Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018

*Người đánh cá và hung thần Zawbaat – Truyện Cổ Ả-Rập



*Người đánh cá và hung thần Zawbaat – Truyện Cổ Ả-Rập
LGT: Trong các thể chế độc tài toàn trị, để dễ dàng cai trị người dân thì những chế độ này luôn độc quyền về thông tin và sử dụng chính sách ngu dân nhằm cho người dân chỉ biết nghe một thứ tiếng nói duy nhất từ nhà cầm quyền!
Do đó những chế độ này luôn bưng bít thông tin, thường nói dối và rất sợ sự thật.
Những sự thật này nhà cầm quyền rất sợ nó và được xem như là một |hung thần” với chính sự tồn tại của họ và muốn nó phải bị “đóng hủ” thả xuống biển sâu!
Thời đại ngày nay, với sự phát triển của mạng Internet toàn cầu mà trên đó rất đa dạng những luồng thông tin có thể kiểm chứng và chưa được hiểm chứng thì người dân bắt đầu “bội thực | thông tin và những gì thông tin từ nhà cầm quyền trước đây độc quyền thì ngày nay đã bắt đầu lung lay trong niềm tin của người dân…
Câu chuyện cổ Ả-rập dưới đây cho ta hình dung ra một khi sự dối trá bị bưng bít quá lâu, bị đóng hũ quá lâu đến khi nó đã được “giải phóng” thì khó lòng “thu hồi” những niềm tin mà chính quyền độc tài đã gieo rắc trước đây…
------------------------------
Ngày xửa ngày xưa có một vị vua trị vì một đất nước rất hùng mạnh tên là Souleymane. Một hôm ông ta mơ thấy thánh Allah hiện về và tặng cho ông ta một chiếc đũa thần. Chiếc đũa này có thể mang đến cho Souleymane sự thông thái, sức mạnh và giàu có. Lúc tỉnh dậy, thật bất ngờ, ông ta thấy chiếc đũa thần đang ở trong tay.
Nhờ có chiếc đũa, Souleymane đã cai trị được tất cả những loài quỷ trên sa mạc và bắt chúng xây cho nhà vua rất nhiều lâu đài, đền miếu, khắc tượng, đào giếng để lấy nước và dựng thêm nhiều thành phố xung quanh kinh thành.
Nhưng một ngày kia, lũ quỷ không còn sợ nhà vua nữa. Chúng tụ tập nhau chống đối lại nhà vua. Souleymane dễ dàng dẹp được cuộc nổi loạn này. Để trừng trị lũ quỷ, ông đã nhốt tất cả chúng vào chai rồi gắn chì vào miệng chai, trên đó có in hình chiếc đũa thần. Sau đó, nhà vua ném tất cả các chai xuống biển. Một trong những chiếc chai chìm sâu nhất là chiếc chai nhốt hung thần Zawbaat.
Một trăm năm sau, Zawbaat vẫn bị nhốt trong chai và chiếc chai vẫn nằm dưới cát. Ở trong chai Zawbaat luôn mồm nói:
- Ai cứu ta ra khỏi nơi này, ta sẽ ban cho nhiều của cải.
Nhưng không ai nghe thấy.
- Ai cứu ta ra khỏi nơi này, ta sẽ thực hiện tất cả những điều ước - Zawbaat lại hét lên.
Nhưng vẫn vô ích...
Năm trăm năm sau, Zawbaat chửi rủa số phận của mình và thề rằng sẽ giết kẻ nào cứu hắn ra khỏi chai. Vừa nghĩ như vậy thì hắn thấy chiếc chai như đang được đẩy lên mặt biển. Thì ra chiếc chai đang nằm trong lưới của một ông lão đánh cá nghèo khổ.
Cả ngày hôm đó, ông lão đánh cá vẫn chưa được một con cá nào cả, lần nào kéo lưới lên cũng là chiếc lưới trống không. Bây giờ, khi kéo lưới lên thấy nặng tay, ông đã mừng thầm. Không ngờ lần này chỉ là một cái chai cũ rích.
Nhưng khuôn mặt của ông lão rạng rỡ hẳn lên, ông nghĩ: “Mình sẽ đem cái chai này ra chợ bán, ít ra mình cũng được mươi xu. Nhưng trước tiên, mình phải mở nó ra để xem có gì ở bên trong không.”
Ông lấy dao và nậy nắp chai ra. Nắp chai vừa bật thì một làn khói dày đặc bay ra và bay vút lên không trung. Ông lo sợ quá ngã lăn ra bãi cát. Zawbaat hiện ra và nói, giọng giận dữ:
- Ngươi hãy chuẩn bị để chết. Ta vừa thề rằng sẽ giết kẻ nào mở nắp chai, nhưng ta chưa kịp nghĩ ra giết bằng cách nào. Ta cho phép ngươi được chọn lấy cách chết.
- Lạy thánh Allah, xin ngươi hãy đến cứu con - Ông lão đánh cá khốn khổ thổn thức.
Nhưng hung thần vẫn rít lên:
- Nhanh lên, lão già! Ngươi phải chết - Tôi không thể nào tin được. Một người cao to như ông lại ở trong cái chai này. Ngay cả ngón tay bé nhất của ông cũng không thể chui lọt.
Hung thần cười phá lán khiến cả dãy núi phải rung chuyển:
- Điều này quá dễ đối với ta. Hãy nhìn đây!
Nói rồi, hung thần biến thành làn khói và chui tọt vào trong chai.
Ông lão đánh cá không nói không rằng, đợi cho làn khói đã nằm gọn trong chai liền lấy ngay nắp chai đậy lại. Sau đó, ông cười khoái trá:
- Ha ha! Ngươi đã nằm trong tay ta rồi. Ta sẽ trả ngươi về với biển cả. Ta sẽ ném ngươi ra thật xa để ngươi không còn bị mắc vào lưới nữa. Đi đến đâu ta cũng kể rằng có một con quỷ rất độc ác bị nhốt trong chai, nó sẽ giết bất kể ai cứu nó. Sẽ không bao giờ ngươi còn nhìn thấy ánh nắng mặt trời nữa.
Con quỷ lồng lộn trong chai nhưng nắp chai đã đậy kín. Nó van vỉ:
- Ông lão đánh cá ơi, xin ông đừng độc ác như vậy. Tôi không hề có ý định giết ông. Ban nãy, tôi chỉ nói đùa thôi mà. Tôi chỉ muốn xem phản ứng của ông ra sao thôi.
Ông lão đánh cá vẫn lạnh lùng nói:
- Con quỷ xấu xa kia, ngươi lại lừa ta ư? Ta không thèm tin một lời nào của ngươi.
Nói rồi, ông lão định cầm chai lên quăng xuống biển.
- Nếu thả tôi ra ông sẽ cứu được hàng ngàn người đang phải chịu đau khổ - Hung thần thì thào sát vào nút chai.
Lần này thì ông lão đánh cá phải cân nhắc. Ông không mạo hiểm đời mình với lời hứa sẽ mang lại của cải của hung thần, nhưng nếu như ông có thể cứu được hàng nghìn người khác thì...
Lão đánh cá đưa tay từ từ mở nút chai. Ngay lập tức khói tuôn ra và hung thần trở lại với hình dáng y như lần trước. Việc đầu tiên mà hung thần làm là đá chiếc chai xuống biển.
- Biến đi, chiếc chai đáng nguyền rủa! Từ nay ta không còn phải nhìn thấy mi nữa.
Lão đánh cá nhìn thấy hành động của hung thần liền hốt hoảng tự nhủ:
- Không ổn rồi. Hắn ta sẽ giết mình. Chắc chắn là thế rồi.
Nghĩ vậy, ông úp mặt mình vào hai lòng bàn tay.
Zawbaat nhấc bổng ông và cả tấm lưới lên. Ông lão đánh cá chắc mẩm lần này là mình chết thật. Nhưng thật kỳ lạ, hung thần đưa lão đi sang bên kia dãy núi và đặt lão xuống bên cạnh một hồ nước rộng mênh mông. Xung quanh hồ nước là những quả đồi thoai thoải. Hung thần chỉ vào những con cá sặc sỡ sắc màu đang bơi lội dưới hồ bảo với ông lão:
- Đó là phần thưởng của ông. Ông hãy buông lưới mà vớt cá lên. Nhưng ta báo cho ông biết, mỗi ngày ông chỉ được bắt bốn con cá, nếu không sẽ mang hoạ vào thân. Ông hãy mang cá đến bán cho nhà vua. Với số tiền đó, ông tiêu cả đời cũng không hết.
Ông lão chưa kịp hỏi hung thần về việc cứu vớt những kẻ bất hạnh thì hung thần đã dậm mạnh chân xuống đất, mặt đất rẽ ra và hung thần biến mất.
Ông lão quăng lưới xuống hồ. Khi kéo lưới lên ông thấy có bốn con cá trong lưới. Điều khiến ông vô cùng kinh ngạc là bốn cơn cá có bốn màu khác nhau: trắng, đỏ, xanh và vàng.
Ông sung sướng vội vã đem bốn con cá về dâng lên nhà vua.
Nhìn thấy bốn con cá, nhà vua liền ra lệnh:
- Hãy ban cho ông lão bốn trăm đồng tiền vàng và đem cá đi nấu ngay cho ta. Ta rất muốn biết mùi vị của nó ra sao.
Ông lão đánh cá hoan hỷ cầm tiền trở về nhà.
Bà đầu bếp của nhà vua làm cá sạch sẽ rồi cho lên chảo rán. Khi bà vừa lật con cá đầu tiên thì tường bếp bỗng nứt ra. Một cô gái cực kỳ xinh đẹp ăn mặc lộng lẫy, tay đeo vòng hồng ngọc hiện ra. Nàng nói với bốn con cá:
- Hỡi đàn cá, các ngươi vẫn giữ lời hứa đấy chứ? Các ngươi sẽ im lặng chứ?
Bốn con cá ngóc đầu lên và đồng thanh đáp:
- Vâng. Hãy tin chúng tôi.
Đàn cá vừa dứt lời, cô gái biến mất vào trong tường. Bà đầu bếp lặng người đi vì kinh sợ trước cảnh tượng đó. Đến khi trấn tĩnh trở lại thì bốn con cá đã cháy thành tro.
Bà vội vã đi tâu lại với nhà vua mọi chuyện. Nhà vua cũng kinh ngạc không kém. Ngài ra lệnh cho tể tướng:
- Hãy đi tìm lão đánh cá và bảo lão mang lại cho ta những con cá khác. Lần này chính tay ngươi phải nấu cá. Ta cho rằng bà đầu bếp chắc đã ngủ gật nên làm cháy cá của ta rồi bịa chuyện để ta khỏi trừng phạt.
Ngày hôm sau, mọi chuyện diễn ra với tể tướng y hệt như đã diễn ra với bà đầu bếp. Ngày hôm sau nữa đích thân nhà vua xuống bếp. Khi ngài bắt đầu lật con cá thứ nhất thì bức tường lại mở ra, một cô gái xinh đẹp hiện lên nói chuyện với đàn cá và trước khi nhà vua kịp trấn tĩnh thì bốn con cá đã cháy thành than.
Nhà vua ra lệnh cho tể tướng:
- Ngươi hãy đưa lão đánh cá lại đây cho ta. Ta muốn hiểu rõ bí mật này.
Khi lão đánh cá được dẫn đến nhà vua hỏi:
- Nhà ngươi bắt những con cá này ở đâu?
- Muôn tâu bệ hạ, lão bắt chúng ở một hồ nước có nhiều đồi vây quanh - Ông lão đánh cá run rẩy trả lời.
- Hồ nước đó có gần đây không?
- Thưa gần ạ... Lão đi bộ trong nửa giờ là tới.
Nhà vua quát lớn:
- Lão nói láo! Cách đây nửa giờ đi bộ không hề có hồ nước mà cũng chẳng có núi đồi. Nhưng thôi, ta tin lời lão nếu như lão dẫn ta tới đó.
Ba mươi phút sau, nhà vua cùng ông lão đánh cá đã đứng bên hồ nước ngắm nghía những con cá sặc sỡ đang bơi lội. Nhà vua nói:
- Nhất định ta phải làm rõ chuyện này. Ta sẽ đi xung quanh hồ nước còn lão hãy trở về cung điện và nói với tể tướng thay ta trị vì vương quốc trong lúc ta vắng mặt. Nếu một tuần nữa mà không thấy ta trở về thì hãy cử quân lính đến tìm ta!
Nhà vua đi một ngày ròng rã rồi lại hết đêm hôm đó. Ngày hôm sau ngài thấy mình đang đứng trước cổng một kinh thành. Các đường phố đều đẹp đẽ nhưng hoàn toàn được phủ bằng màu đen và vắng vẻ không một bóng người. Ngài đi tận đến cung điện nhưng vẫn không gặp ai. Ngài nghĩ:- Nơi này cũng chẳng giúp ta hiểu về bí mật của những con cá được.
Vừa nghĩ đến đó thì ngày bỗng nghe có tiếng thổn thức:- Ôi, lạy thánh Allah! Tại sao số phận ta lại nghiệt ngã như vậy? Ai có thể đem niềm hạnh phúc lại cho ta? Ai có thể cứu vớt được dân chúng của ta?
Nhà vua mạnh dạn bước vào trong cung điện. Một chàng trai đang úp mặt vào hai bàn tay khóc nức nở. Trước mặt chàng trai là một nấm mồ bằng đá có khắc hình khuôn mặt nhăn nhó của một người đàn ông da đen.
- Xin chào! - Nhà vua lên tiếng.
- Xin chào ngài! Đáng lẽ tôi phải đứng lên để đón tiếp ngài nhưng tôi không thể cử động được. Nửa phần cơ thể phía dưới của tôi đã hoá đá. Xin ngài hãy thứ lỗi. - Chàng trai vừa nói vừa chỉ xuống hai chân đã tê liệt.
- Tôi rất thông cảm với nỗi khổ đau của ngài. Chắc hẳn đã có những chuyện không hay xảy ra ở thành phố này. Tôi đã thấy kinh thành của ngài chìm ngập trong màu đen chết chóc và sự yên lặng đến rợn người. Khi đến đây tôi lại thấy ngài đã bị hoá đá một nửa cơ thể. Vậy ngài có thể cho tôi biết nguyên cớ của những bất hạnh này không?
Chàng trai nhẹ nhàng đáp:
- Tôi sẽ kể cho ngài nghe mọi chuyện. Nhưng sau đó ngài phải rời khỏi thành phố này ngay lập tức, nếu không ngài cũng sẽ bị chịu chung số phận như tôi đây.
Và chàng trai bắt đầu kể:
- Tôi là người trị vì vương quốc này. Tôi có một người vợ vô cùng xinh đẹp. Tôi yêu hoàng hậu say đắm và tin rằng tôi cũng được yêu như vậy. Nhưng rồi một hôm, tôi vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra hoàng hậu có quan hệ lén lút với một tên nô lệ da đen. Cơn ghen tức nổi lên tôi rút gươm chém ngay tên đó trước mặt vợ tôi. Sau đó, tôi quay mũi gươm về phía mụ ta. Ngay lúc đó, mụ ta lẩm bẩm câu gì đó bằng thứ tiếng rất lạ khiến tôi không hiểu. Mụ vừa dứt lời thì một nửa cơ thể của tôi liền bị hoá đá. Mụ tàn phá kinh thành này, nhấn chìm các cánh đồng giữa những quả đồi, biến dân chúng nước tôi thành những con cá nhiều màu rồi xua họ xuống hồ nước.
Từ đó trở đi, ngày nào mụ cũng đến quật tôi một trăm roi rồi ngồi thủ thỉ rất lâu với nấm mồ của tình nhân.
Trước khi kết thúc câu chuyện, chàng trai thở dài phiền muộn:
- Thưa ngài, còn bây giờ, xin ngài hãy đi khỏi nơi đây trước khi quá muộn.
Ngay lúc đó, nhà vua nghe thấy tiếng bước chân đang tiến dần đến. Ngài chỉ kịp chạy ra nấp sau nấm mộ. Một thiếu phụ trong bộ đồ tang buồn bã bước vào. Mụ ta tiến đến bên cạnh chàng trai, vạch vai chàng ra và quất túi bụi. Vị vua trẻ tuổi thét lên đau đớn nhưng mụ ta vẫn không hề thương cảm mà còn vụt mạnh hơn. Khi chàng trai ngất đi thì mụ ta mới ném roi xuống đất rồi quỳ bên nấm mồ thì thầm:
- Hãy nói đi, người tình của em. Chàng hãy nói đôi lời để em lại được nghe giọng nói ngọt ngào của chàng.
Nhà vua nấp sau nấm mồ lấy tay bịt miệng lại rồi nói giả giọng người da đen:
- Mụ phù thủy xấu xa, mi không đáng được nghe ta nói.
Nghe thấy vậy mù phù thuỷ vô cùng mừng rỡ reo lên:
- Ôi, người tình của em, chàng đã trở về!
- Đúng vậy, nhưng ta không thể ra khỏi nấm mồ này chừng nào ngươi vẫn còn phù phép chồng ngươi và đất nước này. Chúng ta không thể có hạnh phúc nếu để tất cả những người vô tội này phải chịu đau khổ.
Mụ phù thủy ngạc nhiên nói:
- Chàng khác xưa nhiều quá. Nhưng em sẽ làm theo ý muốn của chàng.
Mụ phù thủy cầm một bát nước trong tay, miệng lẩm bẩm niệm thần chú. Khi bát nước bắt đầu sôi, mụ ta vảy vài giọt lên người vị vua trẻ và niệm:
- Hãy trở về với hình dạng ban đầu!
Đôi chân của chàng trai bắt đầu động đậy rồi có thể đứng lên được. Chàng trai nhảy lên vì vui sướng. Mụ phù thuỷ nhìn ra hồ nước, mụ lại cầm bát nước lên và niệm chú. Chiếc bát bay lên như con chim. Khi những giọt nước trong bát vừa đổ xuống hồ thì những con cá sặc sỡ màu sắc biến thành một đoàn người. Sau đó, hồ nước biến mất.
Mụ phù thủy quay về phía nấm mồ và nói:
- Người tình của em, chàng còn muốn gì nữa không?
- Hãy lại gần đây! - Nhà vua ra lệnh.
Mụ ta nghiêng mình vào sát nấm mồ. Nhanh như chớp, nhà vua rút gươm đâm vào ngực mụ ta.
Ánh sáng trở lại trong cung điện và khắp kinh thành, đám đông lần lượt tìm thấy nhà cửa, hàng hiệu của mình.
Nhà vua nói:
- Bây giờ tôi phải trở về vương quốc của tôi.
Chàng trai nghẹn ngào dặn dò nhà vua:
- Tôi sẽ cho quân lính hộ tống ngài trở về và sẽ cung cấp đầy đủ lương thảo. Khi đến đây ngài chỉ đi hết một ngày vì vương quốc của tôi đang bị phù phép. Còn bây giờ ngài phải đi hết một năm tròn.
Nhà vua cảm tạ chàng trai rồi vội vã lên đường. Ngài vượt qua rất nhiều sa mạc, núi rừng, đồng ruộng và cuối cùng đã về tới kinh thành của mình.
Tể tướng, các quan trong triều và dân chúng cứ ngỡ ông đã chết vì ông đi quá lâu không có tin tức trở về. Họ sung sướng mở tiệc ăn mừng vì thấy nhà vua vẫn bình an vô sự.
Nhà vua cho vời ông lão đánh cá đến và khen thưởng cho ông rất nhiều vàng bạc.
Ông lão đánh cá vẫn còn nhớ mãi đến hung thần Zawbaat nhưng chẳng bao giờ ông gặp lại hung thần nữa.
Copyright of Hoài Nguyễn

Thứ Ba, 15 tháng 5, 2018

Mưa rừng Sáng tác: Nhạc sĩ Huỳnh Anh (1961) Trình bày: Ca Sĩ Ánh Tuyết

Hoài Nguyễn giới thiệu:
Mưa rừng
Sáng tác: Nhạc sĩ Huỳnh Anh (1961)
Trình bày: Ca Sĩ Ánh Tuyết
------------------------------------
Mưa rừng ơi! Mưa rừng! 
Hạt mưa nhớ ai mưa triền miên
Phải chăng mưa buồn vì tình đời,
Mưa sầu vì lòng người duyên kiếp không lâu.
Mưa từ đâu mưa về làm muôn lá hoa rơi tả tơi.
Tiếng mưa gió lạnh về lùa ngoài mành
Lá vàng rơi lìa cành gợi ta nỗi niềm riêng
Ôi! ta mong ước xa xôi,
những đêm mãi cô đơn gửi tâm tư về đâu?
Mưa thương ai? Mưa nhớ ai?
Mưa rơi như nhắc nhở mưa rơi trong lòng tôi.
Mưa rừng ơi! Mưa rừng
Tìm đâu hỡi ơi bóng ngày xưa
Mỗi khi mưa rừng về muộn màng,
Bóng chiều vàng dần tàn
Lòng thương nhớ nào nguôi.

học sinh VNCH thời tiểu học đã được dạy lịch sử.

học sinh VNCH thời tiểu học đã được dạy lịch sử.
100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!
Lý Thái Hoà
học sinh VNCH thời tiểu học đã được dạy lịch sử.
100 câu thơ về lịch sử VN mà chỉ có học sinh thời VNCH được học!!!
1. Vua nào mặt sắt đen sì?
2. Vua nào trong buổi hàn vi ở chùa?
3. Tướng nào bẻ gậy phò vua?
4. Tướng nào dùng bút đánh lừa Vương Thông?
5. Ngựa ai phun lửa đầy đồng?
6. Voi ai nhỏ lệ ở giòng Hóa Giang?
7. Kiếm ai trả lại rùa vàng?
8. Súng ai rền ở Vũ Quang thủa nào?
9. Còn ai đổi mặc hoàng bào?
10. Nữ lưu sánh với anh hào những ai?
11. Nhà thơ lên đoạn đầu đài?
12. Tướng Tàu chui ống chạy dài Bắc phương?
13. Tướng Nam chẳng thiết phong vương?
14. Rắc lông ngỗng, thiếp nghe chàng hại cha?
15. Anh hùng đại thắng Đống Đa?
16. Đông du khởi xướng bôn ba những ngày?
17. Lũy Thầy ai đắp, ai xây?
18. Hồng-Sơn Liệp-Hộ, triều Tây ẩn mình?
19. Vua Bà lừng lẫy uy danh?
20. Ấu nhi tập trận, cỏ tranh làm cờ?
21. Vua nào nguyên-súy hội thơ?
22. Hùng-Vương quốc-tổ đền thờ ở đâu?
23. Đại vương bẻ gẫy sừng trâu?
24. Rừng Lam khởi nghĩa áo nâu anh hùng?
25. Hại dân bán nước tên Cung?
26. Đục chìm thuyền địch dưới sông Bạch-Đằng?
27. Lý triều nổi tiếng cao tăng?
28. Bình-Ngô ai soạn bản văn lưu truyền?
29. Mười ba liệt sĩ thành Yên?
30. Bỏ quan treo ấn tu tiên thủa nào?
31. Ai sinh trăm trứng đồng bào?
32. Bình-Khôi chức hiệu được trao cho người?
33. Tây-Sơn có nữ tướng tài?
34. Cần-vương chống Pháp bị đầy xứ xa?
35. Tổ ngành hát bội nước ta?
36.. Khúc ngâm Chinh-Phụ ai là tác nhân?
37. Vua nào sát hại công thần?
38. Nhà văn viết truyện Tố-Tâm trữ tình?
39. Thái-Nguyên chống Pháp dấy binh?
40. Hà-Ninh tổng đốc vị thành vong thân?
41. Vua nào mở nghiệp nhà Trần?
42. Nêu gương hiếu tử diễn âm lưu truyền?
43. Công lao văn học Nguyễn-Thuyên?
44. Lừng danh duyên hải Dinh-Điền là ai?
45. Nhà thơ sông Vị, biệt tài?
46. Vua nào chống Pháp bị đầy đảo xa?
47. Ngày nào kỷ niệm Đống Đa?
48. Biên thùy tiễn biệt lời cha dặn dò?
49. Mê-Linh xây dựng cơ đồ?
50. Bến Hàm-Tử bắt quân thù xâm lăng?
51. Húy danh Hoàng-Đế Gia-Long?
52. Tướng nào hương khói Lăng-Ông thủa giờ?
53. Rồng thiêng kết nghĩa Âu-Cơ?
54.. Thánh Trần nay có bàn thờ ở đâu?
55. Đời nào có chức Lạc-Hầu?
56. Tướng Châu-Văn-Tiếp, ở đâu bỏ mình?
57. Danh nho thường gọi Trạng Trình?
58. Cha con cùng quyết hy sinh với thành?
59. Đầm Dạ-Trạch nức uy danh?
60. Sớ dâng chém nịnh không thành, từ quan?
61. Công thần vì rắn thác oan?
62. Ai mời bô lão dự bàn chiến chinh?
63. Vua nào dòng dõi Đế-Minh?
64.. Vĩnh-Long thất thủ, liều mình tiết trung?
65. Ngày nào trẩy hội Đền Hùng?
66. Ngày nào sông Hát, nhị Trưng trẫm mình?
67. Núi nào ngự trị Sơn-Tinh?
68. Sông nào ghép lại bút danh thi hào?
69. Gốc nguồn hai chữ đồng bào?
70. Bôn ba tổ chức phong trào Đông du?
71. Hùm Thiêng trấn đóng chiến khu?
72. Vua nào thành lập Hội Thơ Tao-Đàn?
73. Dẹp Thanh giữ vững giang san?
74. Thiết triều nằm lả khiến tàn nghiệp Lê?
75. Hóa-Giang giữ trọn lời thề?
76. Mười năm kháng chiến chẳng nề gian lao?
77. Móng rùa thần tặng vua nào?
78. Bình Chiêm, Dẹp Tống, Lý trào nổi danh?
79. Dâng vua sách lược “Trị-Bình”?
80. Trạng nguyên tướng xấu ví mình hoa sen?
81. Người Tàu dựng đất Hà-Tiên?
82. Họ Lương chống Pháp, Thái-Nguyên bỏ mình?
83. Quy-Nhơn thất thủ, quyên sinh?
84. Lê Triều sử ký soạn thành họ Ngô?
85. Công thần mà bị quật mồ?
86. “Vân-Tiên” tác giả lòa mù là ai?
87. Đại-Từ nổi tiếng tú tài?
88. Đem nghề in sách miệt mài dạy dân?
89. Dâng vua cải cách điều trần?
90. Sánh duyên công chúa Ngọc-Hân, vua nào?
91. Thi nhân nổi loạn họ Cao?
92. Xây thành đắp lũy, họ Đào là ai?
93. Họ Phan lãnh ấn khâm sai?
94. Phòng khuya vọng tiếng thuyền chài tương tư?
95. Đông y lừng tiếng danh sư?
96. Lời thề diệt địch trên bờ Hóa-Giang?
97. Vân-Đồn ai thắng danh vang?
98. Am mây ẩn dật chẳng màng lợi danh?
99. Mùa xuân nào phá quân Thanh?
100. Bao giờ trở lại thanh bình Việt Nam?
100 Câu Đố Lịch sử
(của Đào Hữu Dương)
Câu trả lời là
1- Mai Hắc Đế, mặt sắt đen sì
2- Lý Thái Tổ thuở hàn vi ở chùa
3- Hưng Đạo bẻ gậy phò vua
4- Nguyễn Trãi dùng bút, đánh lừa Vương Thông
5- Ngựa Thánh Gióng phun lửa đầy đồng
6- Voi Hưng Đạo khóc giữa dòng Hóa Giang!
7- Kiếm Lê Lợi trả rùa vàng
8- Súng Cao Thắng nổ Vũ Quang thuở nào.
9- Lê Lai cứu chúa đổi bào
10- Hai Bà Trưng sánh anh hào ra oai!
11- Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài
12- Thoát Hoan chui ống chạy dài bắc phương.
13- Trần Bình Trọng khinh Bắc Vương
14- Mỵ Châu, lông ngỗng rắc đường hại cha!
15- Quang Trung đại thắng Đống Đa
16- Cụ Phan sang Nhật bôn ba tháng ngày! (Phan Bội Châu lập phong trào Đông Du)
17- Đào Duy Từ đắp Lũy Thầy
18- Nguyễn Du xử thế, triều Tây ẩn mình!
19- Bà Triệu lừng lẫy uy danh
20- Đinh Bộ Lĩnh lấy cỏ tranh làm cờ
21- Thánh Tông nguyên súy Hội thơ
22- Lâm Thao Nghĩa Lĩnh đền thờ Hùng Vương
23- Sừng trâu bẻ gẫy: Phùng Hưng
24- Lê Lợi khởi nghĩa, anh hùng Lam Sơn
25- Họ Hồ phản bội cha ông
26- Yết Kiêu, Dã Tượng, thần sông Bạch Đằng!
27- Vạn Hạnh, triều Lý cao tăng
28- “Bình Ngô”… Nguyễn Trãi hùng văn lưu truyền
29- Quốc Dân Đảng, (mười ba) Liệt Sĩ thành Yên
30- Từ Thức treo ấn tu tiên (động) Bích Đào.
31- Âu Cơ (sinh) trăm trứng đồng bào
32- Bình Khôi, Trưng Nhị được trao chúc này
33- Bùi Thị Xuân, nữ tướng tài
34- Hàm Nghi chống Pháp, bị đày xứ xa.
35- Đào Tấn, tổ hát bội nước ta
36- Đặng Trần Côn với khúc ca Chinh Phụ sầu…
37- Gia Long giết hại công hầu
38- Tố Tâm Ngọc Phách xiết bao trữ tình! (Hoàng Ngọc Phách tác giả tiểu thuyết Tố Tâm)
39- Đội Cấn chống Pháp, dấy binh
40- Hoàng Diệu tổng đốc, vị thành vong thân
41- Trần Cảnh mở nghiệp nhà Trần (Trần Cảnh tức Trần Thái Tông)
42- Chuyện Hiếu Văn Phức, diễn âm lưu truyền (Lý Văn Phức, tác giả Nhị Thập Tứ Hiếu
diễn ca)
43- Chữ Nôm khai sáng, Nguyễn Thuyên
44- Công Trứ dựng nghiệp dinh điền chẳng sai!
45- Tú Xương thơ phú biệt tài
46- Duy Tân chống Phàp, bị đày đảo xa
47- Mùng Năm Tết, giỗ Đống Đa
48- Nam Quan, Nguyễn Trãi nghe cha dặn dò
49- Trưng Vương xây dựng cơ đồ
50- Quang Khải: Hàm Tử “cầm Hồ” hiên ngang (Trần Quan Khải: Đoạt sáo Chương Dương
độ. cầm Hồ Hàm Tử quan
51- Nguyễn Ánh tên huý Gia Long
52- Tướng Lê Văn Duyệt, Lăng Ông phụng thờ
53- Lạc Long kết nghĩa Âu Cơ
54- Thánh Trần, Vạn Kiếp ngai thờ tử lâu
55- Đời Hùng: Lạc Tướng , Lạc Hầu
56- Long Hồ thủy chiến, tướng Châu bỏ mình (Châu Văn Tiếp)
57- Nguyễn Bỉnh Khiêm, tức Trạng Trình
58- Tri Phương, phò mã hy sinh thủ thường (Nguyễn Tri Phương và phò mã Nguyễn Lâm)
59- Triệu Quang Phục, Dạ Trạch Vương
60- Chu thần thảo sớ chém phường nịnh gian (Chu thần tức Chu Văn An)
61- Nguyễn Trãi vì rắn thác oan
62- Nhân Tông triệu tập Diên Hồng đánh Nguyên (Trần Nhân Tông)
63- Lộc Tục dòng dõi Đế Minh (Lộc Tộc tức Kinh Dương Vương)
64- Mất thành, Thanh Giản quyên sinh cùng đường! (Cụ Phan Thanh Giản để mất thành
Vĩnh Long)
65- Mười tháng ba, Giỗ Hùng Vương
66- Tháng hai mồng sáu Nhị Trưng trầm mình
67- Tản Viên ngự trị Sơn Tinh (Tản Viên thuộc dẫy núi Ba Vì ở Hà Tây).
68- Sông Đà núi Tản bút danh thi hào
69- Trăm con một bọc : Đồng Bào
70- Phan Bội Châu khởi phong trào Đông Du
71- Hoàng Hoa Thám lập chiến khu
72- Lê Thánh Tông mở Hội Thơ Tao Đàn
73- Quang Bình giữ nước đuổi Thanh (Nguyễn Quang Bình tức Nguyễn Huệ)
74- Ngọa triều Long Đĩnh khiến tàn Tiền Lê.
75- Hoá Giang Hưng Đạo hẹn thề
76- Mười năm Lê Lợi một bề đuổi Minh
77- Thục Phán được móng rùa thiêng (Thục Phán An Dương Vương)
78- Thường Kiệt đánh Tống bình Chiêm lẫy lừng (Lý Thường Kiệt tức Ngô Tuấn)
79- Lương Đắc Bằng dâng sách “Trị Bình”
80- Đĩnh Chi tướng xấu, ví mình hoa sen (Mạc Đĩnh Chi)
81- Mạc Cửu dựng đất Hà Tiên
82- Ngọc Quyến chống Pháp, Thái Nguyên bỏ mình (Lương Ngọc Quyến)
83- Quy Nhơn, Võ Tánh hy sinh
84- Đại Việt Sử Ký, công trình họ Ngô (Ngô Sĩ Liên soạn bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đời Lê)
85- Lê Văn Duyệt bị san mồ
86- Đồ Chiểu tác giả lòa mù “Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu)
87- Đại Từ nổi tiếng Hải Thần (Nguyễn Hải Thần,hoạt
động cách mạng chống Pháp)
88- Nhữ Học in sách, ân cần dạy dân. (Lương Nhữ Học)
89- Trường Tộ, cải cách điều trần. (Nguyễn Trường Tộ, thời vua Tự Đức)
90- Vua Quang Trung sánh Ngọc Hân chung tình
91- Cao Bá Quát chống Triều Đình
92- Duy Từ đắp lũy, đào kinh bậc thầy (Đào Duy Từ)
93- Phan Kế Toại lãnh ấn Khâm Sai
94- Trương Chi tiếng hát đọa đầy Mị Nương
95- Hải Thượng y thuật danh nhân
96- Lời thề sông Hóa thánh Trần diệt Mông (Trần Hưng Đạo)
97- Khánh Dư nổi tiếng Vân Đồn (Trần Khánh Dư)
98- Trạng Trình ẩn dât chẳng còn lợi danh
99- Mùa Xuân Kỷ Dậu đuổi Thanh
100- Dân quyền, dân chủ an lành Việt Nam.

Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

Thánh Kinh bằng hình Chúa nhật VII Phục Sinh năm B

Thánh Kinh bằng hình Chúa nhật VII Phục Sinh năm B

Ngày 13 tháng 05 năm 2018
Lễ Chúa Thăng Thiên
Phúc Âm Mc 16, 15-20
Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. 
Việc về trời hay lên trời của Chúa phục sinh không có nghĩa là một sự thay đổi nơi ở từ mặt đất để về một nơi nào đó ngoài trái đất, nhưng thăng thiên là một sự tôn vinh. Thăng Thiên là một cuộc gặp gỡ, đi vào thân tình với Thiên Chúa Cha, được tôn lên làm Chúa. Chúa Giêsu thành Nagiarét mặc xác phàm làm người, ngoại trừ tội lỗi, nay được tôn lên làm Đức Chúa, nghĩa là cùng được chia sẻ quyền thống trị với Đức Chúa Cha. Mầu nhiệm nằm ở đó, mới lạ ở chỗ đó.
Chính vì thế, nhân loại sẽ không còn ngỡ ngàng tưởng rằng chúa Giêsu được bốc đi, được đưa đi từ điểm này tới điểm nọ. Đức Giêsu Kitô đã đi tới cùng sự chọn lựa của Ngài như thánh Gioan nói:” Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”( Ga 1, 11 ). Chúa Giêsu đã đến thế gian rao giảng nước trời, loan báo Tin Mừng nhưng con người không chịu đón nhận và ngài chấp nhận cái ê chề của cái chết thập giá như một tội nhân dù rằng Ngài hoàn toàn vô tội: Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai (Eph 1, 22). Đức Kitô đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh và trao ban cho sự vinh quang viên mãn, tràn đầy (Eph 1, 23). Chúa về trời nghĩa là được tôn vinh, nên các tín hữu tiên khởi luôn tin tưởng Chúa phục sinh vẫn hiện diện với họ không những ở Giuđêa hay Galilêa mà Ngài ở khắp cùng trái đất, Ngài ở mọi nơi mọi chỗ, Ngài hiện diện trong Giáo Hội. Đoạn Tin Mừng của thánh Mác-cô ngay trong đoạn cuối đã xác nhận Chúa phục sinh luôn hiện diện, luôn có mặt dù rằng Ngài đã được đưa về trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha:” …Còn các tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cộng tác với họ, và dùng dấu lạ điềm thiêng mà xác nhận lời họ rao giảng” (Mc 16, 20).
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Thánh Kinh bằng tiếng Việt
Thánh Kinh bằng tiếng Anh

Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2018

THÔI EM...Lê Hát Sơn

THÔI EM...
thôi em.lá cỏ biên ngàn
chiều sương núi dựng mấy làn tóc bay
thôi em.nồm chở nắng bày
áo phơi giậu vắng vàng lay lắt vàng
thôi em.thương nhớ lấn sang
cơn mưa thấm đẫm một đàng bỏ quên
anh về treo áo vách phên
nghe chừng nẫu ruột bốn bên gió lùa
thôi em.tóc ngắn mộng vừa
nghe chừng hư ảo mộng hờ gối chăn
bàn tay tuyệt vọng dài đơm
bóng in tường chiếc nỗi buồn khuyết đêm
thôi em.niệm khúc rãi mềm
làn môi sương phụ thấm bền duyên ca
mùa xuân qua ngõ đi xa
áo vàng qua ngõ nắng tha thần buồn
thôi em.nghìn cuộc vuông tròn
dồn đau một buổi xói mòn trăm năm
thôi em.diệu vợi lắng câm
anh về ngõ chợ ngồi bên phố phường
thôi em.yêu-dấu-vốn-lường
ủ men lừa lọc cất chưng rượu đời...!
lê.11.05.2018

Hiển thị thêm cảm xúc

Thứ Năm, 10 tháng 5, 2018

Hoài Niệm Một Thời Ca Dao

Hoài Niệm Một Thời Ca Dao
Nói về ca dao là nói về thơ lục bát. Chín mươi lăm phần trăm ca dao đều làm bằng thơ lục bát. Nếu ca dao là thân hình thì lục bát là đôi tay ôm chặt lấy. Gắn bó. Thơ lục bát rất dễ và rất khó làm. Người làm thơ lục bát hay thì đó là thơ lục bát. Người làm thơ lục bát dở thì đó là vè. Lục bát dễ biến thành vè lắm. Nguyễn Du đẩy thơ lục bát đến chỗ cao sang quí phái. Huy Cận đã đưa thơ lục bát vào cổ kính. Hai người làm thơ lục bát hay nhất. Sau hai người tài tử, chưa một thi sĩ nào làm thơ lục bát khiến ta khâm phục. Chúng ta đem Truyện Kiều ra so sánh với Lục Vân Tiên. Thấy ngay cái cao sang của Nguyễn Du và chất vè của Nguyễn Đình Chiểu. Ca dao khác hẳn, chỉ là lục bát, không bao giờ là vè cả. Vì ca dao ngắn, 2 câu đến 10 câu là dài.
Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
(Hai câu)
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Ðể anh trấn thủ nước non Cao Bằng
(Bốn câu)
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Cô về, sư ốm tuơng tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu
Muốn ăn đậu phụ tương dầu
Mài dao đánh kéo gọt đầu đi tu
(Sáu câu)
Văn chương phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong
Sáng ngày vác cuốc chăm đồng
Hết nước thì lấy gầu sồng tát lên
Hết mạ ta lại quẩy thêm
Hết thóc ta lại mang tiền đi đong
Nữa mai lúa tốt đầy đồng
Gặt về đập xẩy bõ công cấy cầy.
(Tám câu)
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè
Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết Ðoan Ngọ trở về tháng năm
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm
Tháng bẩy ngày rằm xá tội vong nhân
Tháng tám chơi đèn kéo quân
Bước sang tháng chín chung chân buôn hồng
Tháng mười buôn bấc bán bông
Tháng một tháng chạp nên công hoàn toàn
(Mười câu)
Ca dao nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tự của nó ôm gọn dân tộc trong lòng. Từ tình yêu, nỗi khổ cực, niềm lo lắng đến giáo dục về sự thật thà, chế nhạo tật xấu, bài xích nhẹ nhàng kẻ ác, khôi hài thống trị..., đều có trong ca dao. Nó là Việt Nam đôn hậu, chất phác. Ngày xưa, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng hơi thở của ca dao, chúng ta yêu nước chúng ta lắm. Ðiệu ru nào đã ru ta ngủ, vẫn không ngoài ca dao.
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về
Ngày nay, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng thứ khác. Không phải ca dao. Chúng ta rời bỏ làng quê – một miền ruộng - tìm chỗ thị thành mà ở, sống theo đuổi văn minh, vật chất tây phương. Chúng ta quên dần, quên hết ca dao. Một ngày nào đó, trong suy nghĩ và nhận thức của các thế hệ sau, ca dao sẽ là cái gì rất xa lạ và họ không thèm biết đến. Nếu chúng ta là nhà văn, nhà thi sĩ thì ca dao sẽ thành lạc hậu. Cái trữ tình hôm qua đâu bằng cái trữ tình hôm nay! Chúng ta đọc tiểu thuyết Anh Mỹ, tiểu thuyết Pháp và, nếu cần, ta mượn cốt truyện của ngoại quốc làm cốt truyện của mình, có phải ta nghìn lần lãng mạn hơn ca dao vớ vẩn. Bây giờ, chúng ta mới, mới, mới và mới; chúng ta dứt khoát với quá khứ nó ràng buộc ta với quê hương ta. Tình tự dân tộc nó nhỏ bé quá, chúng ta tiến lên hàng vĩ đại tình tự với con người. Chúng ta định tình tự với thế giới, với con người bằng cái gì? Ở những cuốn tiểu thuyết gầy ốm, cóp nhặt tư tưởng của thiên hạ bừa bãi à? Cũng đuợc, con người khó tính lắm, muốn đọc sách của chúng ta dịch sang tiếng nước ngoài thì họ mới hiểu chúng ta tình tự với họ với con người. Không, chúng ta không dại thế. Chúng ta chỉ thích mới, mới, mới và mới thôi. Chúng ta ra khỏi hàng ngũ những người lạc hậu và tình tự dân tộc. Mới mà không biết mới về đâu, đó là cuộc phiêu lưu không tưởng. Chúng ta chẳng hiểu đi tới bờ bến mới nào, có điều đường về những làng quê với cây đa, giếng nước, với lũy tre làng đã trở thành một kỷ niệm xa xưa!
Ngày xưa lũ chúng tôi có “ý đồ tán gái ” vẫn cứ hay nghêu ngao mấy câu ca dao …ruột
Hôm qua tát nước dầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được cho chúng anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh không có mẹ già chưa khâu.
Và với bốn câu ca dao lãng mạn , người nông dân lạy trời nắng mưa hòa thuận để cày bừa cho dễ dàng. Công lao không lâu đâu! Cứ hy vọng "ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng." Thi sĩ ca dao mới lãng mạn biết chừng nào: Nước bạc ngày nay, cơm vàng ngày sau. Tuyệt vời cách ví von như thế. Chắc rằng thi sĩ bác học có nghĩ cả đời cũng không làm nổi câu thơ thứ tư của thi sĩ ca dao.
Lạy trời mưa nắng phải thì
Nơi thì cày rộng nơi thì bừa sâu
Công lao chẳng quản lâu đâu
Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng
Nỗi đau khổ của nông dân kể lể đau lòng quá. Từ trong nỗi khổ vẫn bùng lên cơn mơ mộng "Trông cho chân cứng đá mềm" Chắc rằng, trên thế giới, không có đại thi hào nào mơ mộng như người nông dân Việt Nam. "Trông cho chân cứng đá mềm" là giòng suối mơ mộng của thi sĩ ca dao. Dòng suối róc rách chảy đến vô tận.
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Tròi yên biển lặng mới yên tấm lòng.
Cảnh bắt lính trấn thủ lưu đồn ngày xưa được miêu tả một cách xúc động trong cảnh biệt ly:
Một tay thì cắp hoả mai
Một tay xách giáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa
Người quân dịch trấn thủ phương xa. Chúng ta tuởng tượng sự cô đơn và nỗi thống khổ của người lính quân dịch hết có thể viết hết một cuốn tiểu thuyết. Còn ca dao chỉ có bảy câu, bát ngát cô đơn.
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẳn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Nhũng giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nuớc giếng trong con cá nó vẫy vùng
Những đại văn hào, đại thi hào không thèm nghe ca dao nữa. Trong cuốn Anthologie de la littérature populaire du Viet Nam, tác giả đã dịch một số ca dao. Chúng ta cùng thử thưởng ngoạn ca dao... Pháp văn:
Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vồn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
Ô mon buffle! Viens dans la rixière et labourons
Labourons et repiquons
Comme nos ancêtres paysans
Ni toi, ni moi
N'épargnons notre peine
Tant que les pallntes ne portent les épis
Il y aura toujours
Quelques brins d'herbe dans le champ
Pour que tu les manges, ô mon buffles!
Lỗ mũi em tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Ðêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Ði chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo ăn quà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu
Dis huit poils rugueux
Lui sortent des narines
Le mari l'aime
Il dit:
-"C'est un présent du Ciel:
La barbe du dragon"!
Un ronflement, la nuit,
Morte avec son sommeil
Le mari l'aime
Il dit"
Pourquoi s'en plaindre"?
S'en va-t-elle au marché
Elled grignote sans arrêt
Le mari l'aime
Il dit:
-"Qu'importe! A la maison
Elle mangera moins de riz".
Ses cheveus ne sont plus
Sue paille desséchée
Le mari l'aime
Il dit:
-"Sa tête est couronnée De fleurs au doux parfum!"
Mới trích hai bài thôi ở trong sách Anthologie de la littérature du Viet Nam không có bài ca dao tiếng Việt in kèm với bản dịch Pháp ngữ, thành ra, người Việt Nam không hề biết ca dao mà đọc ca dao dịch sẽ chẳng thấy một hình ảnh nào lạ trong ca dao. Họ sẽ thất vọng ngay. Người ngoại quốc cũng thế. Nước ta ở một tình trạng nan giải. Quê hương nghèo nàn, nô lệ nhiều năm, mới thoát ra khỏi cuộc chiến tranh hơn ba mươi năm và với một đất nước nhỏ bé, ngôn ngữ ngoài phạm vi nước mình thì có mấy ai thèm biết tới, cho nên, những cáí hay đẹp của ta như ca dao, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du ... , dịch sang ngoại ngữ găp nhiều trở ngại. Mà chính ra ca dao không thể dịch, không nên dịch. Văn hóa là một sự giao thoa và có phần vay mượn nếu bản ngữ không thể thay thế. Tôi vẫn nhớ câu chuyện ngày xưa ông Thầy dạy Pháp văn khi giảng một bài văn Việt ra tiếng Pháp, giải thích rằng chính người Pháp “văn minh” là thế mà khi dịch từ nhà quê hoặc nước mắm cũng bí đành phải thêm vào vốn từ vựng Pháp ngữ của họ là le Nhaque, le Nuocmam …nữa kia!
Ca dao đã mất hút từ hơn 100 năm nay. Không phải các thi sĩ giết chết ca dao bằng những tập thơ ấn loát đẹp và phổ biến về tận làng mạc xa xôi. Chẳng ai giết nổi ca dao khi nó còn sống và cần sống. Chẳng ai cứu nổi ca dao khi nó muốn chết và cần chết. Ði một chu kỳ ngót bốn ngàn năm, ca dao đã sáng tác thừa thải cho dân tộc sử dụng. Ðã đến lúc ca dao chấm dứt bổn phận của nó. Văn học dân gian cũng thế. Cái tối cần thiết hôm nay là tìm tòi ca dao còn ẩn mặt tại nông thôn. Bây giờ, nếu bỏ ra năm sáu năm, tung những người yêu ca dao đi khắp ba miền đất nước thu thập, sưu tầm, tìm kiếm ca dao, chúng ta tin rằng mỗi miền sẽ đóng góp cho đất nước hàng chục pho sách. Bấy giờ, chúng ta giàu có ca dao. Bấy giờ, không cần ai làm ca dao nữa. Tất cả đều có trong ca dao. Nói thêm nữa bằng thừa. Ca dao tự nó biến thành nền móng và khi nó cảm thấy nền móng vững chắc rồi, ta cứ việc xây văn chương bác học. Và tiểu thuyết, thi ca cứ vất lên cái nền móng đó. Hay thì ở lại. Dở thì ném đi. Ca dao đã biết trước chúng ta, đã ly biệt hơn 100 năm nay.
Cứ dở hết ca dao ra mà coi, 1000 năm phương Bắc, có câu nào nói về Tàu, nói về quân xâm lược tàn ác nhất loài người không? Bảo là 1000 năm ấy không có kháng chiến ư? Hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Bố Cái Ðại vương ... đã khởi nghĩa đánh đuổi quân Hán phương Bắc đấy. Sử gia Lê Văn Hưu viết: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho dến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng"! Ðến 100 năm nô lệ Tây, ca dao cũng chẳng viết câu nào về quân xâm lược dã man. Bảo là 100 năm ấy không có kháng chiến ư? Chuyện 100 Tây đô hộ, ai cũng biét có kháng chiến hay không kháng chiến.
Tôi nói ca dao đã biệt ly hơn 100 năm, kể từ khi thời đại đánh mốc bằng hai câu chua xót:
Ngày xưa ta cũng có vua
Bây giờ mất nước, bonjour Toàn Quyền
Nhưng không có gì tuyệt đối cả, cũng còn vài người tương tư ca dao, thỉnh thoảng thốt lên lời cay đắng. Ca dao nói về tình ái, nói về hạnh phúc, nói về đau khổ, nói về thương yêu, nói về cười cợt, nói về nhân nghĩa... Ca dao không nói về thù hận. Những kẻ cướp nước ta đã có người đuổi chúng và diệt chúng. Ca dao không để ý việc này. Ca dao sống tự nhiên với hạnh phúc và đau khổ. Ca dao cao thượng vô cùng, không oán ghét cả kẻ thù của mình. Ca dao không khen ngợi ai. Không ai có quyền hành bắt ca dao khen mình, Thỉnh thoảng, ca dao mới lên tiếng về thống trị đi quá đà.
Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Ði thì ăn cướp quần chồng sao đang
Dân miền Bắc vốn không ưa gì Tự Đức, cảm tình đã trao tặng Quang Trung rồi. Nghĩ đến chuyện đào mả Quang Trung, lấy đầu lâu đái vào, dân đã khinh bỉ Gia Long. Mà việc Tự Ðức cấm đàn bà mặc váy, ca dao chỉ nói nhẹ nhàng. Ca dao không tàn tệ với ai cả.
Kết thúc bài này, chúng ta cùng nghe lại những đoạn ca dao miêu tả các tình huống mang tính nhân hóa sau để mà cùng …hoài niệm về ca dao Việt Nam một thời đã xa….
- Kiến tại sao mày kiện củ khoai?
- Vì nó còn sống, lại kềnh càng, cháu ăn không nổi tha về tổ không xong. Cháu tức quá đi kiện nó chơi.
- Củ khoai có nói gì không?
- Nó cứ ì ra. Cháu kiện hoài hủy.
- Mày đem việc không dáng gì đi kiện tụng. Mày ăn nó, nhưng không ăn nổi, lại bày trò kiện nó. Ðáng lẽ, nó phải kiện mày.
Con kiến mà kiện củ khoai
Kiện đi kiện lại đã hai năm tròn
Bây giờ kiến đã có con
Củ khoai mọc mậm vẫn còn kiện nhau
- Ngựa, sao mày chăm làm vậy?
- Trời sinh cháu ra, bắt cháu làm việc, bác ạ.
- Mèo, sao mày lười thế?
- Trời sinh cháu ra, muốn cháu làm biếng đấy mà, bác ơi!
Con ngựa đi Bắc về Nam
Hay ăn hay ngủ hay làm hay lo
Con mèo nằm bếp co ro
Biếng ăn, biếng ngủ, biếng lo biếng làm
- Mèo kia, mày muốn dò xét chuột, chứ mày đâu tử tế gì mà hỏi thăm nó có nhà hay không?
- Bác đi guốc trong bụng cháu.
- Rồi sao?
- Nó giả vờ giọng ai rồi xỏ xiên bảo đi mua mắm, mua muối về giỗ cha cháu.
Con mèo trèo lên cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo
- Bống này, mày khỏi củ hành đuợc không?
- Ồ tôm có hành thì cháu cũng có hành nó mới dậy mùi.
- Còn cua thì sao?
- Nó phải giã bằng chày, bác ạ!
Cá bông đi chợ cầu Canh
Con tôm đi trước củ hành theo sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.
- Gà, sao mày khoái lá chanh thế?
- Người sắp giết cháu, bác à. Cháu yêu cầu luộc cháu và cắt lá lá chanh thật nhỏ rắc lên
- Lợn, mày đòi hành chi vậy?
- Kho cháu mà có thiếu hành thì có ra gì! Thịt không hành, canh không mắm mờ lại!
- Chó, mày dặn dò gì không?
- Riềng là căn bản đã, bác ạ! Rồi mắm tôm sẽ tính sau. Hu, hu, hu...
Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng
Và cuối cùng ca dao “cười nụ ” một bà già … đỏng đảnh.
Bà già đi chợ cầu Đông
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?
Thầy bói gieo quẻ đoán rằng.
Lợi thì ….có lợi, nhưng răng …không …còn.
Hoài Nguyễn – tham khảo từ nguồn D.A


Copyright of Hoài Nguyễn
Hiển thị thêm cảm xúc

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2018

Thánh Kinh bằng hình Chúa nhật VI Phục Sinh năm B

Thánh Kinh bằng hình Chúa nhật VI Phục Sinh năm B

Ngày 10 tháng 05 năm 2015
Phúc Âm Ga 15, 9-17
Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau
Trước khi nhắm mắt lìa đời, những lời cuối cùng của một con người bao giờ cũng mang một ý nghĩa quan trọng bộc lộ cả một tấm lòng, cả tâm huyết của con người.
Trong cuộc tâm sự, bộc bạch, dặn dò này, Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại các tông đồ:” Hãy yêu thương nhau”. Đây là cốt lõi của Tin Mừng của Chúa Giêsu và cũng là giáo huấn chủ yếu của Đạo Kitô giáo. Cốt tủy của đạo do Chúa Giêsu thiết lập xem ra thật đơn giản, nhưng đầy thâm thúy, sâu sắc:”Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”( Ga 15, 12 ).
Cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là bằng chứng tình yêu của Ngài đối với Cha của Ngài, nhưng đồng thời cũng là  chóp đỉnh của tình yêu thương của Ngài đối với con người. Đây là mẫu mực và là nền tảng của tình yêu xả kỷ, tình yêu vô vị lợi, tình yêu chỉ mong hạnh phúc cho tha nhân.
Giới luật yêu thương Chúa truyền cho các môn đệ cũng là lệnh Chúa ban cho mọi Kitô hữu, những người được mời gọi đi theo Đức Kitô. Như thế, xét cho cùng đạo của Chúa Giêsu thiết lập là đạo tình thương.
Tin Mừng của Thánh Gioan 15, 9-17 đặt mọi người Kitô hữu trước thúc bách của Phúc Âm, đưa mọi người Kitô hữu vào trọng tâm của Đạo, vào cốt lõi của Đạo: ”Đạo của Chúa là Đạo tình thương, của lòng yêu mến”. Mọi đường hướng, chỉ đạo, dạy bảo nếu chúng nằm ngoài sự yêu mến, nằm ngoài tình thương của Chúa thì chúng đi ngược lại với Tin Mừng, nằm ngoài Kitô giáo.
Linh mục Nguyễn Hưng Lợi DCCT
Thánh Kinh bằng tiếng Việt
Thánh Kinh bằng tiếng Anh