba, 2 tháng 5, 2023

Tư liệu lịch sử - 10 Trận Đánh Đẫm Máu Trong Chiến Tranh Việt Nam.

 Tư liệu lịch sử - 10 Trận Đánh Đẫm Máu Trong Chiến Tranh Việt Nam.

Biên khảo - Hoài Nguyễn
--------------------------------
Sau cuộc chiến tranh Đông Dương giữa người Pháp và Việt Minh, kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ mà người Pháp thua trận, theo Hiệp định Genève 1954, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền với hai thể chế chính trị khác nhau. Miền Bắc với tên gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa theo phe cộng sản để xây dựng CNXH từ bắc bờ vĩ tuyến 17 còn miền Nam với quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa thuộc khối thế giới tự do phương Tây, kiến thiết đất nước theo nền kinh tế tự do.
Trong khi miền Nam vừa lo tái thiết phần đất của mình sau cuộc chiến tranh 9 năm thì miền Bắc có chủ trương “tái thống nhất” hai miền Nam Bắc bằng con đường bạo lực, chiến tranh và đương nhiên sẽ biến miền Nam theo con đường mà miền Bắc đã chọn!
Thời kỳ đầu từ năm 1954 đến đầu năm 1960, miền Nam được hưởng không khí thanh bình sau cuộc chiến tranh Việt - Pháp, mặc dù đây đó ở những vùng nông thôn đã bắt đầu xuất hiện các hoạt động của các cán bộ cộng sản nằm vùng cùng vũ khí do miền Bắc cài cắm và chôn dấu bí mật nhằm gây dựng cơ sở cho các kế hoạch lâu dài của họ.
Từ năm 1955, chính quyền miền Bắc tiếp tục chi viện người và vũ khí cho phong trào bí mật ở miền Nam nhằm làm “cách mạng” lật đổ chính quyền miền Nam. Càng ngày những hoạt động lúc đầu là tuyên truyền chính trị, vận động quần chúng theo họ, sau này những lực lượng vũ trang ngày càng phát triển mạnh và rộng khắp chủ yếu ở những vùng nông thôn và cũng chỉ áp dụng chiến thuật du kích chiến, đánh những trận nhỏ lẻ chưa có qui mô lớn về chiến trường và gây thương vong nhiều cho cả hai phía.
Lợi dụng sự bất ổn về mặt chính trị trong xã hội miền Nam vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm trong đó các giáo phái đòi ly khai, một số quân nhân làm đảo chính, Phật giáo đấu tranh …nên chính quyền miền Bắc gia tăng chỉ đạo những hoạt động từ chính trị kết hợp với quân sự ở miền Nam mà cao điểm là ngày 20/12/1960, tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTDTGPMN) ra đời với lực lượng quân sự phát triển ở qui mô lớn, thực hiện những chiến thuật mạnh hơn như vận động chiến, công kiên chiến gây nhiều khó khăn cho quân đội VNCH khi tiểu trừ.
Đến đầu năm 1961, lực lượng quân sự của MTDTGPMN được tăng cường thêm binh sĩ thâm nhập từ miền Bắc, được trang bị vũ khí tốt hơn do khối cộng sản viện trợ so với quân đội VNCH nên cục diện chiến trường đã có nhiều thay đổi, qui mô trận đánh lớn hơn đã lên đến cấp Trung đoàn, Sư đoàn và số thương vong của binh sĩ hai bên đã lên đến con số ngàn …
Như vậy nếu lấy mốc cuộc chiến tranh Việt Nam từ ngày 01/11/1955 và kết thúc vào ngày 30/4/1975 thì trong 20 năm của cuộc chiến này, ngoài những trận đánh nhỏ lẻ theo kiểu du kích, khủng bố với số thương vong không nhiều thì theo thống nhất của các nhà Quân sử của nước ngoài cũng như hai miền Nam Bắc Việt Nam, có thể gom lại thành “Top” 10 trận đánh có qui mô lớn mà thiệt hại thương vong có thể gọi là những trận đánh “đẫm máu” nhất.
Tất nhiên còn có những trận nổi tiếng khác như Đồng Xoài, Bình Giã, Ba Gia, Sa Hùynh, Hành quân sang Campuchia, Hạ Lào … có những thiệt hại thương vong khá lớn nhưng những trận đánh đó chỉ xét ảnh hưởng về mặt chiến thuật, chưa tạo những khúc quanh trong đường lối chiến tranh.
Trong phạm vi bài viết này, sau khi tham khảo một số nguồn tài liệu trong cũng như ngoài nước, tôi chỉ đưa ra những trận đánh theo mốc thứ tự thời gian của chiều dài cuộc chiến, không đánh giá “thắng – thua” bởi vì khái niệm này có tính chất ước lệ, vì thực tế có khi kết thúc trận đánh, phương tiện thông tin tuyên truyền bên nào tham chiến cũng cho rằng “ta thắng – địch thua” khi căn cứ vào “số xác chết thu dọn trên chiến trường”, số “chiến lợi phẩm thu được” …
Việc này đánh giá “thắng – thua” theo qui mô chiến thuật, các bạn có thể tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác để biết thêm.
Có 10 trận đánh đáng chú ý trong suốt chiều dài 20 năm của cuộc chiến tranh Việt Nam như sau:
1. Trận Ấp Bắc - 1961
Ngày 28/12/1961, tình báo Mỹ phát hiện có một lực lượng binh sĩ lớn của miền Bắc thâm nhập vào làng Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy tỉnh Mỹ Tho.
Đầu tháng 01/1963, quân đội VNCH có các cố vấn Mỹ, sử dụng các đơn vị của sư đòan 7, đơn vị Bảo an, và thực hiện chiến thuật Thiết vận xa, Trực thăng vận. Theo đánh giá của các nhà quân sự thì trong trận này về mặt quân sự quân đội VNCH bị thất bại và sau trận đánh này, người Mỹ có ý định thay đổi chiến lược của cuộc chiến mà lúc đầu họ can thiệp chỉ với vai trò cố vấn và hỗ trợ cho quân đội VNCH.
2. Trận Pleiku – 1965
