Thứ Ba, 15 tháng 10, 2013

Chân dung Thánh tiến sĩ Teresa Avila

Chân dung Thánh tiến sĩ Teresa Avila

 

Posted on 14.10.2013 by 
01150-120x80VRNs (14.10.2013) – Sài Gòn - Ngày 15-10 hàng năm, Giáo hội Công giáo kính nhớ Thánh Tiến sĩ Teresa thành Ávila. Bà còn được gọi là Thánh Teresa Chúa Giêsu (khác với Thánh Tiến sĩ Teresa Hài Đồng Giêsu, ở Lisieux, Pháp), sinh ngày 28-3-1515 tại Gotarrendura, tỉnh Ávila, với tên “cúng cơm” là Teresa Sánchez de Cepeda y Ahumada, là một nhà thần bí danh tiếng, người Tây Ban Nha, Dòng Kín (Carmelite Order). Bà là người cải cách Dòng Kín và được coi là người sáng lập Dòng Kín Chân Đất (Discalced Carmelites) cùng với Thánh Tiến sĩ Gioan Thánh Giá (1542-1591).
Thế kỷ XVI là thời gian rối loạn và cải cách. Cuộc đời bà bắt đầu với cao điểm của thời Cải cách của Tin Lành, và chấm dứt sau Công đồng Trentô. Bà có 3 điều gây ấn tượng: là phụ nữ, sống chiêm niệm, và tích cực cải cách.
Image
Thánh nữ Tiến sĩ Têrêxa Avila (15/10)
Thánh Teresa vào tu Dòng Kín ở Avila (Tây Ban Nha) ngày 2-11-1535, dù người cha phản đối dữ dội nhưng bà vẫn quyết tu Dòng Kín. Bà là một mỹ nhân mà có biệt tài, thân mật, thoải mái, dễ thích nghi, có lòng trắc ẩn, can đảm, nhiệt thành, và rất nhân bản. Cũng như Chúa Giêsu, bà là một bí ẩn của những nghịch lý: khôn ngoan mà thực tế, thông minh mà hài hòa kinh nghiệm, thần bí mà cải cách tích cực và thánh thiện.
Bà là người sống vì Chúa, là một phụ nữ của sự cầu nguyện, kỷ luật và trắc ẩn. Bà bị hiểu lầm, bị phê phán oan sai, bị chống đối vì cải cách. Nhưng bà vẫn cương quyết, can đảm và trung tín. Bà chiến đấu với tính tầm thường của mình, với bệnh tật và với sự chống đối, nhưng bà vẫn trung thành với Thiên Chúa và cầu nguyện. Bà là người sống vì tha nhân, luôn canh tân chính mình và Dòng Kín, hướng dẫn chị em sống đúng luật dòng.
Cha của Thánh Teresa là ông Alonso Sánchez de Cepeda, có tước Hiệp sĩ, và mẹ là bà Beatriz de Ahumada y Cuevas chuyên tâm giáo dục con gái sống đạo nghiêm túc. Thánh Teresa thích đọc sách hạnh các thánh.
Lúc 14 tuổi, cô bé Teresa mồ côi mẹ, cô bé rất buồn và trở nên sùng kính Đức Mẹ để nhờ Đức Mẹ hướng dẫn tâm linh. Nhưng rồi cô bé quan tâm thái quá tới việc đọc tiểu thuyết và làm dáng, thích chăm chút vẻ đẹp. Như sau đó, cô bé Teresa bỏ được các thói quen bất lợi đó.
Image
Thánh tiến sĩ Teresa Avila
Ở trong dòng, Teresa bị bệnh nặng. Khi bị bệnh, nữ tu Teresa trải nghiệm nhiều cuộc xuất thần trong những giờ đọc sách thiêng liêng. Bà nói rằng khi bị bệnh, bà kết hợp mật tiết với Chúa, và bà thường khóc vì sung sướng. Sự phân biệt tội trọng và tội nhẹ đối với bà rất rõ ràng, bà hiểu được sự khủng khiếp của tội lỗi và bản chất của tội nguyên tổ. Bà cũng nhận biết sự bất lực của việc đối đầu với tội lỗi, và sự cần thiết của việc tuyệt đối phục tùng Thiên Chúa.
Bà hành xác nhiều (kiểu “đánh tội” ngày xưa). Nhưng Lm Francis Borgia (người giải tội cho bà, linh mục này đã được phong thánh) khuyên bà nên nghĩ theo linh hứng của Chúa. Ngày lễ Thánh Phêrô năm 1559, nữ tu Teresa tin chắc rằng Chúa Giêsu đã hiện ra với bà. Dạng thị kiến này kéo dài hơn hai năm. Trong lần thị kiến khác, thiên thần Seraphim đã lấy gươm lửa đâm thâu trái tim bà, làm cho bà đau nhức cả tinh thần và thể lý mà bà không thể diễn tả được: “Tôi thấy thiên thần cầm ngọn giáo vàng, lúc đó như có lửa. Thiên thần hiện ra với tôi và đâm ngọn giáo vào trái tim tôi vài lần, và đâm cả vào ruột gan tôi nữa. Khi thiên thần rút ngọn giáo ra, ruột gan tôi như cũng theo ra luôn, và đặt tôi trên ngọn lửa với tình yêu vĩ đại của Chúa. Rất đau, đau tới mức tôi phải kêu lên, nhưng có sự êm ái ngọt ngào vượt hơn hẳn nỗi đau dữ dội kia, tôi không muốn thoát khỏi sự đau đớn ngọt ngào đó”.
Thị kiến này trở thành nguồn cảm hứng sống suốt cả cuộc đời bà, khiến bà quyết bắt chước cách sống và chịu đau khổ vì Chúa Giêsu, bà rút gọn thành câu “châm ngôn sống” này: “Lạy Chúa, hoặc để con chịu đau khổ, hoặc cho con chết đi”.
Năm 1567, nữ tu Teresa được Bề trên Rubeo de Ravenna chấp thuận cho lập dòng mới. Từ 1567 tới 1571, các tu viện nữ cải cách được thành lập tại Medina del Campo, Malagon, Valladolid, Toledo, Pastrana, Salamanca, và Alba de Tormes.
Thánh Teresa được phép lập thêm hai nhà mới cho các thanh niên muốn theo đường lối cải cách. Bà thuyết phục Thánh Gioan Thánh Giá và Thánh Antôn Chúa Giêsu giúp bà làm việc này. Tu viện nam Carmelite Chân Đất đầu tiên được thành lập vào tháng 11-1568 tại Duruello.
Năm 1576 bắt đầu có những cuộc bách hại các Dòng Carmelite để chống lại Thánh Teresa, bạn bè và cuộc cải cách của bà. Nhưng vài năm sau thì bình an trở lại, và cuộc cải cách lại tiếp tục. Cuối cùng, ĐGH Grêgôriô XIII cho phép một tỉnh dòng đặc biệt dành cho những người trẻ là “dòng nữ đi chân đất”.
Trong 3 năm cuối đời, Thánh Teresa mở thêm các nhà dòng ở Villanueva de la Jara, thuộc miền Bắc Andalusia năm 1580, ở Palencia năm 1580, ở Soria năm 1581, ở Burgos và Granada năm 1582.
Trên đường đi từ Burgos tới Alba de Tormes, bà bị bệnh nặng. Bà qua đời vào sáng sớm ngày 15-10-1582. Lời cuối cùng của Thánh Teresa Avila: “Lạy Chúa, đã đến lúc con ra đi. Xin cho Ý Chúa nên trọn. Lạy Chúa và là Đức Lang Quân của con, giờ mà con ao ước đã đến. Đây là lúc gặp nhau”.
Năm 1622, sau 40 năm qua đời, bà được ĐGH Grêgôriô XV phong thánh. Ngày 27-9-1970, bà được ĐGH Phaolô VI tôn phong là Tiến sĩ Giáo hội. Thánh Teresa Avila và Thánh Catherina Siena là những phụ nữ đầu tiên được nhận danh hiệu Tiến sĩ Giáo hội. Cuốn tự truyện “Cuộc đời Nữ tu Teresa Avila”, viết năm 1567 theo lệnh của linh mục linh hướng Pedro Ibáñez), và cuốn “El Castillo Interior” (Lâu đài Nội tâm, viết năm 1577) là phần căn nguyên của văn chương phục hưng Tây Ban Nha cũng như tính thần bí Kitô giáo và suy niệm Kitô giáo, như bà viết trong tác phẩm quan trọng của bà là cuốn “Camino de Percción” (Con đường Hoàn hảo, viết năm 1567).
Các sách của bà đều mang tính mô phạm. Bà còn viết cuốn “Suy niệm về Sách Khôn Ngoan” (viết năm 1567, sách dành cho các nữ tu tại Tu viện Đức Mẹ Camêlô. Cuốn “Relaciones” (Thuật Lại) là phần mở rộng về cuốn tự truyện cũng cho biết những trải nghiệm nội tại và ngoại tại ở dạng những lá thư.
Bà có hai cuốn sách nhỏ là “Conceptos del Amor” (Khái niệm Yêu thương) và “Exclamaciones” (Than Van). Thánh Teresa có văn phong duyên dáng, tự nhiên, rõ ràng, đồng thời còn làm thơ hay và mượt mà nữa.
TRẦM THIÊN THU

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Kỷ niệm 44 năm Pleikly: Giáo dân các sắc tộc thiểu số trao đổi về đường hướng Tân phúc âm hóa



0289-120x80VRNs (10.10.2013) – Gia Lai – Hơn 100 Ako khul/Yao phu từ các Trung tâm Truyền giáo lớn Pleikly, Pleichuet, Chưti (Đức Cơ), Chereo-Tơlúi, Chư Đăng Ya (Hà Bầu) và H’Ra (Phú Yên – Măng Yang) do các cha DCCT Tây Nguyên hướng dẫn, thuộc Giáo Phận Kontum đã quy tụ về Trung tâm Truyền giáo Pleikly. Họ cùng nhau nhìn lại những gì Chúa đã ban cho họ, cũng như đánh giá lại đời sống cộng đoàn của họ ra sao và làm thế nào để thúc đẩy sứ vụ loan báo Tin Mừng cho người dân tộc, từ 8 giờ sáng ngày 09.10.2013.
Yao phu là cách gọi của cộng đồng Công giáo các sắc tộc Bahnar, Xêđăng hay Ako khul cách gọi người trưởng cộng đoàn Công giáo sắc tộc Jarai. Họ là những người bản địa cộng tác với các linh mục trong nhiệm vụ tông đồ truyền giáo.
Một chị Yao phu đang làm chứng việc Chúa làm trong đời chị.Một chị Yao phu đang làm chứng việc Chúa làm trong đời chị.
Yáo Phu hay Ako Khul là những người đã có gia đình hoặc chưa có gia đình, được cha sở tuyển chọn, huấn luyện về Thánh kinh, giáo lý, phụng vụ, đạo đức, nhân bản… Công việc của họ là đọc và hướng dẫn đọc Lời Chúa trong các nhóm, thuộc cộng đoàn làng, nhưng không được cử hành các bí tích như linh mục.
Ông Phaxicô Saviê Y Thành, một trong những Yao phu thuộc giáo xứ Phú Yên, giáo điểm H’Ra, Hạt Măng Yang nghẹn nghào nói: “Giáo xứ chúng tôi đang gặp khó khan, một số người đã sa ngã đi theo đạo Hà Mòn. Đạo Hà Mòn sử dụng Kinh Thánh và lời cầu nguyện của đạo Công Giáo để phá đạo và làm điều xấu. Xin mọi người cầu nguyện cho giáo xứ chúng tôi được Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn và biến đổi chúng tôi, để giáo xứ chúng tôi càng ngày càng vững tin, vững mạnh hơn và nhiều người trở về với Chúa hơn”.
Cha Mầu và cha Tín cùng ngồi nghe dân kể về sứ vụ và gợi ý chọn lựa sứ vụ tương lại với dânCha Mầu và cha Tín cùng ngồi nghe dân kể về sứ vụ và gợi ý chọn lựa sứ vụ tương lại với dân
Người đồng bào có một niềm tin, Chúa đã biết họ, đã thương họ và đã chọn họ trước khi họ biết Chúa. Bà Maria KSor ALý, giáo xứ Pleichuet, 15 tuổi theo Đạo xác tín: “Tạ ơn Chúa. Cám ơn cha và anh chị em. Chúa thương tôi khi tôi còn ở trong bụng mẹ. Khi mẹ tôi mang thai tôi được 5 tháng, mẹ tôi đã 3 lần muốn bỏ tôi do gia đình tôi quá nghèo, đông con và chưa biết Chúa, nhưng cả 3 lần đều không phá được. Chúa đã bảo vệ tôi, nên tôi biết, Chúa đã chọn tôi, để tôi giới thiệu Chúa cho người khác khi tôi chưa lọt lòng mẹ”.
Người đồng bào rất siêng đọc Kinh Thánh nên họ cảm nhận được cuộc đời của họ gắn kết với cuộc đời Chúa Giêsu. “Khi cha nhờ tôi dạy giáo lý cho người Jarai và gầy dựng hội Legio Mariae cho người Jarai thì tôi sợ lắm, vì tôi không biết làm gì hết. Tôi nghĩ rằng, cha nhờ tôi, có nghĩa là Chúa muốn tôi làm công việc này, nên tôi đã vâng lời cha giống như lời Xin Vâng của Mẹ Maria. Khi đi làm công tác mục vụ, rất nhiều người chê tôi nhưng tôi nhìn vào Thập giá Chúa Kitô, tôi không thấy sợ nữa và mặc cho người ta chê. Tôi chỉ biết phó thác cho Chúa thôi. Tôi làm công tác mục vụ ở làng không được nhưng tôi làm công tác mục vụ ở làng khác thì lại tốt hơn”.
Ako khul giàAko khul già
Yao phu trẻYao phu trẻ
Ako khul nữAko khul nữ
Ama Đok, ako khul xã Chư Gu, huyện Krông Pa. Trước khi tin Chúa anh là công an, nhưng khi gặp Chúa thì bỏ công an để đi phục vụ Chúa và bị đồng nghiệp cũ bách hại.Ama Đok, ako khul xã Chư Gu, huyện Krông Pa. Trước khi tin Chúa anh là công an, nhưng khi gặp Chúa thì bỏ công an để đi phục vụ Chúa và bị đồng nghiệp cũ bách hại.
Bà Maria KSor H’Khel tâm sự. Bà Maria KSor H’Khel là con gái đầu lòng của bà KSor ALý và kế thừa mẹ đi truyền giáo.
Cha Giuse Trần Sĩ Tín, CSsR phân tích: “Chúng ta thấy, cho đến bây giờ, Chúa Giêsu vẫn đang trong hành trình vác Thánh giá, vì thế những người làm việc cho Chúa phải chấp nhập những gian nan thử thách và phó thác cho Chúa, sẽ vượt qua được những khó khăn. Chị KSor H’Khel nói, chị không biết làm gì cả và không có tài năng gì nhưng chị đã khiêm nhường, gắn kết mọi người trong tình thương Chúa và phục vụ Chúa hết lòng chính vì vậy chị đã vượt qua được những gian truân”.
Đời sống cầu nguyện là phương thức quan trọng nhất trong công việc truyền giáo. Hôsê Rahlan Hoang, giáo xứ Phú Quang khẳng định: “Khi tôi còn bé, ông ako khul đã rủ tôi đi chơi và mời tôi vào hội Legio. Mọi người tin tưởng tôi và để cử tôi là trưởng Hội Legio nên tôi đồng ý. Tôi cảm thấy công việc tôi làm giống như là Đức Mẹ đi thăm bà Thánh Elisabet. Đời sống cầu nguyện rất quan trọng và đây là cách duy nhất để truyền giáo, vì thế mỗi bữa cơm gia đình chúng tôi quy tụ các con lại dạy đọc kinh và cầu nguyện trước khi ăn cơm. Mỗi lần như thế gia đình chúng tôi có nhiều niềm vui và bình an. Gia đình chúng tôi rất nghèo nhưng chúng tôi phó thác tất cả cho Chúa. Chúa cho nhiều thì ăn nhiều, Chúa cho ít thì ăn ít. Có nhiều khi tôi đi truyền giáo hơn một tuần không có tiền đổ xăng, vợ tôi đã đi mượn tiền cho tôi đổ xăng. Cứ đi truyền giáo, mọi chuyện tính sau vì có Chúa lo”.
Ông Têphanô Hyunch, giáo xứ Hà Bầu: “Khi tôi theo đạo, tôi cảm thấy rất vui vì được Chúa yêu thương, ban cho tôi rất nhiều ơn. Nhưng tôi có một cái dở là khi tôi lười không chịu làm việc [không có cái ăn], thì lại đổ thừa cho Chúa không yêu thương tôi. Tôi tin rằng, Chúa luôn ở bên tôi nên cuộc sống của chúng tôi sẽ khác. Nhờ có Chúa mà người Jarai chúng tôi mới gắn kết và liên kết được với nhau trong những nỗi vui nỗi buồn”.
Cha Tín kêu gọi: “Các Yao Phu khi đi truyền giáo nên mang theo một thanh niên, để kế thừa công việc mục vụ, đồng thời đẩy mạnh và củng cố việc cầu nguyện cho từng gia đình và cho từng làng, vì ở đâu có lời cầu nguyện thì ở đó sẽ có người theo đạo”.
Cha Tín chia sẻ tiếp: “Những điều chúng ta chia sẻ với nhau là những nét đặc trưng và rõ ràng của người dân bản địa. Thứ nhất, chúng ta nói nhiều về cầu nguyện, tức chúng ta có mối liên hệ với Chúa và trò chuyện với Chúa. Thứ hai, Lời Chúa trong Kinh Thánh. Thứ ba, nói về tác động của Chúa Thánh Thần. Chúa đã dùng chính chúng ta, dạy dỗ chúng ta và đoàn kết chúng ta trong Hội Thánh của Chúa, để chúng ta làm việc theo đúng Lời của Chúa và, sống và làm việc theo Giáo huấn của Hội Thánh.
Đức Thánh cha Phaxicô nói, muốn loan báo Tin Mừng đi vào Tân phúc âm hóa chỉ có Chúa Giêsu. Kế đến, là cầu nguyện. Cầu nguyện. Cuối cùng là làm chứng và làm chứng theo cách chúng ta đã chia sẻ về kinh nghiệm truyền giáo của mỗi người về tình thương của Chúa dành cho mỗi người”.
Một Yao phu lớn tuổi ước mong: “Các cha nên tổ chức buổi tĩnh tâm cho các Yao Phu này nhiều lần trong một năm như thế này, để mọi người có cơ hội gặp nhau, trò chuyện với nhau và chia sẻ kinh nghiệm cho nhau. Theo đạo thì dễ nhưng sống trong đạo thì khó.”
Trung tâm Truyền giáo Pleikly nằm trên Đường quốc lộ 14, cách trung tâm tỉnh Gia Lai 60 km, cách Sài Gòn gần 500 km.
Lm. Phêrô Nguyễn Đức Mầu, CSsR

Lm. Giuse Trần Sĩ Tín, CSsR

Được biết, ngày 10.10.1969, Đức cha Paul Seitz Kim đã sai bốn tu sĩ DCCT đến vùng Pleikly này và trao trách nhiệm truyền giáo cho người Jarai. Đến nay đã tròn 44 năm. Đặc biệt năm nay cũng là năm kỷ niệm 50 năm khấn dòng của các thừa sai tiên khởi của vùng Pleikly này là cha Giuse Trần Sĩ Tín và Phêrô Nguyễn Đức Mầu.
Bài: HT, VRNs
Ảnh: Phương Trần, VRNs

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Cuốn Sách Một Chử

Cuốn Sách Một Chữ

Mừng ngày sinh nhật của Mẹ Maria hôm nay, chúng ta hãy quyết hái nhiều chiếc hoa xinh đẹp dâng kính Mẹ. Nhất là chúng ta hãy tiếp tục làm những việc đạo đức thông thường dâng kính mẹ, như: lần hạt Mân Côi, đọc kinh truyền tin, nguyện kinh cầu. Nhưng chúng ta hãy làm những việc đạo đức thông thường ấy một cách phi thường.
Người ta kể chuyện rằng: ngày kia một văn sĩ bỗng nảy sinh ra một ý kiến ngộ nghĩnh. Ông ta muốn viết một cuốn sách. Mà cuốn sách ấy, ông muốn làm sao cho nó không được dài quá một trang. Cuốn sách một trang này lại phải làm sao cho nó không được dài quá một dòng. Dòng ấy phải làm sao cho nó chỉ vỏn vẹn có một chữ.
Chữ độc nhất ấy, cố nhiên, phải làm sao diễn tả được hết mọi tư tưởng cao xa, tốt đẹp của văn sĩ.
Ý nghĩ ấy ngày đêm ám ảnh ông ta, làm cho ông ta mất ăn, mất ngủ. Làm thế nào viết được cuốn sách một chữ ấy?
Cuối cùng nhà văn kia đành ngồi khoanh tay bó gối, thở dài thất vọng… Tất cả những danh từ trên thế giới, không đủ cung cấp tài kiệu, và ý nghĩa cho công việc ông ta dự định thực hiện.
Nhưng, cuốn sách một chữ ấy Thiên Chúa đã viết được. Chữ độc nhất, hàm súc mọi ý nghĩa, vừa hùng hồn, sâu rộng, vừa nhẹ nhàng ý nhị để diễn tả được những kỳ công kiệt tác trong vũ trụ. Tất cả những gì là tươi mát, là xinh đẹp, tất cả những gì là đáng quý chuộng, đáng yêu thương, đáng đòi hỏi, đáng tìm kiếm, đáng ước ao, đáng khát vọng.
Chữ ấy là: Maria, tên của người Trinh Nữ đã được thiên Chúa tuyển chọn và tô điểm cho cân xứng với thiên chức làm Mẹ Ngôi Hai Nhập Thể, cân xứng để trở nên vườn địa đàng thật hoàn hảo, thật sặc sỡ, thật kiều diễm để trong cung lòng của Maria, Thiên Chúa sẽ cử hành một lễ cưới long trọng, không phải giữa một người với một người, nhưng là giữa Thiên Chúa và nhân loại.
Ngày hôm nay toàn thể Giáo Hội hân hoan mừng ngày chào đời của công trình tuyệt hảo ấy của Thiên Chúa. Hân hoan vì với tiếng khóc và nụ cười của em bé mang tên Maria này, vầng đông của lịch sử và công trình cứu rỗi của toàn thể nhân loại đã ló dạng.
Một ngày nọ, thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, gặp trong nhà thờ một người đàn bà có vẻ đang đau khổ nhiều. Bà ta vừa trở thành góa phụ. Ông chồng đã rơi từ cầu xuống sông và bị chết đuối. Ông ta đã chết khi chưa kịp ăn năn thống hối. Do đó, đối với bà, ông chồng chắc chắn đã mất linh hồn.
Cha Vianney đã nhẹ nhàng đến gần, và được Chúa soi sáng, cha đã nói:
- Chồng bà đã được cứu thoát. Quá ngạc nhiên và tỏ vẻ không tin, bà ta lại hỏi:
- Thưa cha, làm sao lại có thể như vậy? Cha Vianney cắt nghĩa:
- Có Chúa ở giữa chiếc cầu và dòng sông. Chồng bà đã cùng rơi với Chúa và khi rơi, ông đã làm hòa với Ngài.
- Nhưng làm sao có thể như vậy được? Bà vợ hỏi lại:
- Ðó là một ơn của Ðức Mẹ. Cha Vianney trả lời và cắt nghĩa tiếp:
- Vì một hôm, trên đường từ đồng về nhà, chồng bà đã hái một đóa hoa đem chưng trước tượng Ðức Mẹ ở bên đường. Ðức Mẹ có thể quên được cử chỉ tốt đẹp này sao?
Mừng ngày sinh nhật của Mẹ Maria hôm nay, chúng ta hãy quyết hái nhiều chiếc hoa xinh đẹp dâng kính Mẹ. Nhất là chúng ta hãy tiếp tục làm những việc đạo đức thông thường dâng kính mẹ, như: lần hạt Mân Côi, đọc kinh truyền tin, nguyện kinh cầu. Nhưng chúng ta hãy làm những việc đạo đức thông thường ấy một cách phi thường. Có nghĩa là: miệng đọc, lòng suy và cố gắng đem ra thực hành trong đời sống, để cuộc đời của Ðức Mẹ, vốn đã trở nên một với cuộc đời của Chúa Giêsu, cũng được thể hiện trong cuộc sống của mỗi người trong chúng ta.
Nguồn: R.Veritas

19/10 Thánh GIOAN BRÉBEUF, Thánh ISAAC JOGUES và Các Bạn Tử Ðạo

Ngày 19 tháng Mười
Thánh GIOAN BRÉBEUF, Thánh ISAAC JOGUES và Các Bạn Tử Ðạo
(thế kỷ XVII)
Tám tu sĩ dòng Tên bị thảm sát vì danh Chúa tại Bắc Mỹ vào thế kỷ XVII, có thể chia làm hai nhóm:
Nhóm thứ nhất chịu tử đạo tại Auriesville, thuộc bang Nữu Ước hiện nay, gồm có thánh René Goupil (29-9-1642), vị tử đạo đầu tiên của Mỹ Châu, thánh Isaac Jogues và Gioan Lalande (18-10-1648).
Nhóm thứ hai bị thảm sát tại Gia Nã Ðại, gồm có thánh Charles Danvel (16-3-1649), thánh Gabriel Lalmaut (16-3-1649), Thánh Gioan Brébeuf (16-3-1649), thánh Noel Chabanel (12-1649) và thánh Charles Garnier (07-12-1649).
Thánh Isaac Jogues bị dân Iroquois bắt và hành hình, nhưng ngài được người Hà Lan cứu thoát và trở về nước Pháp. Ngài đã để lại những đau khổ phải chịu và gây được một ấn tượng sâu xa. Nhưng chưa đầy ba tháng, ngài lại muốn ra đi, ngài viết: “Phải chăng vì tội lỗi nên tôi không xứng đáng chết trong dân Iroquois?” Thiên Chúa đã nhận lời ngài cầu xin và đã cho ngài toại nguyện.
Thánh Gioan Brébeuf là một nhà thần bí, luôn kết hiệp với Chúa trong lời cầu nguyện và tâm tình thống hối. Ngài luôn sẵn sàng chết vì Chúa.
Thánh Noel Chabanel, khi bị cám dỗ muốn trở về nước Pháp, ngài đã khấn hứa trong ngày lễ Thánh Thể năm 1647 rằng: Ngài sẽ ở lại mãi mãi và trung thành với sứ mạng truyền giáo cho người Hurons. Sau đó, ngài đã được vinh phúc lãnh triều thiên tử đạo.
Thánh PHAOLÔ THÁNH GIÁ, linh mục
(1694–1775)
Thánh Phaolô sinh tại Uvada, miền Ligurie nước Ý ngày 03-01-1694. Ngay từ thời niên thiếu, ngài đã đặc biệt sùng kính Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Ngài cũng tha thiết ước mong được chịu tử đạo nên đã gia nhập đoàn quân viễn chinh ở Venise để chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng sau khi nhận ra ý Chúa, ngài đã giã từ vũ khí và xin vào dòng tu. Ngài được phong chức linh mục do tay Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XIII.
Sau đó, ngài sống cuộc đời ẩn dật tại núi Argentarô và lập dòng Thương Khó năm 1720. Lời hứa đặc biệt của dòng là chuyên lo giảng dạy cho mọi người về sự khổ nạn của Chúa Giêsu. Ngài còn lập một dòng nữ chuyên lo cầu nguyện và sống cuộc đời Thương Khó Chúa.
Thánh nhân được Chúa cho làm nhiều phép lạ như nói tiên tri, thấu suốt được tâm hồn nhiều người. Hơn nữa, ngài có tài giảng thuyết, nhất là khi giảng về những đau khổ của Chúa.
Năm 1775, ngài từ trần tại Rôma, hưởng thọ 81 tuổi.
Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã phong ngài lên bậc Chân Phước và ít lâu sau, phong thánh cho ngài năm 1867.
 
Châu-Kiên-Long

Thánh Phaolô Thánh Giá, Linh Mục

Thánh Phaolô Thánh Giá, Linh Mục (1694-1775)
Thánh Phaolô sinh tại Uvada, miền Ligurie nước Ý ngày 03/01/1694. Ngay từ thời niên thiếu, ngài đã đặc biệt sùng kính Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Ngài cũng tha thiết ước mong được chịu tử đạo nên đã gia nhập đoàn quân viễn chinh ở Venise để chống lại quân Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng sau khi nhận ra ý Chúa, ngài đã giã từ vũ khí và xin vào dòng tu. Ngài được phong chức linh mục do tay Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XIII.
Sau đó, ngài sống cuộc đời ẩn dật tại núi Argentarô và lập dòng Thương Khó năm 1720. Lời hứa đặc biệt của dòng là chuyên lo giảng dạy cho mọi người về sự khổ nạn của Chúa Giêsu. Ngài còn lập một dòng nữ chuyên lo cầu nguyện và sống cuộc đời Thương Khó Chúa.
Thánh nhân được Chúa cho làm nhiều phép lạ như nói tiên tri, thấu suốt được tâm hồn nhiều người. Hơn nữa, ngài có tài giảng thuyết, nhất là khi giảng về những đau khổ của Chúa.
Năm 1775, ngài từ trần tại Rôma, hưởng thọ 81 tuổi.
Ðức Giáo Hoàng Piô IX đã phong ngài lên bậc Chân Phước và ít lâu sau, phong thánh cho ngài năm 1867.

Nhóm Châu Kiên Long, Ðà Lạt
Vietnamese Missionaries in Asia

18/10 THÁNH LUCA -THÁNH SỬ

Thánh Luca Tông Đồ

 THÁNH LUCA -THÁNH SỬ
St
 Thánh Luca là người Hy-lạp ngoại giáo trở lại, và là môn đệ của Thánh Phaolô. Người là tác giả sách Phúc Âm thứ ba và sách Tông Ðồ Công Vụ.
Thánh Luca là người học thức, có tài viết văn, có tài kể chuyện, người đề tặng cả hai tác phẩm của mình cho một nhân vật thế giá tên là Tê-ô-phim, mới theo đạo Kitô. Thánh Luca viết sách Phúc Âm khoảng giữa năm 70 và 75 sau công lịch, nhấn mạnh đến:
- Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Ðộ mọi người, giao hoà nhân loại với Thiên Chúa. Chúa thu hút nhân loại bằng những đức tính cao cả của Ngài. Ngài luôn cầu nguyện ngợi khen Chúa Cha.
- Thiên Chúa nhân từ và thương xót.
- Tinh thần bỏ mình và nghèo khó.
Thánh Luca dùng lời lẽ có ý nghĩa để diễn tả lại những trường hợp Chúa Giêsu tỏ lòng thương xót các phụ nữ hư hỏng, và phục hồi quyền lợi thế giá cho họ. Người đã kể lại những câu chuyện có ích lợi đặc biệt cho dân ngoại, như các chuyện bà Ma-đa-lê-na, ông Gia-kêu, người trộm lành, người Sa-ma-ri-a nhân hậu.
Phúc Âm theo Thánh Luca có lẽ là sách Phúc Âm hấp dẫn nhất đối với thế giới mới.

1. Thánh Luca là ai?
- Luca bắt nguồn từ danh từ Latin "Lucanus" nói lên nguồn gốc của ngài là dân ngoại. Theo lá thư Phaolô gởi cho Ti-mô-thê-ô "chỉ mình Luca ở với Cha," có nghĩa là Luca là bạn đồng hành truyền giáo của thánh Phaolô. Trong Phi-lê-môn câu 24, Thánh Phaolô liệt kê Thánh Luca vào số "những cộng sự viên của ngài"; còn trong Co-lose-sê ngài được gọi là "lương y."

2. Luca đã đóng vai trò nào trong Tân Ước?
- Ngài không chỉ là tác giả của Phúc Âm thứ ba mà còn là tác giả sách Tông Ðồ Công Vụ nữa.

3. Thánh Luca viết sách Phúc Âm nhằm mục đích gì?
- Ngài viết Phúc Âm để minh chứng rằng đạo Chúa Kitô là một đạo giáo toàn cầu qua cách giảng diễn lòng nhân từ của Chúa đối với những người nghèo khổ và bị áp bức; nêu cao lòng thiện cảm của Chúa dành cho dân ngoại. Phúc Âm ngài đã diễn đạt chân lý mà Thánh Phaolô công bố trong thư Ga-la-ta chương 3 câu 28 như sau: “Không còn Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, nam hay nữ, vì tất ca anh em là một trong Ðức Giêsu Kitô.”

4. Thánh Luca viết Phúc Âm nhằm cho loại độc giả nào?
- Là một người dân ngoại, nên ngài viết cho các tín đồ dân ngoại.
 
5. Thê-ô-phi-lô là ai mà Thánh Luca đề tặng ở đầu sách Phúc Âm của ngài?
- Thê-ô-phi-lô là một danh từ Hy Lạp, có nghĩa là "kẻ yêu mến Thiên Chúa." Có thể ông là kẻ mới chịu đạo và đại diện cho nhóm độc giả mà Luca nhắm tới, hầu họ am tường về giáo huấn của đạo mới.

6. Luca đã làm gì để minh chứng đạo Chúa Kitô là đạo phổ quát?
- Ngài đã chứng minh gia phả của Chúa Giêsu không chỉ qua dòng dõi vua Ða-vít lên tới Abraham như Thánh Matthêu đã làm, mà còn trở ngược lên tới Adam. Chủ đích muốn nhấn mạnh rằng:
Giêsu không phải chỉ là một người gốc Do Thái, mà Ngài còn là con người của hoàn vũ, mang dòng máu nhân loại. Hơn nữa Ngài còn đề cập tới cuộc thăm viếng của Chúa tại một làng dân ngoại tên là sa-ma-ria. Ngài đã đề cập tới người ngoại tốt lành Sa-ma-ri-ta-nô. Ngài nhắc tới người ngoại trong số 10 người phong cùi được chữa làn, chỉ mình Luca tường thuật những lời Chúa tuyên bố về sứ vụ của Người.

7. Cho biết vắn tắt nội dung và bố cục của Phúc Âm Thánh Luca?
- Tin Mừng thời niên thiếu của Chúa (chương 1-2)
- Sứ vụ của Chúa tại Galilê (chương 3-9)
- Hành trình lên Giêrusalem (chương 9-19)
- Sứ vụ tại Giêrusalem (chương 19-21)
- Thương khó và sống lại (chương 22-24)
8. Phúc Âm của Luca có những đặc tính nào?
- Là một soạn tác lịch sử được diễn đạt một cách văn chương trau chuốt.
- Là một Phúc Âm cho những người bị áp bức.
- Là một Phúc Âm cho dân ngoại.
- Là một Phúc Âm của cầu nguyện.
- Là một Phúc Âm của niềm vui.
- Và là Phúc Âm đặc biệt nói về nữ giới.
9. Tính cách văn chương trong Phúc Âm của Thánh Luca như thế nào?
- Vì là một người học thức uyên thâm, nên lối viết của ngài thật chải chuốt, tránh những từ Do Thái; nhưng vì tác giả cố bắt chước lối hành văn Cựu Ước của bản dịch Hy Lạp nên kiểu nói "và xảy ra là.." được lặp đi lặp lại nhiều quá hoá nhàm. Bù lại tác giả biết bố cục câu chuyện, xếp đặt ý tưởng mạch lạc, đón trước rào sau kỹ lưỡng.. Tóm lại Phúc Âm của Thánh Luca là một soạn tác thật là công phu.
10. Làm sao Phúc Âm của ngài được gọi là Phúc Âm của người nghèo và bị áp bức?
- Không Phúc Âm nào chúng ta có thể được một sự lưu tâm đáng yêu mà Chúa dành cho những người thu thuế và tội lỗi như trong Phúc Âm thánh Luca:
- Chúa đến để tìm kiếm những gì đã mất.. một người nữ ngoại tình, một người thu thuế thống hối, một tên trộm ăn năn…
- Không một Phúc Âm nào diễn tả được tấm lòng tha thiết của Chúa dành cho những người bơ vơ nghèo đói cho bằng dưới ngòi bút điêu luyện của Luca.
11. Tại sao gọi Phúc Âm Thánh Luca là Phúc Âm của niềm vui?
- Là Phúc Âm của niềm vui vì ngay từ đầu, và bàn bạc trong Phúc Âm của ngài nhiều chỗ nói về niềm vui như ở đầu Phúc Âm là tin vui loan báo cho Za-cha-ri-a, truyền tin cho Maria. Những niềm vui liên tục khi Thánh Gioan chào đời, lúc Chúa giáng sinh...
Những niềm vui trong chương 15 khi tìm thấy con chiên lạc, tìm được đồng tiền mất, gặp lại người con hoang và niềm vui nân hoan của các tông đồ khi trở lại Giêrusalem. Ðúng như Harnack đã nói: "Có những nét vui tươi, can trường và chiến thắng âm vang trong toàn bộ cuốn Phúc Âm của Thánh Luca từ trang đầu cho tới trang chót."

12. Thánh Luca có những nét cá biệt đặc sắc nào trong tường thuật giáng sinh của Chúa Cứu Thế?
- Bằng giọng văn chương, Thánh Luca đã ghi lại cuộc truyền tin cho Ðức Maria, bài hoan ca của Mẹ Maria, bài ca của ông Gia-ca-ri-a chúc tụng Chúa, bài ca vinh danh của các thiên sứ trong đêm Chúa giáng sinh và bài ca của ông Si-mê-on: Giờ đây, lạy Chúa.

13. Lễ của ngài được mừng kính vào ngày nào trong năm phụng vụ?
- Ngày 18 tháng 10 với danh tước là Luca thánh sử.

THÁNH LUCA, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG Ngày 18/10

THÁNH LUCA, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG
Ngày 18/10

Lc 10,1-9

Chúa gọi một con người sau khi Chúa đã cầu nguyện lâu giờ và hỏi ý Chúa Cha.Việc chọn người này,người kia,người nọ vào chức vụ này,chức vụ kia của Hội Thánh là hoàn toàn do ý của Chúa, là do tình thương nhưng không của Ngài.Chúa không dựa trên bề ngoài,vóc dáng hoặc cao,gầy,thấp,cao.Chúa gọi ai làm môn đệ của Chúa là do quyết định hoàn toàn của Ngài. Thánh Luca được mời gọi làm Apostoloi, làm tông đồ cho Chúa, nghĩa là người được sai đi, Ngài lệ thuộc vào Chúa vì thuộc trọn về Người.

 

THÁNH LUCA

Mặc dù khi viết lại Tin Mừng của Chúa Giêsu,thánh Luca không cho biết Ngài sinh ra ở đâu và sinh vào năm nào,nhưng theo nhiều tài liệu để lại,thánh nhân là một thầy thuốc,hành nghề ở Antiôkia và Ngài cũng là một văn sĩ giỏi.Tin Mừng về cuộc đời của Chúa Giêsu do Ngài viết diễn tả tài nghệ điêu luyện của Ngài về cách hành văn,về lối viết lưu loát và truyền cảm của Ngài.Thánh nhân là một người ngoại giáo đã theo thánh Phaolô nhiều năm trên đường giảng đạo.Thánh Phaolô đã loan báo Tin Mừng ở thành Troa,Luca đã tin,đã xin theo đạo và đã xin đi theo thánh Phaolô làm môn đệ của Ngài .Vào giai đoạn thánh Phaolô bị bắt giữ,người ta không biết gì về quãng đời cuối cùng của Ngài.Tuy nhiên,theo một tài liệu tìm được ở Constantinople,thánh Luca đã lần lượt loan báo Tin Mừng ở Achaie,ở Béotie,sau này làm Giám mục ở Thébes.Thánh Luca đã cùng lãnh nhận triều thiên tử đạo cùng với thánh Anrê tại Patras thuộc vùng Achaie.Ðọc Phúc Âm của thánh Luca,điểm nổi bật nhất nơi ngòi viết của Ngài là lòng thương xót.Thánh sử Luca đã thuật lại nhiều dụ ngôn rất cảm động và thấm thía như dụ ngôn hai người con,người trộm lành,ông Giakêu thu thuế, người Samaritanô nhân hậu.Thánh Luca cũng chú ý rất nhiều đến việc cầu nguyện,lòng khiêm tốn,chân thành và đơn sơ.Thánh nhân còn viết tông đồ công vụ nói lên sự hiệp nhất,sinh hoạt của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi,một cộng đoàn luôn làm mọi việc theo ý Chúa.Nhờ ngòi bút của Ngài,mọi người hiểu rằng Giáo Hội của Chúa ngay từ lúc ban đầu luôn có Chúa Thánh Thần hoạt động và hiện diện.

CUỘC ÐỜI THÁNH LUCA LUÔN LÀM RẠNG NGỜI BỘ MẶT CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ:
Thánh Luca,một trong bốn thánh sử đã để lại cho hậu thế một lịch sử sáng ngời của Ðấng Cứu Thế : Chúa Giêsu Kitô.Chỉ cần đọc Phúc Âm của một trong bốn thánh sử,nhân loại ở muôn thời sẽ thấy rõ cả cuộc đời của Chúa Giêsu.Ðó là nét nổi bật nhất của các thánh sử.Tuy nhiên,với thánh Luca,khi đọc Tin Mừng của Ngài,nhân loại sẽ nhận ra lòng thương xót của Chúa,nhìn ra bộ mặt đầy yêu thương của Chúa Giêsu và như thế thánh Luca đã làm sáng danh Chúa vì chính Ngài đã ghi lại những nét đặc sắc nhất của cuộc đời Chúa Giêsu Kitô.

Thánh Luca như nhiều vị thánh khác đã hy sinh cả mạng sống của mình để làm chứng cho Chúa là Ðàng,là Sự Thật và là Sự Sống .Ngài xứng đáng lãnh nhận triều thiên vinh quang của Chúa .Muôn đời nhân loại sẽ không bao giờ quên được công ơn to lớn của thánh sử Luca.

Lạy thánh Luca, xin cầu bầu cùng Chúa cho chúng con để chúng con luôn nhận ra lòng thương xót của Chúa.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT