Chủ Nhật, 10 tháng 10, 2021

Giới thiệu nhà thơ Du Tử Lê

 Giới thiệu nhà thơ Du Tử Lê

Tác giả:Hoài Nguyễn
*
Du Tử Lê tên thật là Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Kim Bảng - Hà Nam.Sau Hiệp định Genève, 1954, ông di cư vào Nam cùng với gia đình. Đầu tiên ông định cư ở Hội An, Quảng Nam, sau đó là Đà Nẵng. Đến năm 1956, ông vào Sài Gòn và theo học trường Trần Lực, Chu Văn An, sau cùng là Đại học Văn Khoa.
Ông làm thơ từ rất sớm, khi đang còn học tại trường tiểu học Hàng Vôi tại Hà Nội. Sau khi di cư vào Sài Gòn, Du Tử Lê bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm dưới nhiều bút hiệu khác nhau. Bút hiệu Du Tử Lê được dùng chính thức lần đầu tiên vào năm 1958 cho bài Bến tâm hồn, đăng trên tạp chí Mai.
Du Tử Lê từng là sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cựu phóng viên chiến trường, thư ký tòa soạn cuối cùng của nguyệt san Tiền phong (một tạp chí của Quân lực Việt Nam Cộng Hoà), và là giáo sư dạy giờ cho một số trường trung học Sài Gòn. Năm 1973 tại Sài Gòn, ông được trao Giải Thưởng Văn chương Toàn quốc, bộ môn Thơ với tác phẩm Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972. Ngày 17/4/1975, Du Tử Lê cùng với Mai Thảo và Phạm Duy bị kết án tử hình vắng mặt trên đài phát thanh của Mặt trận giải phóng Miền Nam vì có thái độ chống đối cộng sản quyết liệt.
Sau sự kiện 30/4/1975, ông tỵ nạn tại Hoa Kỳ, sống ở miền Nam California, tiếp tục nghề viết, và là nhân viên khế ước của Đài tiếng nói Hoa Kỳ từ năm 1996. Ông cũng từng là chủ nhiệm các báo Việt ngữ Nhân chứng, Tay phải, và Văn nghệ ở Mỹ.
Ngoài thơ ra, Du Tử Lê còn viết tiểu thuyết, biên khảo văn học, vẽ tranh… nhưng không nhiều bằng thơ.
Ngày 7/10/2019, Du Tử Lê qua đời tại nhà riêng ở Hoa Kỳ.
Thơ Du Tử Lê rất nặng tình với quê hương, có nhiều bài thể hiện nỗi lòng mong mỏi của người xa xứ được trở về thăm đất mẹ. Những năm cuối đời, ông cùng với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã có ý tưởng và thực hiện một số hoạt động với mong muốn thúc đẩy sự hòa giải và hòa hợp giữa các văn nghệ sĩ hải ngoại và quê nhà.
- Thơ của ông xuất hiện trên nhiều tạp chí trong và ngoài nước. Ông có thơ đăng trên nhật báo Los Angeles Times, 1983 và New York Times, 1994.
- Năm 1993, G.S. Neil L. Jaimeson chọn dịch và phân tích một bài thơ của Du Tử Lê in trong cuốn “Understanding Vietnam,” xuất bản bởi liên đại học Berkeley, UCLA, London, là sách giáo khoa về văn học Việt Nam cho nhiều đại học tại Hoa Kỳ và Âu Châu. Vẫn theo tác giả này thì cùng với Nguyên Sa, sự đóng góp trí tuệ của Du Tử Lê cũng như LM Thanh Lãng và Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam là điều không cần phải hỏi lại (Understanding Vietnam trang 344).
- Du Tử Lê là một trong 6 nhà thơ Việt Nam thuộc thế kỷ thứ hai mươi, có thơ được chọn in trong tuyển tập “Thi Ca Thế Giới Từ Thời Thượng Cổ tới hôm nay/ World Poetry - An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” do nhà W.W. Norton New York, New York ấn hành năm 1998.
- Thơ của ông cũng được một số đại học dùng để giảng dạy cho sinh viên từ năm 1990. Ký giả Jean Claude Pomonti, một nhà báo hàng đầu của tạp chí Le Monde đã chọn một bài thơ của Du Tử Lê để dịch sang Pháp ngữ và phê bình trong tác phẩm “La Rage D’Être Vietnamien” do nhà Seuil de Paris, xuất bản năm 1975.
- Ông là một trong 7 nhà thơ miền Nam, được cố nhà văn Mai Thảo chọn là "7 Vì sao Bắc đẩu" của nửa thế kỷ thi ca Việt Nam. Sáu người kia là Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên.
- Du Tử Lê là tác giả của trên 400 bài thơ và 77 tác phẩm đã xuất bản.
- Từ năm 1981 tới nay, Du Tử Lê đã có nhiều buổi thuyết trình tại một số đại học tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Úc Châu. Riêng với đại học Harvard (Boston, Mass.), hai lần ông được mời nói chuyện về thơ của mình.
- Từ năm 2009 tới 2012 mỗi năm Du Tử Lê đều có ít nhất một lần thuyết trình về thơ tại đại học Berkeley và Cal State Fullerton.
- Kể từ tháng 7 năm 2011, nhiều tranh của Du Tử Lê đã được dùng làm bìa sách cũng như in nơi trang bìa của một số tạp chí XB tại Hoa Kỳ.
- Năm 2012, ông đã có 2 cuộc triển lãm cá nhân, một tại Houston, Texas và, một tại Seattle, Washington State.
- Cuộc triển lãm cá nhân lần thứ 3 của Du Tử Lê, vào Thứ Bảy, ngày 30 tháng 3-2013 tại Virginia, là triển lãm mở đầu cho năm 2013. Và năm 2014 được dánh dấu bằng cuộc triển lãm bỏ túi, với 7 tác phẩm hội họa của họ Lê đã được bán hết trong vòng 45 phút tại Coffee Lover, San Jose.
Ông cũng là nhà thơ có nhiều tác phẩm được phổ nhạc. Trong số đó có nhiều ca khúc nổi tiếng như của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, với "Đêm nhớ trăng Sài Gòn", "Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển", "Quê hương là người đó" ("Xa nguồn yêu thương"), Trần Duy Đức với "Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời", "Em hiểu vì đâu chim gọi nhau", Nguyên Bích với "Hiến chương yêu", Đăng Khánh với "K. khúc của Lê", Anh Bằng với "Khúc Thụy Du", Phạm Duy với "Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau", Hoàng Quốc Bảo với "Người về như bụi", Từ Công Phụng với "Trên ngọn tình sầu", Phạm Anh Dũng với "Tôi Xa Người"...
Xin giới thiệu một số bài thơ nổi tiếng sau đây của Du Tử Lê đã được phổ nhạc như để tưởng niệm một nhà thơ lớn của miền Nam đã sống hết cuộc đời với thi ca, nghệ thuật…
**
1. Trong tay thánh nữ có đời tôi
hỏi Chúa đi rồi em sẽ hay
tôi buồn như phố cũ như tay
bàn chân từng ngón ngưng không thở
lạc mất đường đi. tạnh dấu bày
hỏi nắng đi rồi em sẽ hay
tôi gầy như lá nhẹ như mây
gió khuya thổi rớt ngàn tâm sự
thiên đàng tôi là người hay ai?
hỏi gió đi rồi em sẽ hay
cảnh tượng tôi un khói. bụi đầy
ai không ném đá tôi nào biết
riêng người vẫn bay trên ngọn cây
hỏi tóc đi! sông những buồn vui
như tôi qua gần hết cuộc đời
trí khô não kiệt. nghe từ đất
tiếng gọi trời xa. thánh nữ ơi
hỏi mắt đi sẽ thấy rừng cao
biển sâu dưới thấp. đêm quê nhà
con đường núi Sọ, không ai đợi
tôi hỏi tôi: mày, đang ở đâu?
hỏi môi đi! môi còn muối mặn
xát ướp lòng tôi thì đã sao?
chỉ e chẳng kịp cho đời khác
cửa mở nhưng tôi chẳng thể về
hỏi tim đi! tim nói lời gì?
máu còn quy ẩn có đôi khi
chỉ cho em biết hồn tôi khuất
sau những hàng cây đã luống thì
hỏi Chúa đi! ngài sẽ trả lời
trong tay thánh nữ có đời tôi.
2. Khúc Thuỵ Du
1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời
như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được
như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay
trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gặm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình
trên mặt đất nhiên lặng
không tăm nào sủi lên
đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi
tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi?
2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng không khép
bàn tay nàng không thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài
ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống
hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thuỵ ơi và thuỵ ơi
tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thuỵ ơi và thuỵ ơi
đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết
tình yêu như ngọn dao
anh đâm mình, lút cán
thuỵ ơi và thuỵ ơi
không còn gì có nghĩa
ngoài tình anh tình em
đã ướt đầm thân thể
anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển
(03-68)
3. Chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
chim về góc biển. Bóng ra khơi
lòng tôi lũng thấp. tâm hiu quạnh
chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
buổi chiều chăn, gối thiếu hơi ai!
em đi để lại hồn thơ dại
tôi, vó câu buồn sâu sớm mai.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
em còn gương lược dấu đường ngôi?
nằm mơ thấy tóc thơm vai hẹn
và, khoảng trời xanh đến rợn người.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
bàn tay dư mấy ngón chia phôi!
(tặng nhau chính ngón không đeo nhẫn)
và những tàn phai đầy tuổi tôi.
chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
như trời nhớ đất (rất xa xôi.)
nắng mưa nhớ mãi hàng hiên đợi
thư nhớ hồi âm. Lệ nhớ môi.
*
chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
nói gì kiếp khác với đời sau.
đôi khi nghe ấm trên da, thịt
như thể ai đi mới trở về.
2.1990
4. Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đời lưu vong không cả một ngôi mồ
vùi đất lạ thịt xương e khó rã
hồn không đi sao trở lại quê nhà
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
bên kia biển là quê hương tôi đó
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
những năm trước bao người ngon miệng cá
thì sá gì thêm một xác cong queo
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
cho tôi về gặp lại các con tôi
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)
Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.
12-77
5. Ai nhớ ngàn năm một ngón tay
Tháng tư tôi đến rừng chưa thức
Mưa vẫn chờ tôi ở cuối khuya
Có môi chưa nói lời chia biệt
Và mắt chưa buồn như mộ bia
Tháng tư nao nức chiều quên tắt
Chim bảo cây cành hãy lắng nghe
Bước chân ai dưới tàng phong ốm
Mà tiếng giày rơi như suối reo
Tháng tư khao khát, đêm, vô tận
Tôi với người riêng một góc trời
Làm sao anh biết trăng không lạnh
Và cánh chim nào sẽ bỏ tôi
Tháng tư hư ảo người đâu biết
Cảnh tượng hồn tôi : một khán đài
Với bao chiêng, trống, bao cờ xí
Tôi đón anh về tự biển khơi
Tháng tư xe ngựa về ngang phố
Đôi mắt nào treo mỗi góc đường
Đêm ai tóc phủ mềm da lụa
Tôi với người chung một bến sông
Tháng tư nắng ngọt hoa công chúa
Riêng đoá hoàng lan trong mắt tôi
Làm sao anh biết khi xa bạn
Tôi cũng như chiều: tôi mồ côi
Tháng tư chăn gối nồng son, phấn
Đêm với ngày trong một tấm gương
Thịt, xương đã trộn, như sông, núi
Tôi với người, ai mang vết thương ?
Tháng tư rồi sẽ không ai nhớ
Rừng sẽ vì tôi nức nở hoài
Mắt ai rồi sẽ như bia mộ
Ngựa có về qua cũng thiếu đôi
Tháng tư người nhắc làm chi nữa
Cảnh tượng hồn tôi đã miếu thờ
Trống, chiêng, cờ, xí như cơn mộng
Mưa đã chờ tô. Mưa...đã ...mưa
Mai kia sống với vầng trăng ấy
người có còn thương một bóng cây
Góc phố còn treo đôi mắt bão
Ai nhớ ngàn năm một ngón tay ?
6. Đêm, nhớ trăng Sài Gòn
Đêm về theo vết xe lăn
Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
Tìm tôi đèn thắp hai hàng
Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây
Ngỡ hồn ta xứ mưa bay
Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
Đêm về theo bánh xe qua
Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh
Nhớ em kim chỉ khứu tình
Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
Nắng Trương Minh Giản trưa hè Tự Do
Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
Đêm về theo vết xe lăn
Tôi trăng viễn xứ sầu em bến nào?
1978
7. Ơn em
ơn em thơ dại từ trời,
theo ta xuống biển, vớt đời ta trôi.
ơn em dáng mộng mưa vời,
theo ta lên núi, về đồi yêu thương.
ơn em ngực ngải môi trầm,
cho ta cỏ mặn, trăm lần lá ngoan.
ơn em hơi thoáng chỗ nằm,
dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi.
ơn em tình như mù loà,
như con sâu nhỏ bò qua giấc vùi.
ơn em hồn sớm ngậm ngùi,
kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau.
tạ ơn em… tạ ơn em…
8. Chân dung
tôi ngồi trong
nỗi tôi riêng
bên trong ghế
lạnh, ngoài hiên bóng rời
phòng tôi trần
thiết gương người
tường sơn kỷ
niệm, vách bồi dáng xưa
tóc người chảy
suốt cơn mưa
ngực thơm hoa
bưởi, môi đưa bão về
tôi ngồi giữa cõi-tôi-khuya
có ai gõ cửa? mà nghe lá chào
tưởng người ngọn
sóng lao xao
biển muôn năm
gọi tôi nào có vui
người về có
nén hương, thôi
cắm lên phần mộ
hồn tôi úa vàng
9. Chẳng lớn lao nào hơn nỗi cô đơn
cảm ơn kỷ niệm
nuôi em lớn.
như bóng nuôi
hình lúc thiếu nhau.
cảm ơn ngực ấm
nuôi thương bạn.
giọt lệ nuôi tình
sâu kiếp sau.
cảm ơn xa, vắng
nuôi em lớn.
như lá nuôi rừng
thuở thiếu niên.
cảm ơn chăn, gối
cho mưa, nắng.
quá khứ như
người có tuổi, tên.
cảm ơn định mệnh
nuôi em lớn.
hạt giống u tình
kia, tự tâm.
cảm ơn lênh
láng / đêm / da, thịt.
những ngón tay
thơm chọn lựa, mình.
cảm ơn thần
thánh nuôi em lớn.
như gió nuôi
trời lúc bão lên.
cảm ơn núi nhắc
sông xa, nhớ.
chẳng lớn lao
nào hơn cô đơn.
cảm ơn sách vở
nuôi em lớn.
con chữ nuôi
người trong giấc mơ.
hồn nuôi rưng
rưng từng khối đá.
tôi trầm mình
trong em, đời sau.
cảm ơn hiện tại không sau, trước.
-----------------------------------
Hoài Nguyễn – 12/06/2021
* Nguồn tham khảo: Trang nhà Du Tử Lê, Thi Viện, Wikipedia
Có thể là hình ảnh về 2 người, sách và văn bản

