Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

Thánh Joséphine Bakhita Bé Gái Miền Rừng (ngày 8/2)

Thánh Joséphine Bakhita
Bé Gái Miền Rừng
Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

Có một bé gái người dân tộc Châu Phi đang sống an vui hạnh phúc với gia đình ở một miền rừng thì bị bọn buôn người từ miền xuôi đến bắt cóc. Lúc đó em có 10 tuổi thôi. Em nói một thứ tiếng mà bọn buôn người không thể hiểu được nên chúng tự tiện đặt tên em là Duyên May (Bakhita), ra chiều em sa vào tay bọn chúng là một may mắn cho em vì em được theo chúng về thành phố sống. Chúng hành hạ em đủ trò, từ tinh thần đến thể chất. Lúc nào chúng cũng lấy xích sắt tròng vào cổ em. Sau khi chán chê em, chúng mang em ra chợ, bán em làm con ở cho một tay nhà giầu. Tay này, sau khi lấy được cái gì hắn có thể lấy được nơi em, cũng chán em nốt và sang em lại cho một tay khác.
Sau cùng, may mắn cũng đến với em vì em được một người Công Giáo tử tế bỏ tiền ra mua, mang em về nhà sống chung với gia đình ông một thời gian. Sau đó ông này dọn nhà đi về quê và muốn trả tự do cho em. Nhưng nay em tứ cứ vô thân, còn biết đi đâu nữa, nên em xin ông mang em theo. Quê ông là một xứ Công Giáo, mọi người đều tốt với em, em được sống hạnh phúc.
Một thời gian sau, em đến làm vú nuôi cho một gia đình khác. Rồi em gặp các soeurs Dòng Bác Ái. Các soeurs nói với em về Chúa Giê-su. Em cảm thấy mê say Người. Em trở thành người Công Giáo sau nhiều tháng học hỏi và được lãnh nhận các Bí Tích Rửa Tội, Mình Thánh Chúa, và Thêm Sức. Em lấy tên Thánh là Giu-se (Joséphine). Còn tên gọi vẫn là Duyên May (Bakhita).
Nhiều năm sau em xin gia nhập Dòng Bác Ái, ở trong dòng 50 năm, chỉ được giao những việc tầm thường như làm bếp, may vá, coi cổng Tu Viện. Em trở nên nổi tiếng vì dịu dàng nhân hậu. Những người nghèo khổ đến nơi Tu Viện xin cứu giúp đều được an ủi rất nhiều vì thái độ ân cần và giọng nói ngọt ngào của em.
Khi lớn tuổi thì em cũng bị đau yếu như mọi người. Lúc này cơn ác mộng bị bắt làm nô lệ của thời tuổi trẻ lại quay về hành hạ em. Trên giường bệnh người ta thường nghe tiếng em vật vã: "Xin làm ơn tháo xích sắt ra cho tôi, vì nó nặng quá."
Em được Ðức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 phong Chân Phúc vào năm 1992. Năm 1993, ngài đến thăm quê hương Sudan của em ở Phi Châu, mang theo hài cốt của em đặt bên trong một bức tượng bán thân của em do Mẹ Bề Trên Tổng Quyền Dòng Bác Ái tặng. Ngài tuyên bố: "Hỡi tất cả Phi Châu, hãy hoan hỉ vì sau cùng Duyên May (Bakhita) lại trở về với các bạn. Em là một cô gái Sudan bị bắt làm nô lệ, như một món hàng hóa trao đổi, nhưng em vẫn tự do, tự do với sự tự do của các Thánh."
Tháng 10 năm 2000, Duyên May (Bakhita) được phong Hiển Thánh bởi Ðức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2. Duyên May hay Bakhita Joséphine là người nô lệ da đen Phi Châu đầu tiên được phong Thánh. Tên thật của cô do bọn buôn nô lệ đặt là Bakhita, nghĩa là Duyên May. Khi trở thành người Công Giáo cô chọn tên Thánh là Joséphine.
Cô sinh năm 1868 tại Sudan, bị bắt làm nô lệ qua nhiều chủ, sau cùng được Callisto Legnani, vị lãnh sự Italia tại Sudan, bỏ tiền chuộc lại. Khi ông và gia đình quay về Italia, cô xin đi theo họ. Cô qua đời năm 1947 tại Italia. Ngày lễ kính Thánh Bakhita Joséphine hàng năm là ngày 8 tháng 2.

Ðộc giả Hoàng Thiên Ân

(Trích dẫn từ Ephata Việt Nam số 100, năm 2003)

Một số nhận định của ÐTGM Nagasaki và của ÐHY José Saraiva Martins về chứng tá của 188 vị tử vì đạo Nhật Bản

Một số nhận định của ÐTGM Nagasaki
và của ÐHY José Saraiva Martins
về chứng tá của 188 vị tử vì đạo Nhật Bản

Prepared for Internet by Radio Veritas Asia, Philippines

Một số nhận định của Ðức Cha Mitsuaki Takami, Tổng Giám Mục Nagasaki và của Ðức Hồng Y José Saraiva Martins, nguyên Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, về chứng tá của 188 vị tử vì đạo Nhật Bản.
Nagasaki, Nhật Bản (Vat. 24/11/2008; Avvenire 20-11-2008; RG 20-11-2008) - Sáng ngày 24-11-2008, Ðức Hồng Y José Saraiva Martins, nguyên Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, đặc sứ của Ðức Thánh Cha, đã chủ sự thánh lễ tôn phong chân phước cho 188 vị tử đạo Nhật Bản, tại vận động trường đấu banh bầu dục ở Nagasaki bên Nhật Bản.
Ðứng đầu danh sách 188 vị tử đạo là cha Phêrô Kassui Kibe, dòng Tên, 3 Linh Mục khác và 184 giáo dân, trong đó có 60 phụ nữ, 33 thanh thiếu niên dưới 20 tuổi và 18 trẻ em dưới 5 tuổi. Vị tử đạo trẻ nhất là Ignatio 1 tuổi, 2 em Regina và Benedetto 2 tuổi, có 7 em khác 3 tuổi. Người lớn tuổi nhất là bà Madalena Hayashida 68 tuổi. Trong số các vị tử đạo cũng có vài người là các Samurai. Các vị đã bị giết giữa các năm 1603-1639.
Tham dự thánh lễ phong chân phước cũng có phái đoàn công giáo Việt Nam, do Ðức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Sài Sòn, hướng dẫn. Ngoài Ðức Hồng Y còn có Ðức Cha Phêrô Trần Ðình Tứ, Giám Mục Phú Cường, Ðức Cha Phaolô Bùi Văn Ðọc, Giám Mục Mỹ Tho, 3 Linh Mục và hai giáo dân.
Giáo Hội Công Giáo Nhật Bản hiện có 450 ngàn tín hữu trên tổng số 127 triệu dân. Tuy con số ít ỏi, nhưng Giáo Hội nắm giữ vai trò quan trọng trong đời sống xã hội nhờ các trường học, nhà thương và các hoạt động bác ái xã hội do Giáo Hội điều khiển. Giáo phận Nagasaki là cộng đoàn công giáo cổ xưa nhất Nhật Bản. Tuy số giáo dân đứng hàng thứ hai sau Tokyo, nhưng Nagasaki có đông linh mục nhất, với 100 linh mục giáo phận, và 40 linh mục dòng. Giáo phận cũng cử các linh mục đến làm việc trong các giáo phận khác. Tiểu chủng viện của tổng giáo phận Nagasaki có 25 chủng sinh, trong đó có 16 chú gốc Nagasaki. Ðây cũng là tiểu chủng viện duy nhất tại Nhật Bản.
Sau chuyến viếng thăm mục vụ của Ðức Gioan Phaolô II hồi năm 1981 Giáo Hội được người dân Nhật chú ý nhiều hơn, và có rất nhiều cặp vợ chồng trẻ xin phép được làm đám cưới trong các nhà thờ công giáo.

Sau đây chúng tôi gửi tới qúy vị và các bạn một số nhận định của Ðức Cha Mitsuaki Takami, Tổng Giám Mục Nagasaki và của Ðức Hồng Y José Saraiva Martins, nguyên Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, về chứng tá của 188 thánh tử đạo Nhật Bản.
Hỏi: Thưa Ðức Cha Takami, lễ phong chân phước đã tới sau một lộ trình kéo dài nhiều năm. Ðâu đã là các giai đoạn của lộ trình này thưa Ðức Cha?
Ðáp: Sự dấn thân cho việc phong chân phước cho 188 vị tử đạo Nhật Bản đã bắt đầu với chuyến viếng thăm mục vụ của Ðức Gioan Phaolô II hồi năm 1981. Trong khi chuẩn bị cho chuyến viếng thăm này của Ðức Gioan Phaolô II Ðức Hồng Y Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo đã gặp Linh Mục Diego Yuki, hồi đó là Giám đốc viện bảo tàng của 26 vị tử đạo. Năm sau đó Hội Ðồng Giám Mục Nhật Bản đã thành lập Ủy ban đặc trách việc xin phong chân phước cho 188 vị tử đạo nói trên. Ủy ban này đã làm việc một cách không liên tục cho tới cách đây 3 năm, khi Cha Misobe được chỉ định làm Chủ tịch, thì công việc mới được tiến hành nhanh chóng hơn, với các tìm kiếm và nghiên cứu tại 17 quê quán hay nơi sinh sống của các vị tử đạo, tất cả là giáo dân thuộc mọi giai tầng xã hội, ngoại trừ 4 linh mục và 1 tu sĩ. Sau cùng ngày mùng 1-6-2007 Bộ Phong Thánh đã chập thuận và Ðức Thánh Cha Biển Ðức XVI đã ký sắc lệnh và công bố ngày phong chân phước vào tháng 10.
Hỏi: Thưa Ðức Cha đây là lần đầu tiên lễ tôn phong chân phước được tổ chức tại Nagasaki bên Nhật Bản. Việc lựa chọn Nagasaki có theo dấu vết của truyền thống hay không?
Ðáp: Các Kitô hữu Nhật Bản coi Nagasaki như là chiếc nôi lòng tin của họ. Nhưng thành phố này đã được chọn vì nhiều lý do thuận tiện và cụ thể khác nữa, chẳng hạn vì số linh mục của giáo phận đông đảo cần thiết cho việc tổ chức. Tại Nagasaki Giáo Hội Công Giáo được thừa nhận như là một cộng đoàn quan trọng. Ngoài việc ủng hộ Giáo Hội, chính quyền thành phố còn cho mượn sân vận động để tổ chức lễ phong chân phước ngày 24 tháng 11. Chính quyền đánh giá cao việc có đông đảo tín hữu lui tới các nhà thờ. Dĩ nhiên đó cũng là ước mong của chúng tôi. Nhưng chúng ta cũng không được quên rằng con số 60.000 tín hữu tại Nagasaki cũng đang giảm sút. Vì các gia đình có ít con, có nhiều người di cư đi sống tại các nơi khác và số người lớn theo đạo cũng giảm.
Hỏi: Biến cố phong chân phước cho các vị tử đạo có trở thành dịp suy tư cho toàn nước Nhật hay không thưa Ðức Cha?
Ðáp: Làm cho người Nhật, kể cả các tín hữu công giáo hiểu ý nghĩa của việc tử đạo thật không luôn luôn là điều dễ dàng. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên một lễ nghi phong chân phước được cử hành trên đất Nhật. Vì khó mà thông truyền ý nghĩa của việc tử đạo cho người khác nên Hội Ðồng Giám Mục đã cho công bố các tài liệu về các vị tử đạo, và Ủy ban đặc trách lễ phong chân phước đã tổ chức nhiều cuộc gặp gỡ. Thế rồi mỗi giáo phận cũng đã dấn thân giải thích cho mọi người hiểu ý nghĩa của lễ phong chân phước.

Tiếp theo đây là vài nhận định của Ðức Hồng Y José Saraiva Martins, nguyên Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, đặc sứ của Ðức Thánh Cha, chủ sự thánh lễ phong chân phước này.
Hỏi: Thưa Ðức Hồng Y, 188 chân phước tử đạo Nhật Bản đã để lại sứ điệp nào cho Giáo Hội hoàn vũ nói chung và cho Giáo Hội Nhật Bản nói riêng?
Ðáp: Trước hết các vị đưa ra cho chúng ta một sứ điệp rất phong phú, thời sự và quan trọng. Sứ điệp thứ nhất hướng tới người trẻ và giáo dân. Trong số 188 vị tử đạo có 183 vị là giáo dân, chỉ có 5 vị là linh mục thừa sai gồm 4 vị dòng Tên và 1 vị dòng thánh Agostino. Chúng ta biết là Ðức Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh rất nhiều trên vai trò của giáo dân giữa lòng Giáo Hội và ngài đã khẳng định rằng sự thánh thiện không phải chỉ dành để cho các linh mục và các nữ tu, mà cả cho giáo dân và cho toàn thể Giáo Hội nữa. Nên thánh là ơn gọi của mọi Kitô hữu. Vì thế một trong các điểm của sứ điệp là nhắc nhớ cho anh chị em giáo dân biết rằng họ được mời gọi nên thánh và làm chứng cho điều quan trọng nhất trong Giáo Hội là sự thánh thiện. Tử đạo là chứng tá mạnh mẽ nhất: thích hiến dâng mạng sống hơn là chối bỏ lòng tin của mình. Ðiều này giả thiết các vị đã sống lòng tin một cách sâu xa trong cuộc sống thường ngày.
Thế rồi còn có một điểm khác nữa của sứ điệp hướng tới các gia đình Kitô. Trong số các vị tử đạo có nhiều gia đình gồm cha mẹ và con cái. Chúng ta biết tình trạng gia đình trên thế giới ngày nay đang gặp khủng hoảng như thế nào. Rất tiếc là các giá trị của gia đình ngày càng mờ nhạt đi, nhiều khi cho tới chỗ biến mất không còn gì. Vì vậy sự kiện cả gia đình đều chết vì đạo nhắc nhớ cho các gia đình ngày nay, cha mẹ và con cái, phải sống chứng tá cho lòng tin, sống lòng tin sâu đậm. Vì vậy đậy không phải là một chứng tá cá nhân, mà là chứng tá tập thể của toàn gia đình, là Giáo Hội tại gia.
Hỏi: Thưa Ðức Hồng Y tại sao các vị lại đã bị bách hại và bị giết chết như thế?
Ðáp: Chắc chắn không phải là vì các lý do chính trị hay kinh tế rồi, vì chúng ta biết rõ là vào thời đó cũng có các người Bồ Ðào Nha, Tây Ban Nha, người tây phương nói chung, sang Viễn Ðông buôn bán doanh thương. Thái độ khép kín với Tây Âu và nền văn hóa tây âu cũng đã khiến cho Giáo Hội Công Giáo bị liên lụy. Do đó có thể có người giải thích sự tử đạo này trong chìa khóa chính trị. Vì đạo Công Giáo đã do người tây phương đưa vào Nhật Bản, và người ta chống lại người tây phương nên họ cũng chống lại tín hữu công giáo. Nhưng giải thích như thế không đúng. Các tín hữu này đã hy sinh mạng sống vì lòng tin. Ðây là lý do đã được các nghiên cứu lịch sử minh chứng. Cái chết của các vị không thuộc trật tự trần thế, dân sự, kinh tế hay hành chánh, mà hoàn toàn thuộc trật tự tôn giáo. Người ta đã thù ghét người công giáo, vì sợ họ bành trướng tại các vùng đất viễn đông. Vì thế đã có môt cuộc bách hại rất mạnh mẽ và bạo lực chống lại các Kitô hữu. Bằng chứng là người ta hứa cho tiền những ai tố cáo các Kitô hữu. Chẳng hạn ai tố cáo một linh mục thì được thưởng 10 đồng; ai tố cáo một tu sĩ thì được thưởng 5 đồng; ai tố cáo một giáo dân thì được thưởng 3 đồng. Vì thế lý do cái chết vì lòng tin của các vị rất là rõ ràng.
Ngoài ra còn có một sự kiện khác nữa: đó là những người bách hại các Kitô hữu quảng cáo biến cố xử tử các Kitô hữu bằng cách chém đầu, hay đóng đanh hoặc thiêu sống khi các vị còn sống, và họ muốn cho nhiều người tới chứng kiến các vụ hành quyết. Ðể làm gì vậy? Ðể nói rằng: "Hãy coi đó, nếu các người trở thành Kitô hữu hay nếu các người không chối bỏ lòng tin của mình, thì các người cũng sẽ chịu số phận như thế". Họ đã quảng cáo rất mạnh mẽ cho các vụ hành quyết nhóm. Dĩ nhiên sự kiện này đã gây ra một hiệu qủa mà chính họ đã không ngờ tới: đó là khi làm như thế họ đã khiến cho có rất nhiều nhân chứng và chứng từ lịch sử rất qúy báu của các vụ bách hại đó.
Dầu sao đi nữa thì vẫn có một điều rất chắc chắn trên bình diện lịch sử: đó là lý do duy nhất khiến cho 188 vị đã bị giết chết là lòng tin, mà các vị đã nhất quyết không chối bỏ, cho dù có phải hy sinh mạng sống đi nữa.
Hỏi: Thưa Ðức Hồng Y, Ðức Hồng Y có trông thấy một tương quan giữa vụ bách hại Kitô hữu Nhật Bản hồi thế kỷ XVI với các cuộc bách hại tại Á châu hiện nay như bên Ấn Ðộ, Indonesia và Irak hay không?
Ðáp: Có. Chắc chắn là có tương quan rồi, một tương quan giáo hội rất sâu đậm trong nghĩa này: đó là Giáo Hội công giáo, Giáo Hội của Chúa Kitô là một Giáo Hội của các vị tử đạo và đã luôn luôn là Giáo Hội của các vị tử đạo. Trong hơn hai ngàn năm lịch sử của mình Giáo Hội đã không bao giờ cởi bỏ chiếc áo đẫm máu tử đạo của mình. Giáo Hội mà Chúa Kitô đã nghĩ, đã muốn, đã thành lập, để tiếp tục sứ mệnh của Chúa sau khi Người về trời, không chỉ là Giáo Hội của lời sai "các con hãy ra đi và dậy dỗ", tức Giáo Hội truyền giáo; cũng không phải chỉ là Giáo Hội thánh thể được xây dựng trên bí tích Thánh Thể "hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy"; mà cũng là Giáo Hội của các vị tử đạo nữa, vì Chúa Giêsu đã nói: "Nếu họ đã bắt bớ Thầy thì họ cũng sẽ bắt bớ các con". Ðó là lý do của các cuộc bách hại dọc dài lịch sử Giáo Hội, trong các thế kỷ thời Giáo Hội khai sinh cũng như trong các thế kỷ sau đó và cho tới ngày nay. Chúng phản ánh lời của Chúa Giêsu và là bằng chứng cho thấy Giáo Hội thực sự là Giáo Hội của các vị tử đạo.
Và chính máu các vị tử đạo khiến cho Giáo Hội được phong phú và khiến cho sự hữu hiệu và thừa tác của Giáo Hội được phong phú. Chúng ta không được ảo tưởng: Giáo Hội truyền giáo cũng là Giáo Hội của máu: đó là chứng tá cao cả mà Chúa Kitô đã là người đầu tiên sống và nó phải phản ánh trên mọi thành phần của thân mình Chúa Kitô. Như thế Kitô hữu phải luôn sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình để bảo vệ lòng tin nếu cần. Ðó là điều đã xảy ra và đang xảy ra tại những nước mà qúy vị vừa nhắc tới trên đây.

Linh Tiến Khải
(Radio Vatican)

Các Thánh Tử Đạo Nhật Bản

Các Thánh Tử Đạo Nhật Bản
A.D. 1597 (ngày 5 tháng  2)


Đế quốc Nhật Bản được khám phá ra khoảng năm 1541 do các thương gia Bồ Đào Nha; Japan (Nhật bản) là tên của một trong các bán đảo hợp thành đế quốc. Nó được chia thành những vương quốc nhỏ, tất cả tuân phục một Hoàng Đế. Các thành phố chính là Meaco và Jedo. Cung cách của người dân này khác hẳn với cung cách của chúng ta trong nhiều trườg hợp. Đặc tính của họ là tự hào, và trọng danh dự một cách thái quá. Họ thờ những thần hình quái dị, và được xem là biểu tưởng cho một số tổ tiên độc ác nổi tiếng:  đáng kể nhất là Amida và Xacha. Các sư sãi của họ được gọi là Bonzas, và tất cả đều vâng phục Jaco, hoặc sư cả.
Thánh Phan-xi-cô Xaviê đến Nhật bản năm 1549, rửa tội cho rất nhiều người, và toàn bộ các tỉnh lị đã lãnh nhận đức tin. Các đại đế vương của Arima, Bungo, và Omura gởi cho Đức Giáo Hoàng Gregory XIII một sứ mệnh tuân phục long trọng  năm 1582, và năm 1587 đã có trên hai trăm ngàn Kitô hữu tại Nhật Bản; trong số những Kitô hữu này có mấy  nhà vua, hoàng hậu, và bonzas; thế nhưng vào năm 1588, Cambacundono, một ông vua ngạo mạn đã cướp dành cho mình những danh dự của một vị thần, ra lệnh cho tất cả các Giáo Sĩ Dòng tên trong vòng 6 tháng phải rời khỏi các lãnh địa của ông. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cải trang ở lại đó.
 Năm 1593, cuộc bắt bạo tiếp tục, và một số người Nhật cải đạo lãnh nhận triều thiên tử đạo.Hoàng đế Tagcosama, một trong những con người kiêu căng và nham hiểm nhất, đã nổi giận và ghen tương vì bị một số thương gia Âu Châu muốn giữ độc quyền buôn bán ở đó, gieo sự nghi ngờ, họ nói với vua rằng các nhà truyền giáo rao gỉang đức tin Kitô giáo là có ý giúp người Bồ đào Nha hay Tây Ban Nha xâm chiếm đất nước cách dễ dàng. Năm 1957 ba Giáo Sĩ thuộc Dòng Tên và 6 thuộc Dòng Phan-xi-cô bị đóng đinh vào thập tự trên một nọn đồi gần Nagasaki. Các Giáo Sĩ Dòng Phan-xi-cô một số là người Tây ban Nha, và một số là người Ấn Độ, và người đứng đầu là Cha Phêrô Baotixita, chính uỷ của Dòng, quê ở Avila, Tây Ban Nha. Trong số các Giáo Sĩ Dòng Tên, có Phaolô Miki, một người Nhật Bản thuộc gia đình quý phái và là một nhà giảng thuyết lừng danh, lúc đó ngài 33 tuổi. Hai người kia là Gioan Goto và Gia-cô-bê Kisai vào Dòng đang khi  trong tù chỉ một thời gian ngắn trước khi bị khổ hình. Một số tân tòng người Nhật cùng chịu khổ hình với các ngài. Có tất cả 26 vị chết vì đạo, trong số đó có ba chú giúp lễ; hai thiếu niên tuổi 15, và người thứ ba 12 tuổi, thế nhưng mọi người đều vui sướng và kiên trì trong đau khổ. Hai mươi vị trong số này được đem về Meaco, ở đây họ chỉ bị cắt một phần tai trái, thay vì phải cắt mũi và cả hai tai. Các vị này bị dẫn qua nhiều thành phố và những nơi công cộng, má họ đẫm máu để làm kinh hoàng cho những người khác.
Khi 29 chiến sĩ của Đức Kitô được dẫn đến nơi hành hình gần Nagasaki, các ngài được phép xưng tội với hai giáo sĩ dòng tên trong tỉnh đó, rồi bị trói tay và chân vào thập giá bằng giây thừng và giây xích, với một miếng sắt bó quanh cổ, dựng cao lên trên không, chân mỗi thập giá cắm vào một lỗ đã đào sẵn dưới đất. Các thập giá được dựng thành hàng ngang, mỗi thập giá cách nhau 1m2, mỗi người có một lính hành hình đứng bên tay cầm giáo để đâm vào cạnh sườn, vì đây là cách xử án thập tự của người Nhật. Khi tất cả thập gía được dựng lên, những người hành hình giơ giáo lên, và khi được lệnh, tất cả cùng đâm vào những người chịu tử hình; ngay lúc đó họ tắt hơi và đến lãnh nhận phần thưởng của những cực hình họ đã chịu. Máu và áo của họ được các Kitô hữu cất giữ và các phép lạ được thực hiện từ đó. Đức Urban VIII, được xếp vào hàng các vị tử đạo, và được tôn kính vào ngày 5 tháng Hai, ngày khải hoàn của các ngài. Những nhà truyền giáo còn sót lại thì bị mang lên tàu đưa ra khỏi các lãnh địa này, ngoại trừ 28 linh mục, đã cải trang trốn ở lại.
Khi sắp chết, Tagcosama ra lệnh không được thiêu xác ông ta theo tục lệ ở Nhật, nhưng phải được bảo trì cất giữ trong cung điện Fuximi , để ông ta có thể được  sùng kính cùng với các thần dưới tước hiệu tân thần chiến tranh. Ngôi đền nguy nga nhất trong đế quốc được xây lên cho ông ta và xác của ông được đặt trong đó. Các tu sĩ Dòng Tên trở lại Nhật ngay sau đó, và mặc dầu chỉ có khoảng một trăm nhà truyền giáo, năm 1599 các ngài đã cải đạo được 40 ngàn người, và năm 1600 trên 30 ngàn người, xây 50 nhà thờ, vì dân chúng rất lấy làm công phẫn khi thấy vua này là một bạo chúa tham lam, kiêu căng và nham hiểm nhất lại được sùng kính như là thần thánh. Thế nhưng, năm 1602 Cubosama lại tiếp tục cuộc bắt đạo đẫm máu, và nhiều người Nhật trở lại bị chém đầu, đóng đinh và thiêu sống.
Năm 1614, những dã man mới được áp dụng để chế ngự sự kiên trì của các tín hữu như kẹp dập bàn chân giữa hai miếng gỗ, cắt hoặc vặn tay chân , châm sắt nung đỏ vào người, lột da móng tay, dí than đỏ vào bàn tay, dùng kìm xẻo thịt, lấy giáo đâm vào các phần thân thể, xoay tròn để xẻo thịt, cho đến khi họ mở miệng chối bỏ đức tin—vô số người không thể đếm được kể cả trẻ em đã kiên trì chịu đựng cho đến khi tắt thở. Năm 1616, Xongun lên kế vị còn hung bạo hơn cha là Cubosama.
Nổi tiếng hơn cả trong số những anh hùng đạo đức lày là Cha Charles Spinola. Ngài thuộc hàng quý tộc Genoese, vào tu Dòng Tên ở Hole, lúc đó chú của ngài là Đức Hồng Y Spinola là Giám Mục của thành phố đó. Với lòng nhiệt thành và ước ao được tử vì đạo, ngài xin sang Nhật truyền giáo. Ngài đến đó năm 1602, hoạt động nhều năm trong cánh đồng truyền giáo, mang được nhiều người về với Chúa Kitô nhờ đức tính ôn hoà và đời sống khổ chế, vì thức ăn hằng ngày của ngài chỉ là một ít cơm và rau. Ngài phải chịu 4 năm tù tàn bạo nhất, suốt thời gian này ngài phải chịu những cơn sốt hãi hùng, ngài không thể có được một giọt nước lã ngoài bữa ăn từ người canh gác; thế nhưng từ trong tù ngục, ngài viết : “Thưa Cha, thật ngọt ngào và vui sướng dường bao khi được chịu đau khổ vì Chúa Giêsu Kitô! Con đã thấy rõ điều này bằng những kinh nghiệm hơn là con có thể diễn tả, nhất là từ khi chúng con ở nơi tù ngục này và vẫn tiếp tục ăn chay. Thaân xác con giờ thì đã tiều tuỵ, nhưng con càng thấy sung sướng khi nhìn thấy cái chết gần kề. Thật là hạnh phúc cho con, ước gì lễ Phục Sinh tới, con sẽ hát Alleluia trên trời với cộng đoàn các Thánh!”
Trong bức thơ dài gửi cho chú Maximilian Spinola, Ngài nói: “Ôi nếu chú nếm được sự hoan hỷ mà Thiên Chúa đổ đầy vào những tâm hồn phục vụ Người, và chịu cực khổ vì Người, chú sẽ lên án biết là chừng nào tất cả những gì mà thế gian hứa tặng! Bây giờ cháu bắt đầu là người môn đệ của Chúa Giêsu Kitô, bởi vì chính vì tình yêu của Người mà cháu bị giam trong tù, nơi mà cháu phải chịu muôn vàn cực khổ. Nhưng cháu bảo đảm với chú rằng khi cháu lả đi vì đói, Thiên Chúa tăng sức mạnh cho cháu bằng sự an ủi ngọt ngào của Người, do đó cháu nhận thấy đã được đền bù cho việc phục vụ Người. Mặc dầu cháu chưa qua khỏi những năm tù, thời gian như có vẻ ngắn lại, nhờ lòng ao ước tột độ được chịu khổ vì Người, Đấng ngay bây giờ sẽ đền bù cho những lao nhọc của chúng ta. Ngoài những bệnh tật khác, cháu đã bị dằn vặt vì cơn sốt liên tục cả trăm ngày nhưng không có một liều thuốc uống hoặc được ăn uống đầy đủ. Tất cả thời gian này, tâm hồn cháu tràn ngập niềm vui, và cháu cảm thấy tâm hồn cháu quá nhỏ bé để chứa đựng nó. Cháu chưa bao giờ cảm thấy trái tim cháu có thể đủ để chứa niềm sung sướng này, và cháu nghĩ là cháu đã đến được cổng thiên đàng.” Sự vui sướng của ngài lên đến cực độ khi đưc tin ngài sẽ bị thiêu sống, và ngài không bao giờ ngừng tạ ơn Chúa vì ơn huệ cao cả mà ngài cảm thấy mình bất xứng. Ngài được dẫn đi từ nhà tù cuối cùng của ngài ở Omura tới Nagasaki, tại đây 50 vị từ đạo cùng chịu cực hình trên một ngọn đồi trong tầm nhìn của thành phố —9 giáo sĩ Dòng Tên, 4 Dòng Phan-xi-cô, và 6 Dòng Đa-minh, số còn lại là giáo dân; 25 người bị thiêu, những người khác bị chém đầu. 25 cọc nhọn được xếp thành hàng ngang, và các vị tử đạo bị cột vào đó. Lửa được châm bên dưới đống củi cách các ngài  7m5, rồi lan dần dần, khoảng hai tiếng thì đến các ngài. Cha Spinola đứng thẳng, mắt hướng về trời cho tới khi sợi dây trói ngài cháy, ngài rơi vào đống lửa và bị thiêu rụi ngày 02 tháng 9 năm 1622, lúc đó ngài 58 tuối. Những người khác, đặc biệt là các tu sĩ Dòng Tên chịu cực hình bằng nhiều cách, hoặc bị thiêu sống bằng lửa cháy âm i, hoặc bị đóng đinh, chém đầu, hay ném vào núi lửa, hoặc treo ngược đầu xuống trong cái hố và cực hình này dày vò các ngài trong 3 hay 4 ngày trước khi chết.
Năm 1639, các người Bồ Đào Nha và những người Châu Âu khác, trừ Hoà Lan, bị cấm không được vào Nhật, ngay cả để buôn bán; cả các nhà đại sứ mà Bồ Đào Nha sai tới đó cũng bị chém đầu. Năm 1642, 5 tu sĩ Dòng Tên lén vào Nhật, những chẳng bao lâu bị khám phá ra, và sau khi chịu các cực hình dã man, bị treo ngược, đầu nằm trong hố cho tới khi tắt thở. Như vậy, nước Nhật đã khích lệ chiến sĩ Giáo Hội và đã làm cho Giáo Hội được khải hoàn nhờ các Thánh Tử Đạo vinh quang.


Trích "The Lives of the Fathers, Martyrs and Other Principal Saints" by the Rev. Alban Butler, 1984
Sơ Têrêsa Trần Kim, MTG Đàlat chuyển ngữ

THÁNH HIÊRONIMÔ EMILIANÔ, (St.Jerome Emiliani) Lập dòng Ngày 8/2

THÁNH HIÊRONIMÔ EMILIANÔ,
(St.Jerome Emiliani)
Lập dòng
Ngày 8/2

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Chúa nói:” Ai thực hành các điều răn và dạy người khác làm như thế, sẽ được coi là kẻ lớn nhất trong Nước Trời “( Mt 5, 19 ). Thánh Hiêronimô là người nhiệt thành phục vụ các trẻ em mồ côi. Thánh nhân có tinh thần bác ái cao độ và lòng yêu thương trẻ em khốn khổ, những bệnh nhân, những người đau yếu tật nguyền.

THÁNH HIÊRONIMÔ :
Thánh Hiêronimô sinh tại Venise nước Ý vào năm 1481 trong một gia đình đạo đức. Vào tuổi trưởng thành như bao chàng trai khác thời đó, Thánh Hiêronimô gia nhập quân đội Ý để cùng với đất nước bảo vệ miền Castelnovo và miền Quero, thành phố đang bị địch quân chiếm đóng. Như các người lính khác, thánh nhân bị địch bắt làm tù binh và Ngài được Mẹ Maria cứu thoát một cách lạ lùng. Thánh nhân có một tấm lòng bác ái siêu vời, vì thế, Ngài hướng về các trẻ em mồ côi, những trẻ em bị mất cha mất mẹ, giáo dục và yêu thương chúng theo tinh thần Kitô giáo. Bắt đầu công việc bác ái từ thành Venise, thánh nhân rảo qua các miền khác như Brescia, Berfame, Côme và hướng dẫn, điều hành nhiều viện mồ côi và nhiều hội đoàn bác ái. Với tinh thần quảng đại, lòng bác ái vị tha, sự quan tâm yêu thương người nghèo, trẻ mồ côi, thánh nhân đã dừng chân ở Somasque, một miền quê hẻo lánh tại Bergame.

THÁNH NHÂN LẬP DÒNG BÁC ÁI PHỤC VỤ BỆNH NHÂN VÀ TRẺ EM MỒ CÔI:
Thánh Gioan đã ghi lại lời Chúa:” Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng thương yêu nhau”( Ga 13, 35 ). Tại Somasque, thánh nhân được ơn soi sáng của Chúa và sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, Ngài đã lập một Hội Dòng mới lấy tên là Somasque và Dòng của Ngài đã được Đức Thánh Cha Piô V phê chuẩn. Dòng của thánh nhân thành lập có mục đích chăm sóc bệnh nhân và lo cho các em cô nhi, các trẻ mồ côi không ai chăm sóc. Năm 1537, Ngài bị lây nhiễm bệnh đang khi hăng say săn sóc bệnh nhân và qua đời lúc 56 tuổi.

Lạy Chúa là Cha giầu lòng thương xót, Chúa đã ban cho những kẻ mồ côi một người Cha và một người bảo trợ là thánh Hiêronimô. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu cho chúng con biết trung thành giữ tinh thần nghĩa tử, nhờ đó, chúng con được xứng danh là con cái Chúa.

THÁNH PHAOLÔ MIKI, linh mục (St. Paul Miki) và các bạn tử đạo.

THÁNH PHAOLÔ MIKI, linh mục
(St. Paul Miki)
và các bạn tử đạo.

Ngày 6/2
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Tertullien đã viết:” Máu tử đạo là hạt giống trổ sinh người tín hữu”. Thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo đã làm kiên vững Hội Thánh tại Nhật Bản.

PHAOLÔ MIKI và CÁC BẠN TỬ ĐẠO: Thánh Phaolô Miki sinh ra tại đất nước Nhật Bản vào thế kỷ XVI giữa lúc nước Nhật cấm cách, bắt bớ đạo công giáo một cách thật gắt gao. Thánh nhân là một tu sĩ Nhật Bản rất hăng say, nhiệt thành với công việc loan báo Tin Mừng. Điều mà sử gia Tertullien đã viết quả thực được thể hiện nơi

Phaolô Miki và các bạn. Vì hăng say với công việc truyền giáo, ngày 5/2/1597 trên một chuyến tầu, Phaolô Miki và 25 người bạn đã bị quan quân Nhật Bản bắt nhốt, bị lên án tử bằng hình phạt  treo Phaolô và các bạn của Ngài trên những cây thập giá đối diện với bờ biển. Bị cực hình, bị treo lên những cây thập tự giá, nắng, gió, đau đớn, nhưng với ơn Chúa giúp thánh Phaolô Miki và các bạn vẫn tươi vui, phấn khởi, không hề sợ sệt và vẫn hăng hái, sốt sắng giảng đạo, khuyên răn các người đến xem ăn năn hối cải, trở về với Thiên Chúa. Thánh nhân tha thứ cho những kẻ sỉ nhục, hành hạ và kết án Ngài cùng các bạn. Quan quân Nhật Bản quá tức giận vì thái độ bình tĩnh và không sợ sệt của các Ngài, nên đã đâm chết Phaolô Miki và các bạn của Ngài.

THIÊN CHÚA TRAO BAN TRIỀU THIÊN: Lời thánh vịnh viết:” Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong vui sướng. Ai gieo trong nước mắt, sẽ về giữa tiếng cười”. Thánh Phaolô Miki và 25 người bạn đã được diễm phúc tử vì đạo với hình phạt nặng nề như Thầy của mình là bị đóng đinh trên thập tự giá.Thiên Chúa và Giáo Hội đã tôn vinh các Ngài.

Lạy Chúa là nguồn sức mạnh của các thánh, Chúa đã gọi thánh Phaolô Miki và các bạn bước lên thập giá để vào cõi trường sinh. Xin Chúa thương nhận lời các Ngài cầu thay nguyện giúp cho chúng con hằng can đảm tuyên xưng đức tin và trung thành giữ vững đến hơi thở cuối cùng ( Lời nguyện ca nhập lễ, lễ thánh Phaolô và các bạn, tử đạo ).

Ngày 05-02: Thánh Agata, đồng trinh tử đạo

Ngày 05-02: Thánh Agata, đồng trinh tử đạo

Truyền thuyết cho rằng: thánh nữ Agata chào đời khoảng năm 230 tại Sicilia trong một gia đình quí phái có danh giá. Cha mẹ Ngài là những bậc nhân đức đã chuyên chú đào tạo Ngài từ thuở nhỏ nên người có đức tin vững mạnh và hướng chiều về sự thánh thiện. Bởi vậy theo các tài liệu viết về cuộc tử đạo của Ngài, thánh nữ đã quyết không kết hôn với một người nào khác ngoài Chúa Giêsu Kitô. Ngài kiên quyết hiến thân cho Thiên Chúa. Không một thú vui thế trần nào, lẫn những lời tán dương sắc đẹp của Ngài, Chúa có thể làm cho Ngài quên lãng được lời đoan hứa.
Quintianô, quan cai trị Silicia hồi đó là một con người biển lận và dâm dật. Ông ta đã hy vọng có thể dùng sắc lệnh cấm đạo của nhà vua Đêciô để thỏa mãn tính biển lận và dâm dật của mình, sau khi biết đến sắc đẹp và sự giàu sang của Agata. Ông truyền bắt người trinh nữ đến toàoxử tại Catana. Khi đưa thánh nữ tới, ông đã truyền giao Ngài cho một mụ chứa độc ác tên là Apjrodisia để mụ ta quyến rũ thánh nữ bỏ đời sống trinh khiết. Sau nhiều cố gắng mà vô hiệu, mụ chủ nhà chứa đành phải giao thánh nữ lại cho Quintiano.
Giận dữ, Quintiano bắt giải Thánh nữ tới trước mặt ông. Ông nói:
  - Người như cô mà theo đuổi cuộc sống Kitô giáo. Cuộc sống nô lệ thấp hèn, cô không xấu hổ sao?

Thánh nữ trả lời:
  - Tự do và danh giá thật là biết hết lòng phụng sự Chúa Giêsu Kitô.

Ông liền truyền đánh đòn thánh nữ rồi cho giam Ngài vào ngục thất. Hôm sau ông lại tiếp tục thẩm vấn. Lần này, trước sự cương quyết của thánh nữ, Quintiano không dằn nổi cơn giận. Ong đã truyền tra tấn thánh nữ một cách dã man đến độ xẻo bỏ cả một bên vú thánh nữ. Sau đó Agata bị bắt giam trở lại ngục thất và bị bỏ đói. Nhưng đêm đó thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành vết thương cho Agata. Một luồng sáng đã làm cho lính canh hoảng sợ bỏ chạy. Các bạn tù được dịp thoát thân. Họ khuyên thánh nữ trốn thoát, nhưng thánh nữ vẫn ở lại chờ lãnh triều thiên tử đạo.
Năm ngày sau, Quintiano ngạc nhiên khi thấy Agata lành bệnh. Ông truyền đốt một lò lửa. Agata bị ném vào than hồng. Trong khi đó một trận động đất dư dội làm rung chuyển thành phố Catana. Dân chúng nghĩ rằng, chính vì cuộc hành hung Agata đã gây nên tai họa khủng khiếp này. Họ bày tỏ lòng bất mãn đối với Quintiano. Hoảng sợ ông truyền đem Agata trơ lại ngục thất. Song những hành hạ thánh nữ phải chịu đã quá lớn đến nỗi chẳng bao lâu sau đó, Ngài đã tắt thở.
Cuộc tử đạo và lòng tôn sung rất sớm đối với thánh nữ là những sự kiện lịch sử chắc chắn. Giáo hội vui mừng vì chí cuơng quyết bảo vệ đức trong sạch của thánh nữ. Cái chết và sự chiến thắng của thánh nữ Agata chứng tỏ Thiên Chúa đã chọn những yếu đuối để làm cho bọn gian ngoan và mạnh mẽ phải hổ ngươi.
Thánh nữ Agata là vị thánh bảo trợ của thành Catana, của các vú nuôi. Thỉnh thoảng người ta cũng kêu cầu Ngài trong lúc bị đau ngực và bị phỏng lửa.

Nguồn Tổng Giáo Phận TP HCM

Thánh Blasio, Giám mục, Tử đạo và thánh Ansgario, Giám mục

Thánh Blasio, Giám mục, Tử đạo và thánh Ansgario, Giám mục


Thánh Blasio là lương y trước khi lên chức Giám mục thành Sêbáttơ miền Armeni nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Theo truyền thuyết ngài được phúc Tử đạo với một cái chết thật dã man dưới trào Hoàng đế Lixiniô khoảng năm 316.
Khi còn bị giam giữ trong ngục, ngài có chữa cho một em bé gái nuốt phải lưỡi câu. Chính vì thế mà cả Giáo Hội Đông Phương lẫn Tây Phương đều kêu cầu ngài khi người ta bị bệnh về cổ họng.
Thời Trung Cổ, ngài là một trong 14 vị thánh hay cứu giúp, hay làm phép lạ.
Thánh Ansgario được sinh ra tại Côbi vào năm 801, trở thành Tu sĩ dòng Benedict. Năm 823 trở thành giáo sư ở dòng tại Cotvay trên bờ sông Vêsơ.
Ngài truyền giáo ở Đan Mạch và Thụy Điển, thu phục được vua Ôlap. Từ năm 832, trở thành Giám mục Hambuốt và năm 847 ngài cai quản luôn giáo phận Brêmơ. Ngài qua đời tại Brêmơ ngày 3.2.865.
Xin Chúa nhận lời hai thánh chuyển cầu mà ban cho chúng con ơn can đảm làm chứng cho tình thương và lòng nhân hậu của Chúa, luôn bước đi trong ánh sáng chân lý của ngài.
Nguồn Tổng Giáo Phân TP HCM