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ 1964, Mỹ lấy cớ Bắc Việt Nam gây hấn khi cho ngư lội đỉnh tấn công tàu chiến Mỹ ngoài hải phận quốc tế nên cho máy bay ném bom miền bắc, buộc Liên Xô phải tham gia. Để trả đũa, miền Bắc cho quân tăng cường xâm nhập và tấn công các căn cứ do Mỹ thiết lập để cung cấp phương tiện chiến tranh, huấn luyện cho binh sĩ miền Nam.
Ngày 06/02/1965, một tiểu đòan của Bắc Việt Nam tấn công trại Holloway, một cơ sở máy bay trực thăng của Mỹ ở Pleiku và ngày 07/02, một tiểu đòan khác tấn công một căn cứ quân đội VNCH.
Lấy lý do này, Tổng thống Mỹ Johnson quyết định cho quân đội trực tiếp tham chiến với sự mở màn chiến lược chiến tranh này là tháng 3/1965, hai Lữ đòan TQLC Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, bắt đầu cho một sự leo thang chiến tranh khi sau đó tiếp tục đổ quân Mỹ tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam.
3. Trận Vạn Tường – 1965
Căn cứ vào tin do một đào binh miền Bắc cung cấp cho rằng quân đội Bắc Việt Nam sẽ tấn công vào căn cứ Chu Lai, nằm ở phía nam Đà Nẵng xuất phát từ thôn Vạn Tường, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cách căn cứ này của quân đội Mỹ 17 km, phía Mỹ chủ động tổ chức cuộc Hành quân với tên gọi Starlite (Đúng ra Đại tá P. Wyckoff chỉ huy cuộc hành quân Don đặt tên cho chiến dịch là Satellite nhưng khi kế hoạch của sư đoàn được đánh máy thì máy phát điện bị hỏng, thư ký phải đánh máy dưới ánh đèn cầy nên đã đánh sai thành Starlite. Lỗi này được phát hiện vào sáng sớm ngày hôm sau nhưng không còn thời gian để sửa đổi nữa)
Trong trận này, quân Mỹ hoàn toàn chủ động tổ chức hành quân, lựa chọn chiến trường, đối tượng, thời gian và cách đánh, tập trung lực lượng đông theo chiến lược “tìm và diệt” đối phương và có ưu thế tuyệt đối về binh khí kỹ thuật, nhưng quân Bắc Việt Nam đã biết vận dụng cách đánh “tiếp cận” bám sát đội hình quân Mỹ nên phần nào làm ảnh hưởng tác dụng của yểm trợ phi pháo cho quân Mỹ.
Đây là trận đánh quy mô đầu tiên giữa quân đội Mỹ và Quân đội Bắc Việt Nam trên bộ, diễn ra từ ngày 08/8/1965 và kết thúc vào ngày 24/8 khi quân đội Bắc Việt Nam rút chạy.
4. Trận Ia Drang – 1965
Đây là trận đánh lớn đầu tiên giữa quân đội Mỹ và Bắc Việt Nam vào năm 1965. Trong tháng 10/1965, quân Bắc Việt Nam tấn công trại Lực Lượng Đặc Biệt Pleime của Mỹ dùng huấn luyện các binh sĩ lực lượng đặc biệt người Việt. Quân đội Mỹ đưa ra ba đơn vị phản công để cắt các đơn vị Bắc Việt Nam để họ rút lui sang Campuchia và tiêu diệt các đơn vị chính qui của Bắc Việt.
Trận đánh tại thung lũng Ia Drang là một phần của giai đoạn thứ hai từ ngày 14 đến 18/10 khi quân Bắc Việt Nam tung ra một cuộc tấn công biển người vào các lực lượng Mỹ đổ bộ từ trực thăng gần các căn cứ sát biên giới. Bắc Việt Nam thay vì sử dụng chiến thuật du kích thông thường của họ, nay họ đã áp dụng chiến thuật đánh tiếp cận quân Mỹ nhằm làm hạn chế sự yểm trợ hỏa lực phi pháo cho lính Mỹ. Quân Bắc Việt Nam đã bị đánh bật ra và mặc dù có số thương vong cao, hai bên đã tuyên bố chiến thắng.
5. Trận Khe Sanh – 1968
Vào ngày 21/01/1968, Quân Bắc Việt Nam pháo kích dồn dập vào căn cứ đồn trú TQLC Mỹ tại Khe Sanh rồi sau đó tiếp tục vây gây sức ép lên căn cứ này đến tháng 9/1968 thì quân Mỹ rút bỏ lại Khe Sanh.
Đây là lần đầu tiên quân Bắc Việt Nam cho xe tăng của họ tham chiến, sử dụng tên lửa phòng không do Liên Xô viện trợ nhằm kềm hảm sức mạnh không yểm của người Mỹ.
Đây cũng là một chiến dịch nhằm thực hiện kế “Dương Đông Kích Tây”, làm phân tán sự chú ý của các nhà quân sự Mỹ và VNCH để một thời gian sau đó, vào dịp tết Mậu Thân 1968, đồng loạt nổ ra một trận Tổng Công Kích lên các tỉnh thành miền Nam mà mục tiêu của miền Bắc là quyết tâm “ giải phóng miền Nam” vào năm này.
6. Trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân – 1968
Nhằm tạo một sự bất ngờ trong chiến thuật, mặc dù hai bên tham chiến cam kết ký hưu chiến trong dịp Tết Mậu Thân 1968 nên phía VNCH cũng như Mỹ bị phân tán bởi cuộc chiến ở Khe Sanh, hoàn toàn bất ngờ khi đêm mùng 1 Tết Mậu Thân ( 30/01/1968), lực lượng Bắc Việt Nam và MTDTGPMN đã ém quân và bất ngờ đồng loạt tấn công trên 100 thị trấn, thị xã và thành phố của tòan lãnh thổ VNCH, nặng nề nhất là Thủ đô Sài Gòn của miền Nam và Cố đô Huế.
Cuộc tấn công này kéo dài cho đến 28/3/1968 và phe Bắc Việt Nam bị thiệt hại nặng nề dù chủ động “tấn công bất ngờ”. Sau dịp tết, cuộc tấn công vẫn được phe Bắc Việt Nam thực hiện cho đến giữa năm thì kết thúc với số tàn quân phải rút về dưỡng thương và trốn tránh bên đất Campuchia.
Tuy thất bại về mặt chiến thuật nhưng miền Bắc Việt Nam đã có một “chiến thắng lớn” về tâm lý và ngoại giao, làm rúng động nước Mỹ và thúc đầy phong trào phản chiến ngay tại nước Mỹ.
Cũng thấy được những hạn chế về mặt trang bị vũ khí cho quân đội VNCH nên ngay trong trận Mậu Thân, tòan bộ những đơn vị chủ lực của quân đội VNCH đã được viện trợ và trang bị những vũ khí mới hơn những vũ khí họ sử dụng có từ thời Thế chiến II chống trả những vũ khí tối tân do khối cộng sản viện trợ cho quân miền Bắc trước đó nhiều năm liền.
7. Trận Hamburger Hill – 1969
Sau khi bị quân đội Mỹ và VNCH đánh bại trong trận Tổng Công Kích Tết Mậu Thân, một số đơn vị chính qui của Bắc Việt Nam rút lui và chạy về cố thủ một quả đồi có cây bao phủ thuộc núi A Bia, tỉnh Thừa Thiên.
Một lực lượng quân đội Mỹ và VNCH được lệnh tấn công quả đồi có tên quân sự là cao điểm 973 bắt đầu từ ngày 10/5 đến 20/5/1969 để loại bỏ hai tiểu đòan quân chính qui Bắc Việt Nam.
Trận đánh diễn ra chủ yếu bằng bộ binh phía Mỹ và VNCH có sự yểm trợ của hỏa lực phi pháo nhưng vấp sự kháng cự của quân Bắc Việt cố thủ nhờ vào các địa thế hiểm trở và thời tiết khắc nghiệt khiến hạn chế hỏa lực phi pháo.
Phía quân Mỹ và VNCH đã chiếm được ngọn đồi sau 10 ngày tấn công dữ dội và mức thương vong cao đến mức lính Mỹ gọi ngọn đồi này là “Hamburger Hill - Đồi Thịt Băm”.
Sau khi chiếm được ngọn đồi, thay vì bảo vệ nó, quân Mỹ được lệnh rút lui, gây ra sự phẫn nộ và tiếp tục làm xói mòn sự ủng hộ cho chiến tranh.
8. Trận Mùa Hè Đỏ Lửa – 1972
Cuối tháng 3/1972, nhằm gây áp lực lên phía Mỹ và VNCH tại Hội nghị Paris nhằm giải quyết chiến tranh, từ ngày 30/01/1672 đến 31/01/1973, liên tiếp phía Bắc Việt Nam mở chiến dịch Xuân – Hè 1972 mà phía VNCH gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa (tên một ký sự chiến trường của nhà văn quân đội VNCH Phan Nhật Nam), còn Mỹ gọi là Easter Offensive.
Trong tòan bộ cuộc chiến này diễn ra ở 4 chiến trường chính là Trị Thiên, Bắc Cao Nguyên, Đông Nam Bộ, và Tây Nam Bộ.
Chiến trường khốc liệt nhất là Quảng Trị, Kontum và Bình Long với quân số tham gia lên cấp sư đoàn, quân Bắc Việt Nam sử dụng những vũ khí tối tân nhất mà họ có như xe tăng, pháo tầm xa, tên lửa phòng không để bao vây và tấn công những đơn vị trú phòng nơi đây chủ yếu là quân đội VNCH.
Quân đội Mỹ lúc đó đã ngưng các hoạt động tác chiến trên bộ, chỉ còn yểm trợ quân đội VNCH kháng cự các đợt tấn công của quân Bắc Việt Nam bằng hỏa lực phi pháo.
Cuộc chiến kết thúc vào 22/10/1972 và quân đội VNCH đã tái chiếm được các thị xã Quảng Trị, Kontum, An Lộc nhưng cũng mất khỏang 10% lãnh thổ ở những vùng giao tranh và đó chính là sự mặc cả của Bắc Việt Nam tại Hội nghị Paris.
Cuối năm 1972, vào dịp lễ Giáng sinh, Tổng thống Nixon đã ra lệnh oanh tạc Thủ đô Hà Nội, thành phổ cảng Hải Phòng như để trả đũa cho việc miền Bắc tấn công ồ ạt qua bờ vĩ tuyến và chiếm giữ một số vùng lãnh thổ của VNCH.
9. Trận Xuân Lộc – 1975
Sau khi Hiệp định Paris đã được 4 bên ký kết vào có hiệu lực từ ngày 27/01/1973, quân đội Mỹ và các nước đồng minh tham chiến tại Việt Nam lần lượt rút quân về nước. Viện trợ quân sự cũng như kinh tế cho VNCH bị giảm dần và đến đầu năm 1975 thì Mỹ cắt hẳn quân viện cho VNCH.
Trong khi ấy, miền Bắc tiếp tục nhận quân viện khổng lồ từ các nước cộng sản chủ yếu là của Liên Xô và Trung Quốc và chủ trương “giải phóng miền Nam”, miền Bắc tập trung quân đội, thiết bị khí tài chiến tranh nhằm thực hiện cú “dứt điểm” trong cuộc chiến kéo dài 20 năm.
Sau trận chiến khởi đầu tại Ban Mê Thuột vào ngày 10/3/1975, lần lượt các tỉnh Cao nguyên khác và duyên hải Trung phần rơi vào quân miền Bắc.
Ngày 09/4/1975, quân Bắc Việt Nam tiến vào cửa ngõ của thị xã Xuân Lộc nhưng bị sư đoàn 18 và một số đơn vị khác của quân đội VNCH chặn đứng và gây thương vong khá lớn cho quân Bắc Việt Nam.
Đây có thể xem là trận đánh đẫm máu lớn nhất và cuối cùng cho quân Bắc Việt Nam trước khi tấn công vào Sài Gòn.
10. Trận Chiến Cuối Cùng – Sài Gòn sụp đổ 30.4.1975
Khi Xuân Lộc cuối cùng cũng lọt vào tay quân Bắc Việt Nam, Thủ đô Sài Gòn của VNCH trong thế bị bao bao vây bởi một gọng kìm quân áp đảo của Bắc Việt Nam từ ba phía.
Ngày 21/4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và giao quyền hành lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương để tìm giải pháp chính trị thay cho quân sự.
Tuy nhiên phía miền Bắc khước từ những yêu cầu của chính phủ VNCH là liên tục tấn công áp sát vào bao vây Sài Gòn từ ngày 27/4, liên tục pháo kích vào Sài Gòn đến ngày 29/4.
Ông Trần Văn Hương từ chức và ủy nhiệm cho ông Dương Văn Minh làm “Tổng thống” để tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến và giảm bớt thương vong.
Trong những ngày cuối tháng 4/1975, người Mỹ cho rút tất cả nhân viên dân sự, quân sự cũng như thân nhân của họ, những người đã cộng tác với người Mỹ trong hơn 20 năm tồn tại chính thể VNCH ra khỏi Việt Nam.
Dòng người Việt di tản cũng hình thành trong những ngày tháng cuối tháng 4/1975 theo chân người Mỹ.
Trưa ngày 30/4/1975, “Tổng thống ủy nhiệm” Dương Văn Minh hạ lệnh cho các binh sĩ VNCH phải “hạ súng đầu hàng” quân Bắc Việt Nam…
Chính thể VNCH của miền Nam Việt Nam sụp đổ vào ngày 30/4/1975…
Hoài Nguyễn - 23/3/2016




Thứ Sáu, 28 tháng 4, 2023

LỊCH SỬ CŨNG BỊ BÓP MÉO.

Tranh công cả bức hình xe tăng "húc đổ" cảnh cổng Dinh Độc Lập!
Trong câu chuyện về bức hình xe tăng “húc đổ” cánh cổng Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975, nhiều tư liệu chứng cứ phân tích việc chiếc xe tăng của quân đội CSBV "húc đổ" là "dàn dựng" nhằm mục đích quay phim tuyên truyền, làm "Sử liệu Cách mạng"!
Ngoài ra các báo chí cả trong cũng như ngoài nước cũng rộ lên tranh cãi chuyện chiếc tăng nào, chiếc mang số 390 hay mang số 843 đã "húc đổ" cánh cổng trước? Ai là người đã "soạn thảo văn kiện đầu hàng" cho ông Dương Văn Minh đọc trên Đài Phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30/4/1975 - Đại úy Phạm Xuân Thệ hay Trung tá Bùi Văn Tùng? Dư luận bên "phe thắng cuộc" cũng tranh cãi ỏm tỏi một thời vì cả hai ông này đều cùng với phe của họ! Những chuyện này có thể lên Google tìm đọc nhòe cả con mắt!
Nhưng cái chuyện ai là người chụp bức ảnh chiếc xe tăng đã "húc đổ" cảnh cổng Dinh Độc Lập thì mới đáng buồn... cười!
Các bài viết đăng trên báo chí nước ngoài, các hồi ký của các "nhân vật lịch sử" có mặt tại Dinh Độc Lập thời khắc cuối cùng của Chính quyền VNCH vào tháng Tư năm 1975 và nhất là sáng ngày 30/4 rất ít, ngoài các vị trong thành phần "nội các" Dương Văn Minh - Vũ Văn Mẫu, còn một ít ký giả, phóng viên báo chí ngoại quốc đa số là các nước phương Tây (nhưng không có người Mỹ vì đã ra đi trước 8 giờ sáng 30/4) đã đến Sài Gòn trước đó để săn tin. Và họ hiện diện tại Dinh Độc Lập có lẽ do lời mời và bố trí của "nội các 2 ngày" này để đưa tin tường thuật trung thực về "lễ bàn giao" chính quyền VNCH cho Chính phủ Cách mang Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN) theo như tính toán nước cờ chính trị của ông Dương Văn Minh và những "thế lực chống lưng"!
Theo bài viết của nhà báo Huy Đức của "Bên thắng cuộc" để gọi là "tưởng niệm" Dân biểu VNCH Nguyễn Văn Binh đã từ trần hôm 28/2/2023 thì: (trích)
"Sáng 30/4/1975, sau khi tuyên bố “bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”, Đại tướng Dương Văn Minh cùng các ông Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Văn Huyền đi từ số 7 Thống Nhất [nay là đường Lê Duẩn] về Dinh Độc Lập.
Trong thời gian đó, tướng Nguyễn Hữu Hạnh mang Tuyên bố “Bàn giao Chính quyền” của Tổng thống Dương Văn Minh và Chỉ thị “buông súng” của Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh sang phát trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Khi tướng Hạnh trở lại Phủ Thủ tướng [7 Thống Nhất] thì nơi đây đã hoàn toàn vắng lặng. Lúc ấy, ông Minh và gia đình đã vào Dinh Độc Lập.
Đến Dinh Độc Lập, ông Nguyễn Hữu Hạnh thấy cổng Dinh mở, không lính gác. Đại tướng Dương Văn Minh có ý chờ “bàn giao chính quyền”.
Nhưng vì cửa mở, một xe Jeep và một xe GMC đầy lính vũ trang của tiểu đoàn Lôi Hổ (thực tế là một đơn vị Biệt Cách Dù của Thiếu tá Phạm Châu Tài) chạy vào trước thềm Dinh đòi gặp ông Minh. Họ muốn chất vấn ông Minh vì sao lại “bàn giao” trong khi nhiều người còn đòi “tử thủ”. Sau khi được khuyên nhủ là “không nên để cho máu đổ ở giờ thứ 25”, họ rời đi.
Lúc đó là 10 giờ 45 phút ngày 30/4/1975.
Ít phút sau khi hai xe vũ trang của tiểu đoàn Lôi Hổ đi ra, Trung tá Nguyễn Văn Binh đã cẩn thận đóng cổng Dinh Độc Lập lại.
Nếu không có hành động này của Trung tá Nguyễn Văn Binh thì lịch sử đã không có cảnh “húc đổ cổng Dinh Độc Lập” [Chiếc tăng 843 đi theo đường Thống Nhất từ Sở Thú tới trước rồi dừng lại trước cổng phụ trong khi xe tăng 390 tới sau, nhưng hùng dũng húc đổ cổng chính Dinh Độc Lập, cánh cửa cuối cùng của cuộc chiến]." (hết trích)
Trong bài viết của Huy Đức, theo tôi nghĩ có lẽ là tương đối trung thực và cho thấy lúc đó trừ một số đơn vị tỏ ra uất ức (như Biệt Cách Dù) buộc phải buông súng, bị ông "Tổng thống 2 ngày" Dương Văn Minh "tước quyền chiến đấu", làm cho họ bị gãy súng vào "giờ thứ 25" thì những đơn vị phòng vệ Dinh Độc Lập hầu như không có chút đề kháng nào khi nghe lệnh "Tổng Tư lệnh" chất đống vũ khí của họ trước đài phun nước trong Dinh, nghĩa là buộc toàn thể những người lính trong Dinh phải "bó giáp quy hàng"!
Nhưng hành động "hùng dũng" của chiếc xe tăng quân Bắc Việt tông (nhiều hơn là húc) vào cánh cửa chỉ khép hờ bởi ông Trung tá Bình, mang tính "biểu tượng" và hung hăng cho ra vẻ oai phong, chém gió chứ có ai chống cự lại đâu mà chẳng hùng với dũng! Hành động xe tăng "húc đổ" cánh cổng Dinh Độc Lập có vẻ giống với anh chàng Don Quijote của nhà văn Tây Ban Nha Miguel de Cervantes y Saavedra đi đánh nhau với ... cối xay gió!
Theo một lời kể từ trang HM Blog thì trong thời khắc đó:" Ngày 29/4/1975 ở cửa ngõ Sài Gòn, thấy đoàn xe tăng tiếng vào thành phố, nhóm Ninh là Chính trị viên Đại đội Đặc công 1, Tiểu đoàn 40, ngồi xe tăng thứ 5. Ninh được ngồi trên tháp pháo, cứ thế lao vào tận dinh Độc lập sáng hôm sau (30/4). Xe của Ninh tới Dinh Đôc Lập thì cổng sắt đã bị húc đổ từ trước. Đơn vị anh xuống sân, gom người trong đó, bắt cả phóng viên có ống kinh dài, trói và để ở sân cỏ vì nghi ống tele giống súng bắn tăng của Mỹ.
Do nhiều đơn vị vào đây nên lúc đó khá lộn xộn.
Nhóm đặc công của anh biết anh Phạm Duy Đô, Quyền Đại đội trưởng Đặc công, Tiểu đoàn 19, đoàn 116, mang theo lá cờ.
Anh Đô cầm cờ vào dinh, gặp nội các Dương Văn Minh đang ngồi trong sảnh. Họ tất cả bật dậy, nói chuyện bàn giao, nhưng anh Đô nói “các ông phải đầu hàng” và quay ra xin chỉ thị cấp trên. Chuyện sau đó như báo chí đã mô tả mà Ninh là một nhân chứng....
Xem phim thời sự đen trắng do phóng viên nước ngoài quay thời điểm lịch sử đó sẽ thấy trên nóc dinh Độc Lập có hai lá cờ vẫy, một lá của anh Bùi Quang Thận và ít ai biết rằng lá kia của anh đặc công Đô.
Phim thời sự có cảnh xe tăng húc đổ cổng dinh là diễn lại, lúc đó có ai quay được đâu. May nữ nhà báo Pháp Francoise Demulder có mặt trong thời khắc ấy ghi lại được hình ảnh chiếc tăng 390 đã húc đổ cổng chính nên bớt đi sự tranh cãi “ai vào trước”. " (hết trích)
Một số tài liệu cho thấy ngoài nữ nhà báo Pháp Francoise Demulder, nhà báo Tây Đức Börries Gallasch, phóng viên NBC Jim Laurie chụp hình và viết bài, còn có phóng viên người Úc Neil Davis là người duy nhất quay được những thước phim có giá trị vào thời điểm đó... (Neil Davis đã thiệt mạng khi nỗ lực ghi hình lại một cuộc đảo chính tại Thái Lan.)
Qua những nguồn tư liệu mà tôi tìm đọc được, có lẽ chúng ta hiểu ra vấn đề là việc "húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập" chỉ là hành động thừa, mang tính biểu tượng chiến thắng, đầy tính hung hăng, bạo lực khi vào giờ phút cuối cùng của VNCH, sức đề kháng là bằng 0, và ông Dương Văn Minh đang "huyễn hoặc" chính ông sẽ là người "đàm phán, thương thuyết, bàn giao..." chính quyền mới nhận 2 ngày trước đó cho lực lượng quân sự Bắc Việt Nam (mà ông cho là binh lính CHMNVN) đang tiến vào Sài Gòn từ các hướng!
Nói về chuyện bức ảnh chiếc xe tăng "húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập" lại "lòi ra" một nhân vật muốn đi vào lịch sử để "xí phần" là mình đã chụp được "bức hình lịch sử" đó!
Từ trang kimanhl.blogspot.com có bài viết " Bức ảnh gây nhiều tranh cãi" mà xin trích một phần sau đây cho mọi người tham khảo:
"Phóng viên Trần Mai Hưởng, nguyên Tổng Giám đốc Thông Tấn xã Việt Nam, được biết là tác giả của bức ảnh lịch sử "Xe tăng quân giải phóng húc sập cổng Dinh Độc ngày 30 tháng Tư năm 1975", khi đó ông 23 tuổi, là một trong những phóng viên miền Bắc có mặt đầu tiên tại Sài Gòn chứng kiến giây phút có giá trị lịch sử lớn lao nầy.
Ông tường thuật rằng: "Tôi đưa máy ảnh lên như một bản năng và nhãn quan của người phóng viên để kịp ghi lại một cách chân thật nhất trong trận chiến lịch sử của quân đội ta."
Vào ngày 29/04/75, Trần Mai Hưởng đẩy xe Honda qua đèo Hải Vân. Vậy bằng cách gì trưa ngày 30 tháng Tư năm 75 ông có mặt tại Sài Gòn để có thể chụp bức ảnh nầy. Với hoàn cảnh giao thông cách đây gần 50 năm (Đèo Hải Vân - Sài Gòn cách nhau 873 kí-lô-mét).
Tiếp theo, đến năm 1995, với bằng chứng đưa ra: Khoảnh khắc chiếc xe tăng húc đổ cổng chính của dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 chỉ có một người duy nhất chụp được đó là nữ nhà báo Pháp Françoise Demulder.
Hay nói cách khác: Các bức ảnh xe tăng húc sập cổng Dinh Độc Lập, tượng trưng cho chế độ Sài Gòn sụp đổ được Việt Nam công bố sau năm 75 là ảnh dàn dựng, ảnh giả.
Phần ông Trần Mai Hưởng đã "nổ" vì ông không nghĩ có một sự thật với bằng chứng đã nằm yên 20 năm mới chịu "khui" ra. " (hết trích)
Lịch sử là những sự kiện xảy ra trong quá khứ và cần lưu truyền lại cho thế hệ tương lai những điều trung thực khách quan nhất thì con cháu chúng ta mới có thể ngẩng mặt mà tự hào...
Tuy nhiên vẫn còn có nhiều những tham vọng cá nhân, mắc chứng bệnh háo danh thành tích nên đã cố tình làm sai lệch lịch sử, thậm chí "đổi trắng thay đen", ngụy tạo, tự đánh bóng tên tuổi mình bằng nhiều thủ đoạn có thể là rất hèn hạ và lưu manh! Chung quy cũng chỉ vị "lợi và danh" mặc dù biết rằng "lợi bất cập hại" và "danh cũng chỉ là hư ảo"!
Sự dối trá nào rồi cũng như cây kim gói trong bọc! Lâu ngày rồi cũng sẽ lòi ra và lúc đó thì hậu quả của sự dối trá, lừa đảo, nhất là lịch sử, chắc ai cũng hiểu...
Hoài Nguyễn - 28/4/2023
*Clip kèm theo là bức hình do Nữ Phóng viên ảnh người Pháp Francoise Demulder và thước phim do Phóng viên Úc Neil Davis thực hiện vào thời khắc trưa ngày 30/4/1975.
Nguồn bài viết: Hoài Nguyễn.



Thứ Năm, 27 tháng 4, 2023

VỀ THĂM LỊCH SỬ

 Trần Trung Đạo

VỀ THĂM LỊCH SỬ
Anh sẽ đưa em về thăm Hà Nội
Cả đời anh chưa được một lần qua
Mộng Hồ Gươm vằng vặc bóng trăng tà
Sâu thăm thẳm như lòng anh nhớ nước
Hỡi chiếc cọc Bạch Đằng Giang thuở trước
Hãy chờ tôi đừng vội cuốn ra khơi
Những rong rêu thành quách của muôn đời
Xin cố đứng dù trời đang nổi gió
Ta sẽ tới thăm khu Trường Giảng Võ
Tìm chiếc nỏ thần lưu lạc của Thục Vương
Đâu Mỵ Châu lông ngỗng trắng ven đường
Đâu Trọng Thủy tìm người thương muôn dặm
Ta sẽ ghé bến Bình Than một bận
Nơi ngày xưa ai bóp quả cam vàng
Trần Khánh Dư xuôi ngược chiếc thuyền than
Trần Thủ Độ đầu chưa rơi xuống đất
Em sẽ nhớ bao nhiêu người đã khuất
Nhớ Chương Dương mơ Vạn Kiếp, Thiên Trường
Có phải nơi nầy Trần Bình Trọng đầu rơi
Thà làm quỉ hơn làm vương đất bắc
Ta sẽ đợi bên bờ sông Thiên Mạc
Nhìn xa xa lửa dậy đất Thăng Long
Hưng Đạo Vương vung kiếm chỉ vào sông:
"Dẫu thịt nát thây phơi ngoài nội cỏ"
Em sẽ thấy gò Đống Đa còn đó
Nấm mồ hoang của hàng vạn quân Thanh
Vua Quang Trung oai dũng tiến vào thành
Chiếc áo ngự còn vương mùi khói súng
Ta sẽ đến Lam Sơn tìm dấu chứng
Nơi ngày xưa Nguyễn Trãi viết Bình Ngô
Rừng Chí Linh ai giả mặc long bào
Để được chết thay vua và thay nước
Anh sẽ đưa em đi dọc bờ sông Hát
Nơi nào đây Trưng Trắc đã trầm thân
Vẫn thấy lòng đau dù đã mấy nghìn năm
Vẫn tha thiết như nhớ người chị cả
Anh sẽ đưa em về qua Hưng Hóa
Ghé Phong Châu quì trước điện Vua Hùng
Dẫu lạc loài nơi cuối bể đầu non
Hồn con vẫn là hồn muôn năm cũ
Mỗi chiếc lá như còn nghe hơi thở
Mỗi cành cây như có một linh hồn
Ta sẽ về sống lại một lần thôi
Em sẽ khóc như chưa hề được khóc
Ta sẽ viếng đường Cổ Ngư bóng mát
Những chuyện tình đẹp nhất khởi từ đây
Nắng dịu dàng soi mặt nước Hồ Tây
Xin một chút hong khô màu mắt biếc
Ôi Lịch sử, một vầng trăng diễm tuyệt
Sáng trong anh nét đẹp của muôn đời.
Trần Trung Đạo
Có thể là hình ảnh về lâu đài
Tất cả cảm x

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2023

Miền Nam từng có một thời kỳ sáng dọi



 Miền Nam từng có một thời kỳ sáng dọi

Ý chí và nhiệt tâm kiến thiết quốc gia của người Việt từng có một giai đoạn sáng chói. Năm 1955, xuất phát điểm của miền Nam cũng gần tương tự miền Bắc. Sau khi Pháp rút, Việt Nam nói chung là một quốc gia nông nghiệp nghèo nàn, công nghiệp gần như bằng không, cùng với nhiều cái “không” khác, từ hệ thống giáo dục, chăm sóc y tế đến quản trị hành chính. Miền Nam đã xây dựng tất cả từ bàn tay trắng theo đúng nghĩa đen.
Chỉ trong 5 năm, từ 1955-1960, miền Nam đã lột xác với công cuộc kiến thiết toàn diện, bằng các chính sách dinh điền, xây dựng thủy nông, lập khu kỹ nghệ, phát triển điện lực, thiết lập hệ thống giao thông, khai thác tài nguyên khoáng sản, xây dựng hệ thống ngân hàng… Đó là “5 năm vàng son” như cách nói của giáo sư Nguyễn Tiến Hưng trong “Khi đồng minh nhảy vào” (cơ sở xuất bản Hứa Chấn Minh 2016). “5 năm vàng son” đã tạo nền tảng cho sự phát triển miền Nam trong 15 năm sau đó.
Trong khi “Kế hoạch Ngũ niên I” (1957-1961) tập trung việc xây dựng canh nông (lập khu dinh điền; thu xếp nơi sinh sống cho đồng bào di cư miền Bắc…), ngư nghiệp, công kỹ nghệ, công chánh, điện lực, khoáng sản…, “Kế hoạch Ngũ niên II” (1962-1966) nhấn mạnh việc gia tăng mức sống người dân và đặc biệt chú trọng đến giáo dục, y tế, xã hội và lao động. Khu kỹ nghệ Biên Hòa được xây trong thời gian này (theo sắc lệnh ký ngày ); tiếp đó là khu kỹ nghệ Phong Dinh (1967). Ngày 1-4-1961, công trình thủy điện Đa Nhim được khởi công; nửa tháng sau, nhà máy xi măng Hà Tiên ra đời… Trong lĩnh vực công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp dệt, đồ hộp, thủy tinh, nhựa dẻo, lắp ráp cơ khí… phát triển rất mạnh. Đến năm 1968, miền Nam đã có 85 hãng dược, sản xuất 2.203 dược phẩm, chiếm 70% thị phần, với nguyên vật liệu chủ yếu trong nước.
Năm 1950, hệ thống giao thông miền Nam gần như chẳng có gì. Sài Gòn và các vùng ven đô vẫn còn nhiều con đường bụi đất mịt mù với những chiếc thổ mộ ngang dọc lọc cọc. Chỉ vài năm sau, xe đò đã có thể chạy bon bon trên đường nhựa về lục tỉnh. Ngày 7-8-1954, hơn một năm trước khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Tổng thống nền Đệ nhất Cộng hòa, công cuộc tái thiết đường hỏa xa xuyên Việt (Sài Gòn-Đông Hà, 1.223 km) đã hoàn thành, chạy qua các tỉnh dọc bờ biển Trung Phần với các nhánh nối nhiều thành phố lẫn các khu kỹ nghệ (Kỳ Lâm-Nông Sơn; Diên Trì-Qui Nhơn, Tháp Chàm-Đà Lạt; Mường Mán-Phan Thiết…).
Các phương tiện giao thông khác cũng nhanh chóng phát triển. Niêm giám thống kê Việt Nam 1970 cho biết “chiều dài tổng cộng các đường xe là 20.896 cây số”; và theo Bộ Công Chánh, riêng Đô Thành Sài Gòn, có 7.400 xe taxi; 2.440 xích lô máy; 7.500 xích lô đạp; 3.100 xe lam; 464 xe ngựa; 60 xe buýt; và toàn miền Nam có khoảng 1 triệu xe gắn máy đủ loại (dưới 50 cc)… Hệ thống hải cảng và giang cảng phát triển mạnh đặc biệt thời ông Diệm, khi mà các cuộc tấn công của “cộng quân” còn yếu và hạn chế. Trong những năm trước 1963, trung bình hàng năm các giang cảng trên đồng bằng Cửu Long chuyển vận về giang cảng Sài Gòn khoảng 800.000 tấn hàng hóa (lúa gạo, trái cây, than củi, nông thủy sản…).
Trong “Hiện-tình kinh-tế Việt-Nam” (quyển hai; NXB Lửa Thiêng 1972), tác giả Nguyễn Huy (giảng viên Đại học Văn Khoa, Đà Lạt, Vạn Hạnh) cho biết: “Năm 1937, phi trường Tân-Sơn-Nhất chỉ có một đường bay duy nhất bằng đá đỏ, dài 1.500 m chiều Bắc Nam, rồi đến Đệ nhị Thế Chiến mới có thêm đường bay Đông Tây dài 1.300 m… Đến năm 1954, Nha Căn Cứ Hàng Không của chính phủ Việt-Nam phụ trách phần kiến tạo và kiện toàn hệ thống phi trường quốc gia để phục vụ cho hàng không dân sự… Việt-Nam Cộng-Hòa đã kiến tạo được một hệ thống phi trường quá đầy đủ đứng đầu Đông-Nam-Á với tổng số lối 500 phi trường lớn nhỏ; (trong đó có) 8 phi trường quốc tế có đường bay dài trên 2.500 m tiếp nhận được các loại phi cơ DC 28 trở lên” (nđd, trang 72-74). Tân Sơn Nhất trở thành bãi đáp của nhiều hãng hàng không quốc tế, từ Air France, China Airlines (Đài Loan), Pan American World Airways, đến Cathay Pacific Airways… Tháng 10-1951, Công ty Hàng Không Việt Nam được thành lập với 50% vốn Việt Nam và 50% vốn Air France. Phi đội Hàng Không Việt Nam có 22 phi cơ, từ loại nhỏ như Cessna đến loại to như Boeing 727.
Đáng nói nhất của một thời “sáng dội miền Nam” (lấy theo tên một tạp chí nổi tiếng trước 1975) là chính sách giáo dục. Về đầu tư cơ sở giáo dục, năm 1957, Viện Đại học Sài Gòn được thành lập (trước 1954, miền Nam không có đại học; muốn học cử nhân phải ra Hà Nội), với 8 phân khoa (văn khoa, luật khoa, y khoa, dược khoa, nha khoa, khoa học, sư phạm và kiến trúc). Viện Đại học Sài Gòn có hai ký túc xá (đại học xá Minh Mạng cho nam sinh viên và đại học xá Trần Quý Cáp cho nữ). Các vị khoa trưởng không do Bộ giáo dục bổ nhiệm mà được bầu từ các giáo sư hội đồng khoa. Các giáo sư Viện Đại học Sài Gòn đều là những tên tuổi lớn: Cao Văn Chiểu, Trần Quang Đệ, Lê Xuân Khoa, Vũ Văn Mẫu… Ngoài ra còn có Viện Đại học Huế (1957), nơi in bóng linh mục Cao Văn Luận; hoặc Viện Đại học Vạn Hạnh (1965), nơi tập trung những nhà triết học trí tuệ vô song (Thích Minh Châu, Phạm Công Thiện, Trí Hải, Lê Mạnh Thát, Tuệ Sĩ…).
Việc “dựng người” được chú trọng từ cấp tiểu học. Trẻ được dạy cách khiêm tốn, trung thực, lễ phép và tôn kính (thậm chí cúi chào một anh học trò học “cao” hơn chỉ một lớp). Chủ trương giáo dục hoàn thiện nhân cách bên cạnh việc dạy chữ có thể thấy rõ ở chính sách giáo dục cộng đồng. Nghị định 2463-GD/PC/NĐ ngày 25-1-1969 của Bộ giáo dục đã yêu cầu “tất cả các trường tiểu học trên toàn quốc” (VNCH), kể từ niên khóa 1969-1970, phải áp dụng chương trình cộng đồng hóa. Trong quyển “Giáo dục cộng đồng” (Bộ giáo dục và Trung tâm học liệu xuất bản 1971), nhóm soạn thảo viết:
“Trường Cộng-đồng vừa giáo-dục học-sinh vừa hướng-dẫn dân-chúng công-cuộc giáo-dục của học-đường chỉ có thể đạt được kết-quả tốt đẹp nếu học-sinh, khi bước chân ra khỏi trường không thấy những điều trái ngược với lời Thầy giảng-dạy. Cho nên việc giáo-dục ở nhà trường phải đi đôi với việc cải-tạo hoàn-cảnh ở bên ngoài… Trường Cộng-đồng hướng-dẫn học-sinh tự tìm tòi, học-hỏi đồng-thời phát-triển tinh-thần học tập-thể và dân-chủ: để tránh lối học từ-chương nhồi sọ, học-sinh trường Cộng-đồng luôn luôn được hướng-dẫn quan-sát địa-phương để tự tìm hiểu những vấn-đề liên-quan đến chủ-điểm giáo-dục” (nđd, trang 25). Ban soạn thảo cũng nhấn mạnh đây là phương pháp giáo dục “đặt trên căn bản 3 nguyên tắc chính: dân tộc, nhân bản và khai phóng”.
Miền Nam trong suốt 1955-1975 chưa bao giờ bình yên. Làng quê lẫn đô thị liên tục xảy ra những vụ “một xe Lambretta ba bánh bị trúng mìn trên hương lộ 10, Long An: 13 hành khách chết, 2 bị thương” (11-3-1965); hoặc “lựu đạn giấu trong ổ bánh mì, nổ tại đường Ngô Quyền, Sài Gòn: 2 quân-nhân Mỹ và 6 người Việt bị thương” (19-3-1965) – như được thuật trong “Việc từng ngày-1965” của Đoàn Thêm. Nhưng khói lửa chiến tranh và những giọt nước mắt “khóc người tiền phương” vẫn không làm mất đi sự tươi đẹp của làng quê, sự lạc quan của dân chúng và sự an bình trong xã hội lẫn gia đình. Điều đó thể hiện trong các sáng tác văn học, thi ca, và âm nhạc. Không chỉ thịnh vượng ở vật chất, con người cũng giàu lòng nhân ái và dạt dào tình yêu quê hương.
“Năm 1960, Đài Loan còn là Formosa, Singapore chưa ra đời, sản xuất chính của Thái Lan chỉ có gạo, những mái nhà ở Đại Hàn toàn màu đỏ vì người dân phơi đầy ớt để làm kim chi” – tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng nhắc lại (trong “Khi đồng minh nhảy vào”). Đó là thời điểm mà Mao đang đưa Trung Quốc trở về “thời kỳ đồ đá” bằng kế hoạch “Đại nhảy vọt”. Miền Nam VNCH đã đi trước và tạo khoảng cách rất xa với các nước khu vực. Điều đó cho thấy rằng, việc kiến thiết quốc gia không dễ nhưng không phải quá khó. Kiến thiết quốc gia không dùng sức mạnh của sự tàn phá ngu dốt. Nó dùng năng lượng kết tụ của trí tuệ và sự nhiệt tâm.
*Mạnh Kim - Nhà báo tự do
Kèm theo là cuốn video clip những hình ảnh về một Sài Gòn trước năm 1975.



Thứ Ba, 18 tháng 4, 2023

CHUYỆN TÌNH SAU 2 PHẦN MỘ TRONG NHÀ THỜ

 CHUYỆN TÌNH SAU 2 PHẦN MỘ TRONG NHÀ THỜ


HAI PHO TƯỢNG, VỢ TRƯỚC MỘ CHỒNG VÀ CHỒNG TRƯỚC MỘ VỢ
Hai bên hông thánh đường nhà thờ Hạnh Thông Tây (Gò Vấp, SG) nổi bật lên trước mắt mọi người những pho tượng đầy giá trị nghệ thuật và vô cùng sống động.
Từ ngoài vào, phía bên trái là bức tượng người phụ nữ quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy tấm bia mộ. Đầu bà để trần, tóc búi cao, đầu hơi chếch hướng vào ngôi mộ phía sau.
Chiếc áo dài trên người bà bình dị. Trên cổ bà đeo sợi dây chuyền có mặt ngọc, dưới chân mang dép mũi hài…
Tượng trông như người thật khiến tôi ngẩn ngơ. “Anh có biết pho tượng này là ai không?”. Tôi quay người nhìn lại, đó là một cụ già.
Cụ cho biết, người phụ nữ ôm tấm bia là bà Trần Thị Thơ. Bà Thơ là vợ ông Lê Phát An – người nằm trong ngôi mộ phía sau. Từ đây nhìn thẳng sang phía đối diện, một người đàn ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối.
Trước gối quỳ có đặt bó hoa. Ông có ria mép và đôi mày rậm. Hai bàn tay ông không chấp lại mà lại đan vào nhau. Nét mặt ông thành kính, đôi mắt nhìn vào tấm bia như muốn thì thầm trò chuyện.
Người đàn ông ấy là ông Lê Phát An và người trong nấm mộ chính là vợ ông, bà Trần Thị Thơ. Cả hai pho tượng đều được làm bằng đá cẩm thạch trắng và mộ bằng đá hoa cương.
Tác giả của 2 ngôi mộ và 2 pho tượng này là hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp là A.Contenay và Paul Ducuing. Hai ông đã thể hiện đầy đủ nét đặc trưng miền Nam qua chân dung của ông bà Lê Phát An.
Hai pho tượng, vợ trước mộ chồng và chồng trước mộ vợ đã nói lên tình cảm của 2 người lúc sinh thời. Trước mộ ông Lê Phát An có tượng bà mặc áo dài quỳ gối dâng bó hoa và cầu nguyện cho ông. Bên mộ bà Trần Thị Thơ thì có tượng của ông mặc áo dài quỳ phục dâng bó hoa và cầu nguyện cho bà.
Với nét tạc tượng điêu luyện, hai pho tượng nhìn vào rất sống động và toát lên được những tình cảm mà người thực hiện muốn phục dựng. Qua những dòng chữ khắc trên bia mộ chúng ta có thể nhẩm tính ra ông hơn bà 4 tuổi nhưng lại mất sau bà đến 14 năm.
GẢ CHÁU GÁI CHO VUA
Sinh ra trong gia đình giàu có nhất Đông Dương, ông Lê Phát An (1868-1946) là một phú hộ nổi tiếng thập niên 1930-1940 ở miền Nam. Cha ông là Lê Phát Đạt, còn gọi là Huyện Sĩ, là người đứng đầu của 4 người giàu nhất trong câu “Nhất Sĩ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Bưởi”.
Ông Huyện Sĩ có cách giáo dục con cái rất nghiêm. Những người con của ông dù trai hay gái đều là những người thông minh, hiểu biết và biết phát huy tiềm lực kinh tế của gia đình.
Ông Lê Phát An từng được gia đình cho du học bên Pháp. Sau khi về nước, ông đã cùng vợ chồng người em là Lê Thị Bính lên Đà Lạt mở đồn điền trồng trà và cà phê. Người em này có một cô con gái vừa xinh đẹp vừa giỏi giang.
Theo nhiều tài liệu còn ghi lại, trong thời gian ở Đà Lạt, ông nhận được giấy mời của Đốc lý thành phố Đà Lạt là ông Darle. Darle mời ông An và cô cháu gái xinh đẹp đến dự dạ tiệc ở khách sạn Palace. Đặc biệt trong buổi dạ tiệc này có vua Bảo Đại tham dự.
Cháu gái ông – Nguyễn Hữu Thị Lan – không muốn dự nhưng được ông thuyết phục cũng đã miễn cưỡng đồng ý đến. Cô trang điểm nhẹ và mặc chiếc áo bình thường bằng lụa đen đến dự tiệc.
Nhờ được học qua các lễ nghi, cô Lan đã đến trước mặt hoàng thượng và hành lễ. Vua chào lại. Cũng vừa lúc ấy điệu nhạc tango vang lên. Vua mời cô cùng nhảy. Mối quan hệ bắt đầu nẩy nở từ đó cho đến năm 1934, Nguyễn Hữu Thị Lan trở thành Hoàng hậu Nam Phương.
Ngày cưới – cậu của hoàng hậu – ông An đã gởi đến cháu món quà mừng một triệu đồng bạc Đông Dương. Số tiền này tương đương với 20.000 lượng vàng.
Sau đó, Vua Bảo Đại đã phong tước An Định Vương, tước hiệu cao quý nhất của triều đình và chỉ phong cho một người duy nhất ở miền Nam thuộc hàng dân dã cho ông Lê Phát An.
Tuy có tước hiệu của triều đình nhưng ông An vẫn là một điền chủ. Ông được cha giao cho cai quản một khu đất rộng lớn ngày nay thuộc quận Gò Vấp, SG.
Nhờ biết làm ăn, ông đã đưa vùng đất này phát triển đến mức cực thịnh. Những việc làm của ông luôn được người dân đồng tình và ủng hộ. Vì là người có tước hiệu cao nhất trong triều đình, ông gặp nhiều thuận lợi trong việc thực hiện các chính sách đổi mới nhằm đưa mức sống của người dân lên cao.
Năm 1921, ông bỏ tiền ra thuê nhà thầu Baader và nhà thầu Lamorte xây dựng nhà thờ Hạnh Thông Tây trong 3 năm mới hoàn thành. Ngày 18/1/1932 bà Trần Thị Thơ mất. 14 năm sau, ngày 17/9/1946, ông Lê Phát An qua đời.
Để ghi lại công ơn của đôi vợ chồng trong việc xây dựng ngôi nhà thờ, ông bà được an táng ngay bên trong thánh đường với những pho tượng tuyệt đẹp…
Theo Vietnamnet
Share từ Fb Tuấn Mai SG
Nguồn bài viết: Thu Hương.
......................
Chú thích ảnh:
1. Thì thầm bên vợ.
2. Âu yếm bên mộ chồng.

Tất cả cảm 

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2023

NGHỀ LÀM VỢ

 NGHỀ LÀM VỢ

ST
Có một nghề chẳng ai đặt thành tên
Nhưng tôi gọi đó là nghề "Làm vợ"!
Đến với nhau bởi tình yêu duyên nợ
Đỡ đần nhau đi suốt cả cuộc đời.
Là cái nghề không chế độ nghỉ ngơi
Không hưu trí, chẳng thưởng khen mà vẫn miệt mài cần mẫn
Vun vén lo toan trong ngoài tất bật
Từ việc cơ quan cho đến việc ở nhà!
Là cái nghề không thất nghiệp dẫu già
Chỉ lên chức là: làm bà, làm mẹ
Là cái nghề mà quanh năm lặng lẽ
Cống hiến hết mình, nhẫn nại đức hy sinh!
Là cái nghề mà sai đúng cũng lặng thinh
Bởi đơn giản vì mình đang LÀM VỢ!
Chép miệng thở dài "đành thôi duyên nợ"
Người đau khổ nhọc nhằn, người hạnh phúc thăng hoa!
Là cái nghề dẫu chẳng được ngợi ca
Chẳng được vinh danh ngoài câu " sang vì vợ"
Là cái nghề chẳng cần ai nâng đỡ
Chỉ cần được yêu thương là hăm hở hết mình!
Là cái nghề tốt nghiệp bởi chữ TÌNH
Và kinh nghiệm được xây bằng chữ NGHĨA
Là cái nghề ai cũng mong tròn trịa:
CHUNG THUỶ, DỊU DÀNG, HIẾU HẠNH, ĐẢM ĐANG
Là cái nghề bắt đầu từ lúc bước sang ngang!
Nguồn: Quí Nguyễn.