Thứ Sáu, 8 tháng 10, 2021

25 MẸO DÂN GIAN CHỮA BỆNH VẶT CÒN NHANH HƠN DÙNG THUỐC

 

Có thể là hình ảnh về văn bản cho biết 'SHARED BY LANGMASTER LƯU LẠI NGAY CÓ NGÀY CẦN ĐẾN'
LƯU LẠI NGAY: 25 MẸO DÂN GIAN CHỮA BỆNH VẶT CÒN NHANH HƠN DÙNG THUỐC
Những hiện tượng như nhức đầu , sổ mũi , hắt hơi… là hết sức bình thường , vì thế sẽ tốt hơn là bạn nên dùng mẹo để đẩy lùi các bệnh vặt thay vì lúc nào cũng lệ thuộc vào thuốc .
1. Ngứa cổ : Khi bị ngứa cổ , hãy gãi vào vành tai . Hoặc bạn cũng có thể uống một cốc nước ấm để xoa dịu cổ họng .
2. Buồn ngủ : Nếu cảm thấy buồn ngủ , hãy nhịn thở càng lâu càng tốt rồi thở ra , bạn sẽ cảm thấy cơn buồn ngủ biến mất .
3. Bị muỗi cắn : Khi bị muỗi hay bất kỳ loài côn trùng nào cắn , bạn chỉ cần thoa lăn khử mùi lên vết cắn , cơn ngứa ngáy khó chịu sẽ biến mất .
4. Hắt hơi : Để ngăn không cho cơn hắt hơi xảy ra , bạn hãy dùng lưỡi ép thật mạnh vào mặt trong của hàm răng cửa phía trên , chỗ tiếp giáp với lợi . Cứ làm liên tục như thế khoảng vài giây , cơn buồn hắt hơi sẽ biến mất .
5. Tê tay : Nhẹ nhàng lắc đầu từ bên này qua bên kia , tay sẽ hết tê trong chưa đầy 1 phút .
6. Nhức răng : Khi bị nhức răng , hãy dùng một cục đá lạnh chà lên vùng da giữa ngón tay cái và tay trỏ , cơn đau nhức sẽ giảm đi đến 50% .
7. Nghe không rõ : Nếu muốn nghe ai đó nói rõ ràng hơn trong một không gian ồn ào , hãy hướng tai phải về phía người nói .
8. Nhức đầu : Nếu bạn bị tấn công bởi một cơn nhức đầu bất chợt , hãy ngâm tay vào một thau nước đá lạnh , rồi liên tục xòe và nắm chặt bàn tay trong nước , cơn nhức đầu sẽ dần dần tan biến .
9. Chích kim : Để chích kim không bị đau , trong khi mũi kim được châm vào da thịt bạn , hãy ho lên vài cái nhẹ nhàng trong suốt thời gian đó . Những cơn ho sẽ làm tăng áp lực lên ống tủy sống và sẽ giúp kìm hãm cảm giác đau mà nó đang cố truyền lên não .
10. Buốt óc : Để đánh tan cơn buốt óc khó chịu này , bạn hãy áp lưỡi vào vòm họng từ 5-10 giây .Cách làm này sẽ giúp làm ấm vòm họng và giảm lượng máu lưu thông đến não .
11. Nghẹt mũi : Nếu cơn nghẹt mũi khiến bạn khó thở và không ngủ được vào ban đêm , hãy đặt một củ hành tây trên đầu giường , bạn sẽ thấy nó công dụng hơn bất kỳ phương thuốc nào đấy .
12. Nấc cục : Dùng ngón cái và ngón trỏ bấm vào chân mày .
13. Khó ngủ : Khi bị khó ngủ và không thể nào chợp mắt được , bạn chỉ cần chớp mắt thật nhanh trong một phút , cơn buồn ngủ sẽ kéo đến với bạn ngay .
14. Buồn nôn : Khi bạn cảm thấy buồn nôn , hãy kẹp ngón tay cái vào giữa lòng bàn tay rồi siết thật mạnh , một lát sau bạn sẽ cảm thấy đỡ hơn đấy .
15. Ngăn ngừa mụn : Nếu bạn tắm nước nóng thì sau khi tắm xong , hãy bật nước lạnh tráng qua người một lần nữa để ngăn ngừa mụn . Nước lạnh sẽ làm se khít lỗ chân lông, giúp cho vi khuẩn và bụi bẩn không chui vào bên trong lỗ chân lông.
16. Chóng mặt : Khi bị chóng mặt , chúng ta thường tìm chỗ để nằm xuống . Nhưng nếu đã nằm xuống mà vẫn còn cảm thấy chóng mặt thì hãy thò một chân xuống đất . Bằng cách này , não bộ sẽ tự điều chỉnh lại vị trí của cơ thể để bạn không còn cảm thấy chóng mặt nữa .
17. Căng thẳng : Khi bị căng thẳng , bạn chỉ cần thổi không khí vào ngón tay cái .
18. Mẹo nhớ lâu : Nếu bạn đọc lại bài trước khi đi ngủ , bạn sẽ nhớ chúng rõ ràng hơn vào buổi sáng hôm sau .
19. Không thể ngừng cười : Phải làm sao nếu bạn đang trong cơn cười mà không thể ngừng cười? Rất đơn giản , hãy tự véo mình một cái , hoặc nhờ người khác véo bạn một cái .
20. Bị táo bón lâu ngày : Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng trong vài ba phút – khoảng độ 200 vòng .
21. Sình bụng (do ăn không tiêu) : Lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút , bụng sẽ xẹp dần .
22. Bả vai đau nhức làm tay không giơ cao được : Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chục cái vào đầu chân mày cùng bên đau .
23. Đau bụng kinh : Hãy vuốt môi trên vài phút .
24. Bí tiểu : Hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút , “cơn bí” hết liền .
25. Chuột rút : Nhấc ngay chân trái của mình lên khỏi mặt đất , để yên trong vài giây dụng mẹo này .

Thứ Năm, 7 tháng 10, 2021

Về danh từ Người Mọi trong tiếng Việt

 

Về danh từ Người Mọi trong tiếng Việt

Về danh từ Người Mọi trong tiếng Việt Mình thấy có bạn Lí Học nêu ra câu hỏi về danh từ Người Mọi này rất hay tại đây >>  Theo bài viế...

Về danh từ Người Mọi trong tiếng Việt

Mình thấy có bạn Lí Học nêu ra câu hỏi về danh từ Người Mọi này rất hay tại đây >> 






Theo bài viết của bạn Lí Học mà mình xin trích đoạn "Mới đây, khi dịch cuốn Miền đất huyền ảo của Jacques Dournes, Nhà văn Nguyên Ngọc- một người sinh ra ở Quảng Nam và tương đối am hiểu về Tây Nguyên có chú thích chữ người Mọi trong sách cùng tên như sau: "Có nhiều người hiểu từ Mọi theo nghĩa khinh miệt, đó là một sự sai lầm. Thật ra, từ Mọi ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ tơmoi trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù người ngoại quốc theo từ điển Bahnar- Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến vùng người Bahnar ở Kon Tum lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây. Bấy giờ những người Bahnar ở Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường tự xưng mình là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau, dần dần tiền tố tơ bị rớt đi, còn lại moi, moi nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là moi, người Việt gọi là mọi, hoàn toàn là một danh xưng"".

Mình không hiểu do đâu mà nhà văn Nguyên Ngọc viết khẳng định như thế, chứ còn trong bài này viết vào năm 2015 >> http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/lang-ba-na-trong-sach-nguoi-ba-na-o-kontum-cua-nguyen-kinh-chi-nguyen-dong-chi, nhà văn Nguyên Ngọc còn chỉ rất rõ là cách giải thích như trên là MỘT GIẢ THUYẾT từ hai anh em học giả Nguyễn Đổng Chi / Nguyễn Kinh Chi.  Nên không hiểu, lời chú thích như trên là do từ nhà văn Nguyên Ngọc đã nghiên cứu kỹ lưỡng hay là ông đã viết lại nhưng quên dẫn nguồn rằng ai đã đưa ra giả thuyết này ?

Mà có một văn bản mà mình không thấy ở nêu ra, chính là bộ sách của ngài Thừa Sai Christoforo Borri, được biết là xuất bản năm 1631, viết về xứ Đàng Trong những năm tiền 1620s, thì trong ấy, ngài Thừa Sai Borri có viết rất rõ là

****

Xứ Đàng Trong trải dài theo dọc bờ biển ... Bề rộng của nó không đáng kể, vì nó bị bó hẹp trong khoảng không gian 20 dặm đường thẳng, một phía tận cùng là biển, phía kia là dãy núi lớn, nơi cư ngụ của những "Kẻ Moi", danh xưng có nghĩa là: người man rợ, vì mặc dù họ là người xứ Đàng Trong nhưng họ không biết tuân lệnh chút nào đối với nhà vua trong bất cứ chuyện gì, họ chỉ tin vào sự khắc nghiệt của núi rừng tiếp giáp với vương quốc Lào."

****

Như vậy ít nhất là những năm 1620s hay rất có thể là trước đó nữa, trong tiếng Việt đã có cụm danh từ Kẻ Mọi (cùng với các cụm danh từ Kẻ Chợ / Kẻ Bắc / Kẻ Quảng, v.v), và ngài Thừa Sai Borri cho biết là Kẻ Mọi có ý nghĩa người man rợ, không tuân lệnh vua xứ Đàng Trong.  Vậy chắc là không thể nào ý nghĩa bọn man rợ của danh từ Kẻ Mọi là một danh từ rất sau này, do bọn thực dân Pháp suy nghĩ ra để chia mà trị người Việt Nam như vài thầy viết trên mạng đâu đúng không ? Và ít nhất là theo ngài Thừa Sai Borri, những năm 1600s danh từ Kẻ Mọi đã được hiểu là bọn man rợ rồi đó.

Mà xem ra, nếu chúng ta nghiên cứu về sử Việt, thì thấy rất rõ sự các vua chúa Việt Nam xem mình là "Trung Hoa", tức cái rốn của vũ trụ, và họ cho rằng bốn phương tứ hướng đều là người man rợ, nên không hiểu thuyết Tơmơi là bạn, khách của người Bhanar bị người Việt dùng, rơi thành ngữ tơ, rồi mơi thành mọi, rồi mọi là chỉ cho bọn man rợ, của 2 thầy Nguyễn Kinh Chi / Nguyễn Đổng Chi là có đúng không ? Không biết trong tiếng Việt đã có bao nhiêu trường hợp tương tự như danh từ Tơmơi trong tiếng Bhanar chưa bạn ? 

Rồi xét tới nữa, thời xưa, tức thời những năm 1600s, lúc đó người Việt mới lấy tới Quảng Nam, nên không biết ở Quảng Nam, những người Thượng có phải thuộc chủng tộc Bhanar không ? Mình đọc thấy khu này có người Cơ Tu, mà không biết người Cơ Tu có được xem là người Bhanar không ?

Và đáng nghi ngờ hơn, mình không hiểu lại sao 2 anh em học giả Nguyễn Kinh Chi / Nguyễn Đổng Chi lại không đi hỏi những người trong một sắc tộc khắc rất gần gũi trong việc giao thương với người Mọi - đó là người Chàm ? Người Chàm là chủ nhân ở miền Trung mà, văn hóa của người Chàm còn đầy ra đó.  Nói tới miền Trung, nói tới văn hóa và chữ ở miền Trung mà không nói tới hay nghiên cứu văn hóa người Chàm là coi bộ hơi thiếu.  Mình đọc sử thấy người Chàm và những người miền núi có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau, nên không hiểu tại sao các thầy không ai đi hỏi hay tìm hiểu trong văn bản người Chàm, đã có bao giờ người Chàm sử dụng cụm danh từ Mọi chưa, mà các thầy lại đi đọc và suy luận từ quyển từ điển Bhanar của người Pháp nhỉ ? 

Mà sao mãi tới tận năm 2017 ở thế kỷ 21, mà thầy Nguyên Ngọc cũng không đặt câu hỏi liên quan tới văn hóa người Chàm trong việc đi tìm từ nguyên chữ Mọi, mà thầy lại đi ngược, lấy cách giải thích từ những năm 1937 của hai học giả Nguyễn Kinh Chi / Nguyễn Đổng Chi mà xem ra thầy quên không chú thích khi diển giải về từ Mọi nhỉ ? 

Mời bạn tham khảo.

Dĩ nhiên mình có thể sai, nếu có mời bạn lên tiếng để mình cùng học hỏi.

Thanks

Brian






Thứ Tư, 29 tháng 9, 2021

Tại Sao Quảng Nam Hay Cãi?

 Tại Sao Quảng Nam Hay Cãi?

*Tác giả: Trần Gia Phụng
(Trích lược bài nói chuyện của Giáo sư Trần Gia Phụng tại Toronto – Canada ngày 6/11/2014)
--------------------------
“Quảng Nam hay cãi…” là sự thật hiển nhiên không bàn cãi. Bài nói chuyện hôm nay là tìm hiểu tại sao người Quảng Nam chúng ta hay cãi? Những lý do đưa ra sau đây có thể chủ quan và thiếu sót, hy vọng được bổ túc thêm thì sẽ đầy đủ hơn.
Người Quảng Nam hay cãi có thể có năm lý do:
1. Nguồn gốc di dân.
2. Tranh đấu nghịch cảnh.
3. Tính ham học của người Quảng Nam.
4. Giọng nói người Quảng Nam.
5. Môi trường hay cãi tại Quảng Nam.
1) Về nguồn gốc di dân: Người Quảng Nam chúng ta là con cháu của những di dân từ Bắc vào Quảng Nam lập nghiệp. Có bốn hạng di dân khác nhau đến Quảng Nam: Những di dân đầu tiên là những chiến binh theo các đoàn quân viễn chinh đi mở nước về phương nam. Không có những đoàn quân viễn chinh thì không có Quảng Nam. Những chiến binh viễn chinh thường can đảm, liều lĩnh, sẵn sàng chiến đấu, tranh cãi.
Hạng di dân thứ hai đến Quảng Nam là những người tù tội. Dưới thời Lê Thái Tổ (trị vì 1428-1433), nhà Lê chia tội phạm thành năm loại: xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Xuy là đánh roi. Trượng là đánh trượng (gậy). Đồ là làm dịch đinh. Lưu là lưu đày. Tử là tử hình. Mỗi tội chia thành nhiều hạng. Riêng tội lưu có ba hạng: Lưu cận châu (châu gần). Lưu viễn châu (châu xa). Lưu ngoại châu (châu biên giới.) Từ thời Lê Thái Tổ cho đến khi Nguyễn Hoàng vào nam, trong khoảng trên 200 năm, Quảng Nam thuộc loại viễn châu, miền biên giới xa xôi, giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Những người phạm tội lưu nặng nhất bị đày đến Quảng Nam.
Hạng di dân thứ ba đến Quảng Nam là những người đào tẩu, trốn tránh vì nhiều lý do, mà trong đó quan trọng nhất là lý do chính trị, vì sự thay đổi và trả thù của các triều đại. Ví dụ khi nhà Trần sụp đổ, nhà Lê lên cầm quyền, con cháu nhà Trần trốn chạy, có gia đình chạy vào tận Quảng Nam. Khi nhà Mạc sụp đổ, con cháu nhà Mạc đổi thành nhiều họ, ly tán khắp bốn phương. Có nhiều nhánh họ Mạc chạy vào tận Quảng Nam.
Hạng di dân thứ tư, đông đảo nhất là những di dân vì lý do kinh tế. Vì quá nghèo khổ ở vùng đất cũ, nên đông đảo dân chúng theo những đợt di dân do chính quyền tổ chức. Sau mỗi lần mở nước, các triều đại đều tổ chức đưa người tới định cư vùng đất mới, nhất là từ thời Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp.
Dầu vì lý do gì, di dân có một số đặc tính chung như mạo hiểm, can đảm, liều lĩnh, quyết liệt, bất khuất, cấp tiến, khẳng khái, bộc trực, thích tự do, công bằng, dân chủ… Không phải tất cả những đặc tính trên đây đều tác động cùng một lần đến con cháu Quảng Nam, nhưng ảnh hưởng một cách khác nhau tùy mỗi gia đình, tùy mỗi cá nhân, một vài đặc tính trên, đưa đến những kết quả riêng biệt, nhưng vẫn có một vài điểm căn bản giống nhau, như là hay tranh đấu và hay cãi để bảo vệ những điều mình đạt được trên đường di dân.
Có câu hỏi đặt ra là di dân từ Bắc vào Nam, đến định cư rải rác từ Quảng Nam đến Bình Định, nhưng tại sao chỉ có dân Quảng Nam là hay cãi? Xin chú ý, trước khi tiến xuống Quảng Ngãi hay Bình Định ngày nay, người di dân từ Bắc vào Nam, tập trung đầu tiên tại Quảng Nam, có thể cả một thời gian dài, trên 200 năm, từ thời Huyền Trân đến thời Nguyễn Hoàng, mới dần dần tỏa xuống phía nam. Càng xuống phía nam, bình nguyên càng rộng, thời tiết càng dễ chịu, con người càng thoải mái hơn. Ngoài ra, còn nhiều lý do khác nữa.
2) Tranh đấu trước nghịch cảnh: Lý do thứ hai về việc người Quảng Nam hay cãi là di dân luôn luôn va chạm và đối phó nghịch cảnh, phải tranh đấu đề sinh tồn. Tranh đấu với cư dân địa phương trước đây là người Chiêm Thành (Chàm). Tranh đấu để mưu sinh ở vùng đất lạ, thiên nhiên khắc nghiệt, rừng thiêng nước độc. Tranh đấu để được tự do, bình đẳng và dân chủ trên vùng đất mới. Tranh đấu trở thành thói quen của người Quảng Nam và từ đó cũng trở thành hay cãi. Hay cãi là cách tranh đấu bất bạo động để bảo vệ quyền lợi, bảo vệ điều mình nghĩ là lẽ phải, tránh sai lầm, tìm ra sự thật.
3) Tính ham học: Lý do thứ ba là di dân vốn thích phiêu lưu, thích khám phá điều mới lạ, thích tìm tòi học hỏi, có cái nhìn mới. Thêm nữa, người Quảng Nam nghèo khổ nên ham học để tiến thân bằng thi cử. Tính ham học, cầu tiến, ưa học hỏi, tìm hiểu thêm, khiến cho người Quảng Nam hay cãi để tiến bộ, tìm ra chân lý.
4) Giọng nói lớn: Lý do thứ tư là không hiểu vì sao người Quảng Nam có giọng nói lớn, mạnh, sắc, chói tai. Chính chất giọng lớn mạnh tạo điều kiện và hỗ trợ cho người Quảng Nam hay cãi. Vào một phòng họp, nghe một giọng Quảng Nam phát biểu là nhận ra ngay. Nhờ chất giọng mạnh nên người Quảng Nam dễ cãi, thích cãi và trở thành hay cãi. Xin chú ý điểm nầy: ngay cả những người Quảng Nam nói giọng thấp, nhỏ thì cũng ít cãi.
5) Môi trường hay cãi: Lúc đầu, người Quảng Nam hay cãi với nhau. Anh em, vợ chồng, bạn bè cãi với nhau, tạo thành môi trường hay cãi, không gian hay cãi. Môi trường hay cãi càng ngày càng mở rộng, trở thành thói quen, hay nếp sống hoặc truyền thống hay cãi. Điều nầy dễ thấy ở những người Quảng Nam lấy vợ hay chồng tỉnh khác. Sống với nhau một thời gian, và sống trong môi trường hay cãi, người vợ hay chồng đó tuy không phải là người QN, cũng trở thành hay cãi, có khi còn cãi hăng hơn cả vợ hay chồng người Quảng Nam. Vì vậy có câu: “Quảng Nam lai bằng hai Quảng Nam thiệt.” Đây là kết quả của môi trường hay cãi. Nếu không có môi trường để cãi, thì người Quảng Nam cãi với ai?
Năm lý do trên đây đưa đến thói quen người “Quảng Nam hay cãi”. Câu “Quảng Nam hay cãi” có khi được xem là lời mỉa mai người Quảng Nam. Tuy nhiên, xin chú ý rằng hay cãi không phải là tính xấu. Hay cãi chỉ xấu khi cãi bướng, cãi ngang xương, cãi đâm hơi, cãi lấy được. Ngay cả uống thuốc bổ mà quá liều lượng thì cũng có hại, huống gì là hay cãi ẩu? Vì cãi quá đà nên mới bị mỉa mai là “Quảng Nam hay cãi”. Trong khi thật sự không cãi thì không tiến bộ được. Xin thử tưởng tượng một nhóm người, một tổ chức hay một xã hội mà không một tiếng cãi thì chẳng những không có sinh khí mà bị đóng băng hay là chết
Xin chú ý thêm là cho đến 1802, khi Gia Long lên ngôi, Quảng Nam mới chính thức ổn định. Do hay cãi để tiến bộ, hay cãi để tranh đấu chống bạo quyền, tranh đấu để bảo vệ cho mình và cho dân tộc mình nên chỉ trong thời gian ngắn, Quảng Nam đã sản sinh ra một loạt anh hùng, tranh đấu chống Pháp xâm lược, từ Hoàng Diệu, đến Nguyễn Duy Hiệu, qua Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lê Đình Dương…
Chuyện Quảng Nam hay cãi là chuyện dài, nhất là người Quảng Nam có tính tự trào, tức tự giễu về mình, nên có rất nhiều chuyện tiếu lâm Quảng Nam hay cãi và nội dung này nếu người Quảng Nam chính gốc có thể bổ sung thêm “thực – hư”!
* Trần Gia Phụng
--------------------------
Giáo sư sử học Trần Gia Phụng sinh năm 1942 tại Duy Xuyên - Quảng Nam, con trai nhà thơ Trần Gia Thoại. Ông tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Huế, khoa Sử Địa và Cử nhân Giáo Khoa Sử Đại học Văn Khoa Huế năm 1965. Trước năm 1975, ông dạy tại Trung học Phan Châu Trinh Đà Nẵng và là giảng viên Viện Đại Học Cộng Đồng Đà Nẵng. Từ 1995 cho đến nay, ông định cư tại Toronto - Canada.
Đề tài về “Quảng Nam hay cãi” cũng được nhà văn, nhà thơ kiêm nhạc sĩ Vũ Đức Sao Biển viết thành sách dưới dạng “Tạp văn” được Nhà Xuất bản Trẻ ở Việt Nam xuất bản.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản