Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Đức Mẹ Sầu Bi - 15/09


Đức Mẹ Sầu Bi - 15/09

CHIÊM NIỆM BẢY SỰ THƯƠNG KHÓ CỦA ĐỨC MẸ MARIA
Đỗ Trân Duy
Cuộc đời đức Mẹ Maria là cuộc đời của bà Mẹ có trăm nghìn đau khổ nối tiếp nhau kể ra không hết. Tước hiệu Đức Bà Sầu Bi (Our Lady of Sorrows) phần nào nói lên lòng thương cảm và tôn kính của Kitô hữu đối với Đức Bà. Lòng tôn kính này phổ biến rộng rãi từ thế kỷ XII. Để Kitô hữu có thể chiêm niệm sự đau khổ của Đức Mẹ một cách cụ thể, Hội Thánh chọn bảy sự thương khó tiêu biểu gắn liền với lịch sử cứu độ của Đức Giêsu để tưởng niệm.

1. Lời Tiên Tri Của Thầy Cả Simêôn 
 
Sau khi sinh nở được 40 ngày, Đức Maria phải làm lễ thanh tẩy và dâng con trai đầu lòng lên Thiên Chúa theo luật Do Thái. Thánh gia hành lễ tại đền Giêrusalem. Trong đền thờ có lão thầy thượng phẩm Simêôn vẫn hằng cầu nguyện xin được gặp Đấng Cứu Độ trước khi ông lìa trần. Một đêm, Thánh Linh cho biết ông sẽ thấy Đấng Kitô vào ngày mai. Hôm sau ông đứng sẵn trước bàn thờ hằng giờ chờ đợi. Ông thấy thánh gia đi tới có hào quang phủ xung quanh. Ông nhận ra ngay con trẻ Giêsu là Đấng Mêsia. Ông ẵm Hài Nhi và xúc động nói: “Giờ đây tôi tớ Chúa xin được ra đi vì mắt tôi đã thấy ơn cứu độ.” Rồi ông nói với Đức Maria: “Hài nhi sẽ là dấu cho người ta chống đối và là sinh mệnh cho nhiều người ngã xuống hay chỗi dậy trong dân Israen. Còn bà! Một lưỡi gươm sẽ xuyên thấu hồn bà, nhờ vậy mà ý nghĩ trong những tâm hồn khác được phơi bày.”

Tuy được Thánh Linh chỉ dẫn nhưng phát ngôn của Simêôn chỉ là một trực giác siêu hình, không phải là một hiểu biết, nên ông không thể giải thích. Cả Simêôn lẫn Đức Bà đều cảm nhận một cái gì cao cả bao la và hàm chứa nhiều điều không thể khai triển. Những điều này may ra có thể hiểu được khi chúng ứng nghiệm trong thời gian. Hài Nhi Giêsu được xác định là một đối tượng bị khổ nạn (trong xứ Israen) và sẽ mang lại đau khổ cho cha mẹ. Đây là một đau khổ nội tại, như một thiên mệnh. Có bà mẹ nào không đau lòng khi biết số phận tương lai con mình như vậy. Nỗi khổ nạn của Hài Nhi không thể tránh vì nó không phải là một tai nạn nhưng là nền tảng siêu việt phát sinh ra sự sống cho nhiều người. Cũng vậy lưỡi gươm đâm thấu tim đức Maria không thể bỏ, vì nó là nguồn vận hành cho các ý nghĩ (ý thức về Thiên Chúa) của nhiều tâm hồn được nẩy nở. Đức Maria âm thầm chịu đựng sự đau khổ từ phút nghe Simêôn nói. Đức Mẹ hồi hộp không biết cái gì sẽ xảy ra trong ngày mai, nên chỉ biết kéo dài sự thổn thức lo lắng cho đến hết đời mình.

2. Lẩn Trốn Qua Ai Cập 
 
Khi Đức Giêsu sinh ra, vua Hêrốt được ba đạo sĩ cho biết có vua Do Thái mới ra đời. Hoảng sợ bị mất ngôi, Hêrốt ra lệnh tìm giết Hài Nhi. Sau buổi lễ thanh tẩy nói trên được 5 ngày, thánh Giuse được thiên sứ báo tin dữ trong giấc mộng. Nửa đêm, thánh vội vàng thu tóm đồ đạc, lén lút mang Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Gia tài của thánh gia chỉ có 1 con lừa và ít mẩu bánh khô. Bấy giờ trời còn trong mùa Đông giá buốt, Đức Mẹ chỉ là cô gái yếu đuối 17 tuổi, còn Hài Nhi thì mới sinh. Cuộc đi trốn bằng đường bộ dài 400 dặm xuyên qua sa mạc và những cánh rừng hoang. Họ đi ban ngày, ban đêm ngủ trên cát sa mạc hay dưới gốc cây trong rừng sâu. Đức Giuse lấy chiếc áo của mình phủ lên vài cây cọc để làm lều cho Đức Mẹ và Hài Nhi trú thân. Sau 30 ngày lạc lõng, đói khát, và giá lạnh, thánh gia thất thểu tới thành Hêlipôli (Thành Mặt Trời), Ai Cập. Thánh gia lưu trú tại đó trong 7 năm trời. Cuộc sống của kẻ di cư hết sức bơ vơ và cùng cực. Đức Giuse làm công thợ mộc và đức Maria đan áo để sinh sống. Đức Giuse thường bị ông chủ bạc đãi không trả tiền công. Nhiều lần cả nhà phải nhịn đói, không có đến một mẩu bánh nhỏ cho Hài Nhi ăn.

Vì Thiên Chúa truyền cho thánh Giuse đi trốn, nên Đức Mẹ chấp nhận nỗi đau khổ với lòng khiêm nhường vâng theo Thánh Ý. Không phải Đức Mẹ không muốn một hoàn cảnh tốt đẹp hơn theo bản tính tự nhiên của con người, nhưng đức tin và đức cậy thuần khiết giúp Đức Mẹ vượt lên trên những ước vọng cá nhân trần thế. Vì thế Đức Mẹ càng nhẫn nhục trong đau khổ thì lại càng chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa. Nhờ đó Đức Mẹ sống trong Thiên Chúa một cách sâu xa. Thánh Benard nói: “Nếu không có đức khiêm nhường thì đức Maria cũng không được Thiên Chúa chấp nhận,” bởi vì Thiên Chúa đã phán: “Ai là kẻ được Ta đoái nhìn, ấy là người khốn khó trong tâm hồn khiêm nhường.” (Is 66:2).

3. Đức Mẹ Lạc Con Trong Ba Ngày 
 
Lúc Đức Giêsu lên 12 tuổi, Thánh Gia tới đền Giêrusalem để dự lễ Vượt Qua. Tới nơi gia đình tách ra làm hai, vì theo tục lệ phái nam và phái nữ có chỗ thờ tự riêng trong đền thờ. Xong lễ hai ông bà ra về. Bà tưởng Con đi với ông, trong khi ông tưởng Con đi với bà. Sau một ngày đường ông bà gặp nhau bấy giờ mới biết không có Con Trẻ đi theo. Từ đó Đức Mẹ sầu khổ khóc lóc não ruột không ngừng, bà nghĩ rằng có thể nhà vua tìm ra Con Trẻ và đã bắt mang đi. Cả ngày hôm sau ông bà tìm kiếm khắp chỗ, hỏi thăm họ hàng và những người quen nhưng không ai biết gì. Điều đó càng khiến ông bà sợ hãi hơn. Trong 3 ngày thất lạc con, Đức Mẹ không ăn và không ngủ. Đức Giuse cũng đau khổ hầu chết. Cuối cùng ông bà thẫn thờ trở lại đền thờ tìm dấu vết Con Trẻ. Họ ngạc nhiên thấy Con vẫn còn ở đó đang ngồi nghe giảng và đặt ra những câu hỏi làm kinh ngạc người nghe.

Đức Giêsu Hài Đồng vắng mặt trong 3 ngày. Đó là thời gian Đức Mẹ nghiệm ra ý nghĩa sự hiện hữu của mình. Đức Mẹ, hơn ai hết, đã được thiên sứ Gabrien mặc khải Hài Nhi là Đấng Kitô. Vì vậy sự gần gũi với Hài Nhi mang đầy đủ ý nghĩa của sự sống và sức mạnh nâng đỡ sự hiện hữu. Tuy nhiên Đức Mẹ chưa tiếp cận được sự siêu việt Hài Nhi là nền tảng chân lý của tôn giáo, là Logos thành nhân. Cho nên khi Hài Nhi đi sâu vào nội dung tôn giáo, “Con phải lo việc cho Cha,” Đức Mẹ chưa lãnh hội được trọn vẹn. Đức Mẹ chỉ thấy rằng mất con là mất tất cả, vì xa lìa Con là điều bất hạnh không thể chịu đựng nổi. Khi Hài Nhi vắng mặt, lúc ấy không phải lúc Hài Nhi bị lạc nhưng chính Đức Mẹ là người bơ vơ vì bị lạc mất điểm tựa.

4. Gặp Con Vác Thập Giá 

 
Tin Đức Giêsu bị kết án tử hình được thánh Gioan chạy về báo cho Đức Mẹ, lúc ấy đang tạm trú ở nhà bà Martha. Đức Bà vội cùng thánh Gioan và bà Mađalêna theo dấu máu rơi trên mặt đất chạy theo Đức Giêsu. Đức Mẹ gặp Con khi Người đang oằn lưng đi siêu vẹo vác cây gỗ nặng trên vai, lê bước đến núi Calvariô. Đức Giêsu lúc ấy không còn nhận ra hình dạng con người. Đầu Người bị quấn bởi một vòng gai to, tóc rối bù quyện với máu, áo tả tơi, từ đầu đến chân mang đầy vết bạo hành, máu tươi còn nhỏ giọt. Bao quanh Người là nhóm lính mang những khí cụ xử tử như dây thừng, búa đinh, và giáo mác. Một số khác vung roi xích sắt vùn vụt và chửi bới ầm ĩ. Đức Giêsu dừng lại, đầu rũ xuống ngực, Người cố gắng lấy tay gạt máu phủ mắt để thấy Đức Mẹ. Hai Mẹ Con đứng lặng nhìn nhau.

Không gian ngưng đọng. Một tên lính vừa cười ngạo ha hả vừa rung chuỗi đinh trước mặt Đức Mẹ. Đức Giêsu ngã qụy xuống, cây gỗ dộng mạnh trên vai, đầu cây gỗ đập vòng gai đâm sâu vào đầu Người. Đức Mẹ chạy lại quì xuống ôm lấy Con. Bọn lính la hét xô Đức Mẹ ra. Thánh Gioan và bà Mađalêna dìu Đức Mẹ ra ngoài. Đức Giêsu gượng dậy cúi mặt tiếp tục bước đi.
Đức Giêsu tự đến Giêrusalem nộp mình để bị xử tử. Như vậy cuộc khổ nạn của Người không phải là một định mệnh, nhưng là một hy sinh cho tình yêu trong ý thức tự do. Cuộc chịu nạn này đã cứu vớt nhiều người, nhưng lại bắt đầu từ lỗi lầm của những kẻ hãm hại người. Sấm ngôn của Simêon đã được giải. Về phần Đức Mẹ, sợ hãi và đau đớn đến cùng tận là tất cả những gì có thể nói về Người vào lúc ấy. Nhưng cũng như Đức Giêsu, sự hiện hữu của Đức Mẹ không phải là để lãnh bản án đau khổ để rồi chết. Vì nếu thế sự hiện hữu chỉ là cuộc sống đầy bi thương tang tóc và không có hy vọng. Sự đau khổ của Mẹ là một đồng cảm và chỉ có nơi những người yêu nhau. Tình yêu là sức mạnh vô cùng mãnh liệt, vượt khỏi sự sợ hãi đau khổ và sự chết, là căn nguồn cho hiện hữu trường cửu của người biết đặt hy vọng vào Thiên Chúa, Đấng vô hạn và trường cửu.

5. Đứng Dưới Chân Thập Giá 
 
Tiếng búa đóng đinh trên tay và chân Đức Giêsu tạo nên cơn khủng hoảng cùng cực trong tâm não Đức Mẹ. Máu tươi từ những mũi gai trên đầu chảy phủ đầy mặt Đức Giêsu. Để có thể nhìn Đức Mẹ, Người phải cong môi thổi cho dòng máu chảy vào mắt lệch qua bên. Đức Giêsu cảm thương Đức Mẹ và Đức Mẹ thương xót Đức Giêsu. Tim hai Người cùng bị xé nát. Đức Giêsu trối Đức Mẹ cho thánh Gioan vì Đức Giuse đã qua đời. Khi Người mở miệng nói, máu trong miệng ứa ra. Đức Giêsu quằn quại đau đớn trên cây Thập Giá 3 tiếng đồng hồ. Một số thượng tế và biệt phái buông lời phạm thượng và ném đất cát vào mặt Người. Cuối cùng Người nói, “Lạy Cha Con phó Linh Hồn Con trong tay Cha,” Người rướn mình lên lần cuối, rồi đầu gục vào ngực. Thân thể Người rũ xuống, một màu tử khí lan ra bao trùm thân xác. Mắt Đức Mẹ tối xầm lại, toàn thân lạnh toát tê cứng, Người ngã xuống và chết lịm. Khi Đức Mẹ tỉnh dậy, Mẹ thấy một tên lính đến đâm lưỡi giáo vào sườn Đức Giêsu. Lưỡi giáo xuyên thấu ngực xé rách trái tim làm hai mảnh. Máu và nước còn sót lại trong tim vọt ra từ lỗ đâm. Trái tim Đức Mẹ lúc ấy cũng đau xé ra như bị lưỡi giáo đâm vào vậy.

Nếu không có Thiên Chúa nâng đỡ, Đức Mẹ đã tắt thở vì quá đau khổ và sợ hãi. Đức Mẹ đã chết trong lúc vẫn sống. Thánh Bonaventura luận rằng Thập Giá trên núi Calvariô chính là bàn thờ, trên đó Đức Giêsu và Đức Mẹ cùng hiến tế để tôn thờ Thiên Chúa. Vì vậy Đức Mẹ chính là là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Xưa Ađam và Evà đã bán thế giới với giá một trái táo. Nay Ađam mới và Mẹ đã cứu chuộc thế giới bằng một trái tim. Từ đây tội lỗi của nhân loại được tha thứ. Thánh sử Gioan dẫn ra biểu tượng quan trọng khi Đức Giêsu thiết lập liên hệ mẹ con giữa Đức Mẹ và môn đệ Gioan. Thánh Origen luận rằng Đức Gioan đại diện cho các Tông Đồ, tức Hội Thánh. Như vậy Đức Giêsu đặt giáo hội vào tay Đức Mẹ. Đức Mẹ là Mẹ giáo hội, nên cũng là Mẹ các giáo hữu. Sau đó thánh Rupert giải thích rằng lời nói của Đức Giêsu đã mặc khải rằng Đức Mẹ là Mẹ thiêng liêng của cả nhân loại.

6. Đón Chờ Hạ Xác Đức Giêsu 
 
Vào buổi chiều, có 3 ông là Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô đến hạ xác Đức Giêsu. Các ông gỡ vòng dây gai quấn ở đầu và rút những chiếc đinh đóng ở tay và chân Đức Giêsu ra, rồi đỡ xác Người từ từ hạ xuống. Đức Mẹ đón lấy xác Con rồi ẵm vào lòng. Các cơ bắp của Đức Giêsu đã co rút cứng lại nên xác Người vẫn giữ nguyên dạng như khi bị đóng đanh. Mắt còn mở và miệng còn há ra. Đức Mẹ vừa khóc vừa vuốt mắt và miệng Đức Giêsu cho khép lại. Đức Mẹ cũng muốn xếp hai tay Đức Giêsu đặt trước ngực, nhưng Người chỉ có thể đặt hai tay Con úp vào bụng, vì tay Đức Giêsu đã đông cứng.

Sự nhập thế của Ngôi Lời chấm dứt bằng tặng phẩm Người dâng lên Chúa Cha là tình yêu và đức vâng lời cho đến mức chết. Đức Giêsu là tượng hữu hình của Thiên Chúa vô hình. Cuộc tử nạn của Người trên Thập Giá là tượng hữu hình tình yêu toàn vẹn của Thiên Chúa hiến cho loài người (Mt 26:28; Mc 14:24; Lc 22:20; Ga 10:15; Pl 2:18). Đức Mẹ, hơn ai hết, đã biết rõ sự sống của loài người bắt đầu bằng cái chết của hữu thể Đức Giêsu, nhưng điều đó không làm giảm sự đau khổ của Đức Mẹ. Mẹ đau xót vì Con bị chính những kẻ thọ ân bạc đãi và bỏ rơi. Nhờ cuộc hiến tế trên Thập Giá mà loài người được liên kết với Thiên Chúa qua Đức Giêsu và qua Giáo Hội của Người. Vì Đức Mẹ là nơi hoàn hảo để Thiên Chúa siêu việt nhập thế, nên đồng thời Đức Mẹ cũng là nơi liên kết của Giáo Hội và nhân loại.

Cảnh tượng Đức Mẹ đón chờ hạ xác Đức Giêsu đã gây xúc động cho rất nhiều nghệ nhân, trong số đó có Michaelangelo. Ông tạc bức tượng Pieta diễn tả cảnh Đức Mẹ ẵm xác Đức Giêsu. Pieta trở thành tuyệt phẩm vô giá của nghệ thuật nhân loại.

7. Táng Xác Đức Giêsu 
 
Đức Mẹ lấy vải rửa sạch mọi vết thương. Các ông Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô mang xác Đức Giêsu vào trong một ngôi mộ bằng đá do ông Giuse Arimathê mua sẵn. Họ tẩm xác Đức Giêsu bằng dầu thơm rồi lấy tấm vải trắng bọc lại. Khi đặt xác Đức Giêsu vào mồ, Đức Mẹ ước ao họ để Đức Mẹ ở trong mồ với Con, nhưng các ông Gioan, Giuse Arimathê, và Nicôđêmô dìu Đức Mẹ ra ngoài. Họ im lặng vần một phiến đa to che cửa vào nhà mồ. Sau đó họ chia tay nhau. Tông đồ Gioan đưa Đức Mẹ về nhà mình.

Nếu thánh Giuse còn sống, hay nếu đức Maria còn vài người được thánh kinh viết là “anh chị em của Đức Giêsu,” như một số người cố tình hiểu như vậy, chắc chắn đã không có cảnh Đức Mẹ đi theo thánh Gioan. “Từ đấy tông đồ [Gioan] đưa Bà về nhà mình” (Ga 19:27), Thánh Kinh không cho biết họ ở Giêrusalem hay ở một địa phương nào đó.

Thánh Bridge cho biết Đức Mẹ nói với bà, “Con thấy chăng, những đau khổ Con Ta chịu là vì con.” Sự liên hệ giữa nhân loại và Thiên Chúa là một huyền nhiệm của tình yêu. Thiên Chúa chết vì yêu nhân loại là một trong những huyền nhiệm mà chúng vẫn chưa có thể hiểu hết được sự bao la của ân sủng này. Tuy Đức Mẹ không nhắc đến Người, nhưng chúng ta đều biết Đức Mẹ đã thông phần đau khổ với Chúa Kitô. Vì vậy chúng ta cũng có thể nói: Đức Mẹ đã chịu đau khổ là vì chúng ta.” Chính vì vậy mà vào thế kỷ IX một số thần học gia đã khởi xướng chủ đề: Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc (Coredemtrix)

Hội Thánh thành lập hai thánh lễ kính Đức Bà Đau Khổ. Cả hai lễ đều bắt nguồn từ điều luật 11 của công đồng Côlôn (Cologne, năm 1423). Điều luật này quy định thành lập lễ kính Đức Bà Đau Khổ. Ý niệm khởi đầu chỉ hướng về mối đau khổ tổng thể, cụ thể hơn là tôn kính Đức Mẹ đau khổ đứng dưới chân Thập Tự Giá. Thánh lễ được cử hành vào ngày thứ Sáu của tuần thứ 3 sau lễ Phục Sinh. Năm 1482, bảy sự thương khó của Đức Mẹ mới được khai triển và truyền giảng ở Âu Châu. Năm 1725 đức Benêdíc XIV chuyển lễ Đức Bà Đau Khổ qua ngày thứ Sáu trong tuần Thương Khó, trước lễ Lá. Đó là lễ thứ I. Năm 1912 Giáo Hoàng Pio X quyết định toàn thể giáo hội cử lễ tưởng niệm một lần nữa vào ngày 15 tháng 9 hằng năm, sau lễ kính Thánh Giá. Đó là lễ thứ II. Cả hai thánh lễ đều dùng bài thơ “Stabat Mater” (Mẹ Sầu Bi đứng dưới chân Thập Giá) của Giacopone da Todi (1360), tu sĩ dòng Phanxicô, làm thánh ca cho buổi lễ

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Thánh Cornêliô Giáo hoàng và Thánh Cyprianô Giám mục tử đạo

Ngày 16-9: Thánh Cornêliô Giáo hoàng và Thánh Cyprianô Giám mục tử đạo

Thánh Cornêliô
Thánh Cornêliô sinh tại Rôma, là người có một lối sống trong sạch thuần khiết và khiêm tốn sâu xa, không thể trách cứ được. Sau khi giữ các phận vụ trong Giáo hội và được mọi tín hữu thán phục, Ngài lên ngôi, kế vị Đức giáo hoàng Fabianô, Đấng đã chết vì đạo 15 tháng trước trong cuộc bách hại của Đêciô.
Nhưng lên ngôi ít lâu, Ngài đã phải đương đầu với cuộc ly khai đầy gương mù của một giáo hoàng giả. Novatianô là một linh mục đầy tham vọng, được một linh mục Phi châu hậu thuẫn. Họ nổi tiếng về triết học và tài lợi khẩu, đến nỗi có người than phiền vì đã chọn Đức Cornêliô làm giáo hoàng mà không chọn Novatianô.
Hai người nổi loạn đã nỗ lực tuyên truyền và lôi kéo được một số tín hữu và cả một số giám mục. Ba giám mục Italia đã đặt tay tấn phong cho Novatianô làm giám mục. Ông liền viết thư cho nhiều giám mục chống lại Đức giáo hoàng Cornêliô, trách cứ Ngài quá dễ dàng tiếp nhận lại những người đã dâng hương tế thần.
Sáng chói trên ngai tòa Phêrô, vì các nhân đức của vị tông đồ chân chính, thánh Cornêliô đã dùng cả con đường hiền dịu lẫn cứng rắn mà không lôi kéo được 2 con người phản bội trở lại đường ngay. Thánh Cyprianô sau khi biết rõ việc tuyển chọn hợp pháp của thánh Cornêliô đã trợ lực với Ngài hết mình để mang lại sự hợp nhất cho Giáo hội. Dù có một vài hiểu lầm, thánh Cornêliô và Cyprianô liên kết mật thiết với nhau như những người bạn thiết. Những sắc lệnh kết án Novat và Novatianô được một công đồng ở Rôma chuẩn nhận.
Khi Gallo mở lại cuộc bắt đạo, Đức Corneliô bị tống giam. Ngài bị đầy tới Contumcella, bây giờ là Civita Vecchia. Trong một lá thư chào mừng, thánh Cyprianô viết:
- "Chúng ta cầu nguyện cho nhau trong những ngày bách hại này, nâng đỡ nhau bằng tình bác ái. Nếu ai trong chúng ta được Thiên Chúa ban đặc ân cho qua đời trước, chớ gì tình thân hữu vẫn tiếp tục thúc đẩy Chúa dủ tình thương xót anh chị em chúng ta."
Quả thật thánh Cornêliô đã chẳng sống lâu. Ngài đã chết trong khi đi đày vào tháng 6 năm 253 và được an táng tại Kentumcelloe và sau này dời về nghĩa trang thánh Callistô. Tình bằng hữu của hai thánh Cornêliô và Cyprianô vẫn còn sống mãi cho đến ngày nay và Giáo hội kính nhớ các Ngài vào cùng một ngày.
Thánh Cyprianô
Thánh Cyprianô là một khuôn mặt sáng chói trong Giáo hội sơ khai, là một người Phi Châu. Hồi còn là lương dân, với những tài năng đặc biệt của một giáo sư dạy khoa hùng biện và là một luật sư, Ngài đã buông mình theo thú vui như một thanh niên thời đó. Nhưng khi nhờ cha Côcilianô đưa trở lại với đức tin Kitô giáo, Ngài đã hết lòng tự hiến đời mình để phụng sự Chúa Kitô - quyết sống độc thân, bán hết gia sản và nhà cửa để phân phát cho người nghèo. Ngài cũng từ bỏ văn chương để học hiểu kinh thánh, một số tác phẩm và một số tuyển tập thư tín của Ngài là phần đóng góp cho nền văn chương Kitô giáo.
Với cuộc sống như vậy, chẳng lạ gì khi vừa trở lại đạo, Ngài đã được thụ phong linh mục và năm 249 được chọn làm giám mục Carthage, dưới sức ép của hàng giáo sĩ và giáo dân. Ngài đã có được mọi khả năng và đức tin mà một giám mục có thể có được. Với hết tâm lực, Ngài tìm cách nâng cao nếp sống luân lý đạo đức của một đoàn chiên, sau nhiều năm phóng túng vì cuộc bách hại. Đặc biệt Ngài đã viết truyền đơn chống lại sự thế tục hoá của các trinh nữ tận hiến.
Một năm sau khi được tấn phong, năm 250 hoàng đế Đêciô bắt đầu một cuộc bách hại đầy nguy hiểm vì được tổ chức có hệ thống. Ông bắt mọi người phải dâng lễ kính thần linh của ông. Nhiều Kitô hữu đã tuân phục; một số khác tìm cách mua những giấy chứng nhận để được yên thân vì nghĩ rằng: Giáo hội không thể thiếu một vị giám mục khi phải đương đầu với cơn bão táp. Từ nơi trú ẩn, Ngài viết thư hướng dẫn đoàn chiên.
Cuộc bách hại chấm dứt sau cái chết của Đêciô. Nhiều người Kitô hữu chối đạo trở về với Giáo hội. Thánh Cyprianô chủ tọa một công đồng trong đó quyết định rằng: những người dâng lễ kính thần minh chỉ được tha tội trước khi chết, còn những người chỉ mua giấy chứng nhận, thì được tha sau một thời gian thống hối. Novatianô, một linh mục và Fêlicissimô, một phó tế đã ly khai vì muốn tha ngay. Thánh Cyprianô đã hỗ trợ cho đức giáo hoàng Cornêliô chống lại nhóm ly khai theo Novatianô. Cùng với nhiều lá thư Ngài gửi cho các Kitô hữu Roma, một khảo luận về sự hiệp nhất Giáo hội “De Unitate Ecclesiae”, trong đó Ngài nhấn mạnh tới thượng quyền của đấng kế vị thánh Phêrô.
Năm 253, một cơn dịch lan tràn khắp đế quốc. Các Kitô hữu ở Carthage quảng đại phục vụ các nạn nhân, nhưng người ta mê tín lại cho rằng: các thần minh đã giận dữ với người Kitô hữu. Hoàng đế Gallô mở một cuộc bách hại mới. Một sắc lệnh mới tha tội cho mọi hối nhân để họ đứng vững trong đức tin. Dầu vậy, cuộc bách hại đã không dữ dội ở Carthage và Đức Cha Cyprianô không bị quấy rầy.
Chẳng may có sự tranh chấp giữa thánh Cyprianô với đấng kế nhiệm thánh Cornêliô là Đức giáo hoàng Stêphanô về việc rửa tội lại cho người đã được rửa tội trong lạc giáo. Cuộc ly khai đã không xảy ra vì Đức Sixtô kế vị đức Stêphanô được giữ tập tục của mình.
Năm 257, hoàng đế Valêrianô lại khơi dậy cuộc bách hại. Thánh Cyprianô là nạn nhân của cuộc bách hại này. Các tường thuật về cuộc diện kiến của Ngài trước quan tổng trấn và về cuộc tử đạo của Ngài dựa trên các tài liệu chính thức của một người đã được mục kiến. Trước mặt tổng trấn Paternô, Ngài tuyên xưng đức tin và không chịu nộp danh sách các linh mục. Ngài bị đày đi Curubis, một thành bên bờ biển là nơi Ngài viết khảo luận cuối khuyên nhủ can đảm chịu chết vì đạo. Vào đêm trước khi bị lưu đày, Ngài mơ thấy mình bị chặt đầu vào năm sau.
Quả thật, năm sau, vào mùa thu năm 258 có sắc lệnh xử các giáo sĩ. Ngài bị điệu về trước mặt quan tổng trấn mới là Galeriô Maximô. Sau một đêm sống với đoàn chiên, sáng 14 tháng 09, Ngài đứng trước quan tòa và bị chất vấn:
- Ngươi là Thasciô, thượng tế của bọn người phạm thánh phải không?
- Phải.
- Đức hoàng thượng dạy ngươi phải dâng lễ tế các thần minh.
- Tôi sẽ không làm.
- Hãy nghĩ lại đi.
- Quan hãy làm như chỉ thị, khi đường đi ngay thẳng lại phải suy tính làm gì.
Quan tòa ra lệnh xử trảm thánh nhân. Ngài truyền đem 25 tiền vàng thưởng cho lý hình. Các Kitô hữu thi nhau thấm máu người làm kỷ vật.
Đêm hôm sau, các Kitô hữu đã rước đuốc mang thân thể Ngài mai táng trong phần mộ của Macrôbiô Condidianô, một quan chức Roma. Một ít ngày sau, quan tổng trấn cũng theo Ngài tới phần mộ. Chúng ta có được bản ký sự về thánh Cyprianô do Pontiô của Ngài viết.


Suy Tôn Thánh Giá: Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa

Suy Tôn Thánh Giá: Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa

Hằng năm, Giáo Hội Công Giáo dành ngày 14 tháng 9 làm Lễ Suy Tôn Thánh Giá, lễ kính...
Thánh Giá là ảnh tượng được tôn kính, sùng mộ, rất thân thuộc trong đời sống đạo đức của người Kitô hữu. Nhưng, dần dần vì quá quen người tín hữu có thể giảm bớt hoặc mất đi sự quan tâm. Ngay cả dấu Thánh Giá, nhiều lúc, vì ảnh hưởng của thói quen, chỉ được giáo hữu “làm dấu” qua loa lấy lệ, không còn nhớ đến ý nghĩa cao quý về hồng ân châu báu Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế để lại dưới thế trần.
 Để góp phần cùng quý giáo hữu dọn lòng sốt sắng, tăng thêm tinh thần đạo đức tôn vinh Thánh Giá một cách có ý thức trọn vẹn, chúng tôi xin giới thiệu một ít học hỏi về Thánh Giá; về nghi lễ biểu dương Thánh Giá; về lễ Suy Tôn Thánh Giá; về dấu Thánh Giá và mầu nhiệm Thập Giá.
Thánh Giá
Thập giá hay cái “giá” hình chữ “thập” mang xác Chúa Giêsu chịu đóng đinh và chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, nên được gọi là Thánh Giá. Ngay từ thời Giáo Hội tiên khởi vào thế kỷ thứ nhất, vì biết lòng mến mộ Thánh Giá gia tăng lòng đạo đức, ảnh hưởng đến việc mở mang Kitô Giáo, các vua chúa quan quyền, từ các hoàng đế Roma đến quan chức tại Trung Đông, đã tìm đủ mọi cách quyết xóa bỏ niềm tin vào Thánh Giá. Thập giá được dùng để thử thách, cưỡng bách người có đạo bước qua hoặc chà đạp trước khi lãnh án “tử vì đạo”.
Thâm độc nhất là hơn hai thế kỷ đầu theo niên lịch công nguyên, Kitô Giáo bị đàn áp và bách hại kịch liệt. Vua Adriano ( 76 – 138 ), khi lên ngôi hoàng đế Roma ( 117 – 138 ) đã ra lệnh triệt hạ hay phá hủy các di tích về Đức Giêsu Kitô Cứu Thế, như nơi Chúa Chịu Khổ Nạn, Chịu Chết và Mai Táng. Rồi khoảng năm 135, ông còn cho xây nhiều đền thờ bụt thần trên Mộ Thánh của Đức Kitô và tìm mọi cách chôn giấu Thánh Giá Chúa Giêsu chịu đóng đinh, không cho giáo hữu tôn kính. Dù vậy, trong khi đó tại Giêrusalem, Giáo Hội lại đi tiên phong trong các lễ nghi và nghi thức Phụng Vụ liên quan đến Đấng Cứu Thế cũng như tôn vinh Thánh Giá.
Mãi đến thế kỷ thứ tư, thời vua Constantino ( khoảng năm 270, 280 đến 337 ), làm hoàng đế Roma ( 306 – 337 ), đạo Chúa mới được tự do. Sau khi nhờ phép lạ Thập Giá để được đại thắng quân xâm lăng của Maxentio, vua ban hành lệnh tự do tôn giáo, dẹp bỏ đàn áp bắt bớ Kitô Giáo. Ông trở lại đạo và bà Helena, mẹ vua, cũng trở lại đạo Công Giáo. Vì lòng kính mến Chúa Giêsu Cứu Thế và nhiệt thành sùng mộ Thánh Giá, năm 326, dù đã 80 tuổi, bà cũng thân hành qua Thánh Địa, cộng tác chặt chẽ với Đức Cha Macario, Giám Mục thành Giêrusalem, để cho tiến hành tìm các nơi Thánh, di tích sau hết của cuộc đời Chúa Cứu Thế.
Nhờ các nguồn thông tin có cơ sở, bà cho xúc tiến đào bới về khảo cổ tại chân núi Calvario và đã lần lượt tìm được các di tích về Khổ Nạn, Chịu Chết và Mai Táng Chúa Giêsu trong Mộ. Thành công lớn lao nhất là tìm được ba cây Thập Giá: một của Đức Kitô và hai của hai tên trộm. Theo nghiên cứu về Thánh địa, Linh Mục Jaud cho biết: Nhờ phép lạ cứu sống một bệnh nhân đang hấp hối và một người đã chết được sống lại, khi mỗi người chạm đến gỗ Thánh, Đức Giám Mục Macario xác định thập giá thực trên đó Chúa Giêsu đã bị đóng đinh và gọi tên là Thánh Giá.
Nghi lễ biểu dương Thánh Giá
Sự tôn kính Thánh Giá đã có từ lâu đời trong Giáo Hội Giêrusalem là nghi lễ biểu dương Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh mà dần dần lan rộng trong Giáo Hội Đông và Tây Phương. Sau đó, Đức Giáo Hoàng Gregorio ( 590 – 604 ) đưa vào Phụng Vụ Roma như nghi lễ Thứ sáu Tuần Thánh ngày nay. Chính yếu là việc biểu dương “Gỗ thập giá”, với lời kêu mời long trọng: Ecce lignum Crucis. Xướng: Đây là gỗ Thánh Giá, nơi treo Đấng cứu độ trần gian. Đáp: Chúng ta hãy đến thờ lạy. ( Ecce lignum crucis in quo salus mundi pependit. Venite adoremus. )
Vì thế, khi tham dự nghi lễ Thờ lạy Thánh Giá vào Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta hãy nhớ đến ý chỉ chính của phụng vụ là tôn vinh “Gỗ thập giá” ( chứ không phải Thánh Giá có hình Chúa Giêsu. )
Lễ Suy Tôn Thánh Giá
Lòng mến mộ và tôn kính Thánh Giá đã có từ lâu đời trong Kitô Giáo. Cụ thể, khi đề cập đến Giáo Hội từ thời sơ khởi, vào thế kỷ đầu của ngàn năm thứ nhất, nhiều chuyên gia về giáo sử, đặc biệt như Giáo Phụ Tertuliano, đều cho biết: “Bất kỳ làm một việc gì có ý nghĩa, người Kitô hữu đều làm dấu Thánh Giá.” Thậm chí người Kitô hữu có thói quen làm dấu Thánh Giá trên người và vật như dấu chỉ sự chúc lành. Nhưng, phải đến thế kỷ thứ 4 trở đi mới có ngày lễ dành để tôn vinh Thánh Giá.
Đầu tiên, khi tìm được di tích Thánh Giá vào năm 326, bà Helena cho xây cất hai đền thờ, một tại núi Calvario và một tại Mộ Thánh ở Thánh Địa. Lễ khánh thành và cung hiến hai đền thờ này được tổ chức trọng thể tại Giêrusalem vào hai ngày 13 và 14 tháng 9 để mừng Đền Thờ Calvario và Mộ Thánh. Năm 335, ngày 14 tháng 9 cũng mừng kính ngày tìm được Thánh Giá thực vào 14 tháng 9 năm 326. Vì gỗ Thánh Giá thực rất quý, nên được phân ra nhiều phần rất nhỏ, chia cho các Giáo Hội tại mỗi nơi. Thành Constantinopoli được phần Gỗ Thánh lớn hơn và phần còn lại được lưu niệm tại Giêrusalem. Từ đó, ở Giêrusalem lễ tìm được Thánh Giá mừng kính trọng thể vào ngày 14 tháng 9.
Tiếp đến, Lễ Suy Tôn Thánh Giá được thiết lập tại Giêrusalem vào 14.9.629 như chứng tích sau:
Thế kỷ thứ 6, khi giặc giã nổi lên, vua Ba Tư Khosroès 1 ( 531 – 579 ), đem quân đến Cận Đông và đánh thắng quân của đế quốc Roma ở Phương Đông, chiếm đóng và tàn phá Thánh Địa, rồi cướp luôn cả Thánh Giá thực ở Giêrusalem. May thay, lúc ấy có ông Heraclius ( 575 – 641 ), vị tướng tài giỏi mới 35 tuổi, con của tổng trấn thành Carthage, đã lật đổ bạo chúa Phocas, rồi lên nắm quyền ở Constantinopoli ngày 3.10.610, và làm hoàng đế Byzantin, lấy hiệu là vua Heraclius 1 ( 610 – 641 ). Ông đã anh dũng điều khiển trận đánh và chiến thắng đầu tiên ngày 12.12.627. Ông rượt đuổi vua Khosroès 1 đến Ctésiphon, và tại đây, con trai của Khosroès là Siroes Shirva đã giết cha và giao nộp Thánh Giá thực lại cho vua Heraclius 1.
Năm 629, Thánh Giá được kiệu về Constantino, rồi từ đó rước khải hoàn về Giêrusalem. Vua Heraclius muốn vác Thập Giá vào đền thờ để tạ ơn Chúa. Ông mặc vương phục và đội mũ hoàng đế. Nhưng khi vác Thánh Giá lên vai, ông thấy quá nặng. Tức thì, Đức Zacharias, Giáo Chủ Giêrusalem, liền nói với vua: “Xin hoàng đế thận trọng vì với mũ miện và y phục vương quyền mà ngài đang mặc, ngài không hợp để vác Thập Giá giống như thân phận khó nghèo, khiêm tốn của Chúa Giêsu Kitô.”
Nhà vua nghe theo lời Đức Giáo Chủ, bỏ hết mũ miện, vương phục. Tức thì gỗ Thập Giá trở nên nhẹ nhàng và Heraclius 1 vác Thập giá gỗ vào đền thờ. Với gỗ Thập giá Thánh, Thiên Chúa còn ban nhiều phép lạ, trong số có một người chết được sống lại; bốn người bất toại được lành bệnh; mười người phong cùi được trở nên sạch sẽ, bình phục; mười lăm người mù được sáng mắt; vô số người bị quỷ ám được giải thoát...” ( Viết theo nghiên cứu của Abbé L. Jaud, Vie des Saints, 1950 )
Từ đó, tại Giêrusalem, Đức Giám Mục đã cử hành trọng thể lễ Suy Tôn Thánh Giá ngày 14 tháng 9 năm 629, mà sau này trở thành Lễ Suy Tôn Thánh Giá 14 tháng 9 ngày nay.
Dấu Thánh Giá
Suy tôn Thánh Giá có ý nghĩa nhất là suy gẫm và làm Dấu Thánh Giá cách sốt sắng.
Sự tích Dấu Thánh Giá như sau: Điềm đã xảy đến đem lại chiến thắng cho hoàng đế Roma Constantino là “một dấu chỉ lạ về Thập Giá”. Khi phải tuyên chiến với quân của Maxentio xâm lược nước Ý, vua Constantino 1 ( 306 – 337 ) đã nhìn thấy xuất hiện trên trời điềm lạ “một thập giá sáng ngời” với lời phán: “Dưới dấu chỉ này, người sẽ chiến thắng – In hoc signo vinces”. Vua ra lệnh giương cao “dấu Thánh Giá – signum Crucis” làm cờ hiệu và đã chiến thắng quân Maxentio tại chân tường Roma, gần cầu Milvian, vào ngày 28.10.312. Vua nhìn nhận đó là “dấu chỉ Thiên Chúa ban ơn”, nên đã ra lệnh dep bỏ mọi hình thức bắt đạo và truyền loan “Kitô Giáo là tôn giáo chính thức của hoàng triều Roma.”
Làm dấu Thánh Giá
Theo Phụng Vụ, Thánh Giá được tôn vinh trong Giáo Hội Đông và Tây Phương.
Thông thường, khi làm Dấu Thánh Giá trên mình, người Kitô hữu đọc kinh: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” Nhưng vẫn có nhiều trường hợp làm Dấu Thánh Giá mà không đọc Kinh Dấu Thánh Giá, như trong Thánh Lễ với câu: “Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi danh Chúa”, và sau Kinh cáo mình: “Xin Thiên Chúa toàn năng...” Hoặc, trước khi đọc Phúc Âm, vị Chủ Tế hoặc Phó Tế làm Dấu Thánh Giá nhỏ trên khởi đầu Tin Mừng, rồi làm Dấu Thánh Giá nhỏ trên trán, trên môi miệng và trên ngực.
Hoặc, trong Phụng Vụ Giờ Kinh khi đọc “Lạy Chúa, xin hãy phù trợ chúng tôi – Deus in adjutorium nostrum intende”, hay khởi đầu các bài “Magnificat”, “Benedictus”, hay “Nunc Dimitis”, hoặc làm một Dấu Thánh Giá nhỏ trên môi khi đọc: “Lạy Chúa xin mở môi con ra – Domine labia mea aperies”.
Trong Giáo Hội Chính Thống Giáo, việc làm Dấu Thánh Giá được thực hiện nghiêm chỉnh bằng “bàn tay phải với ba ngón tay “ngón trỏ, ngón chỉ và ngón giữa” tụm lại, tiêu biểu niềm tin vào Ba Ngôi Thiên Chúa; còn hai ngón đeo nhẫn và ngón út thì sát vào nhau, để chỉ sự kết hợp của “thiên tính và nhân tính của Chúa Giêsu”.
Mầu nhiệm Thánh Giá
Giáo huấn của Hội Thánh rất phong phú về Suy Tôn Thánh Giá. Theo hướng dẫn của Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, suy tôn Thánh Giá chính là:
1. Minh chứng Đức Tin qua gương Mẹ Maria. “Khi chứng kiến Chúa Giêsu bị treo trên Thập Giá, Đức Tin của Mẹ không bao giờ dao động vì Mẹ tin rằng Thiên Chúa sẽ hoàn tất lời hứa của Ngài cứu chuộc nhân loại.” ( Giáo Lý 149 ).
2. Cổ võ sự thống hối và tôn thờ Thiên Chúa, như được ghi trong Sách Công Vụ Tông Đồ: “Khi nói cùng toàn thể nhà Ítraen, Phêrô quả quyết: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên Thập giá thì Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài là Chúa và là Đức Kitô.” ( Cv 2, 36; Giáo Lý 440 ).
3. Kêu gọi yêu thương, hiệp nhất, như lời Thánh Phaolô Tông Đồ: “Chúa Kitô bị treo trên Thập Giá thu hút mọi người đến với Ngài” ( Ga 12, 32; Giáo Lý 160 ), “lôi cuốn hết thảy cùng hiệp nhất với nhau.” ( Giáo Lý 542 ).
4. Tuyên rao Nước Chúa trị đến, như lời ca tôn vinh gỗ Thập Giá “Vexilla Regis” Thứ Sáu Tuần Thánh ghi lại: “Chính nhờ cây Thánh Giá của Chúa Kitô mà Nước Thiên Chúa được thiết lập cách dứt khoát... Thiên Chúa đã cai trị từ trên cây gỗ này” ( Giáo Lý 550 ).
5. Thánh Giá là bằng chứng Chúa Giêsu tiếp tục bênh vực cho chúng ta trên Nước Trời. Thánh Phaolô Tông Đồ nói: “Sự nâng lên trên cây Thập Giá ngụ ý và báo trước việc Chúa lên Trời. Ngài là Đấng ra trước Thiên Chúa để bênh vực chúng ta” ( Dt 9, 24; Giáo Lý 662 ).
Công Đồng Vaticano 2 ( 1962 – 1965 ) khai triển Suy Tôn Thánh Giá hướng đến:
Mầu nhiệm Phục Sinh. “Sau khi chịu chết trên Thập giá, Đức Kitô đã phục sinh” ( GH ). “Nhờ Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại, thế gian đã được giải thoát” ( MV, 2 ).
Thánh Lễ: Mỗi lần hy tế Thập Giá được cử hành trên bàn thờ, Chúa Kitô, Chiên Vượt Qua của chúng ta chịu hiến tế” ( 1Cr 5, 7 ) thì công trình cứu chuộc được thực hiện” ( GH, 3 ).
Ơn cứu độ. “Nhờ Người đã hoàn tất công trình cứu chuộc trên Thập Giá, mang lại cho con người ơn cứu độ và tự do” ( TD, 11 ).
Hòa giải. “Đức Kitô đã hòa giải con người với Chúa Cha bằng Thập Giá” ( MV, 78 ).
Vác Thánh Giá theo chân Chúa Giêsu. “Tưởng niệm Thập Giá và sự Phục Sinh của Đức Kitô, người tín hữu vác Thập Giá bước theo Chúa Giêsu” ( TĐ, 4; GH, 41 ).

Ghi chú các chữ tắt: GH = Hiến chế Tín lý về Giáo Hội; MV = Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay; TD = Tuyên ngôn về Tự Do tôn giáo.
Kỹ sư TRẦN VĂN TRÍ, Oregon, 9.2009
 Bản quyền thuộc về Tỉnh Dòng Đaminh Việt Nam
Xin ghi rõ nguồn khi trích bài viết và tài liệu từ Website này

THÁNH GIO-AN KIM KHẨU, Giám mục,tiến sĩ Hội Thánh (Saint John Chrysostom)

THÁNH GIO-AN KIM KHẨU,
Giám mục,tiến sĩ Hội Thánh
(Saint John Chrysostom)
Ngày 13/9/2013
Lc 6,39-42

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT



Mỗi vị thánh đều mang Chúa Kitô trong mình và một cách nào đó các Ngài luôn chóng vánh giới thiệu Ðức Kitô cho người khác. Thánh là để Chúa phủ lấp toàn bộ con người mình, để Chúa chiếu sáng xuyên suốt từng ngõ ngách, từng đường tơ,kẽ tóc.Thánh là họa lại chính Chúa Kitô càng rõ nét bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu,đúng như lời sách khởi nguyên viết:"Họalại hình ảnh của Thiên Chúa". Thánh Gioan kim khẩu là một trong muôn vàn vị thánh đã trở nên giống Chúa Kitô.

GIOAN KIM KHẨU LÀ AI ?
Thánh nhân sinh tại nước Thổ nhĩ Kỳ vào năm 334 tại Antiokia. Người ta gọi Ngài là Gioan thành Antiokia. Ngài được mệnh danh là Kim Khẩu: Chrysostome .Miệng
tuôn toàn những lời quí như vàng.Thánh nhân có tài hùng biện và trí khôn ngoan minh mẫn hiếm có. Gioan thành Antiokia ngay từ khi còn nhỏ đã được mẹ Ngài giáo dục với một lòng nhân ái bao la,truyền đạt cho Ngài một đức tin sắt đá và lòng hy sinh hào hiệp.Năm 373,thánh nhân được tuyển vào chức đọc sách,nhưng tài lợi khẩu,hoạt bát của Ngài đã làm say mê bao người,từ đó danh tiếng Ngài vang dội khắp nơi.

ÐỜI CON NGƯỜI LÀ DO CHÚA

Vì danh tiếng lẫy lừng nổi bật do lòng đạo đức thánh thiện và tài hùng biện có sức thuyết phục nhiều người trở về với chúa,người ta nhất loạt tôn thánh nhân lên chức giám mục,nhưng Ngài khiêm tốn khước từ và chỉ thích ẩn mình,ăn chay,cầu nguyện.Ý Chúa lạ lùng không ai hiểu thấu,sau bốn năm sống khắc khổ,Ngài lâm bệnh dạ dầy nặng,buộc Ngài phải trở về Antiokia. Năm 386, thánh nhân lãnh nhận sứ vụ linh mục và trong cương vị linh mục,suốt 12 năm, thánh nhân đã làm say mê dân thành Antiokia nhờ lòng sốt sắng, tài ăn nói thuyết phục,miệng tuôn những lời quí như vàng và đưa rất nhiều người quay về với Chúa do lời giảng dậy của Ngài.Thánh nhân đả phá những cổ tục mê tín,cuộc sống hào phóng,xa hoa, trụy lạc của những người giầu và kêu gọi mọi người lưu tâm đến những người nghèo.Chính thánh nhân nêu gương sáng sống nghèo và giúp đỡ người nghèo.Năm 397,Ngài được bầu làm giám mục thành Constantinople, thánh nhân lưu tâm nghiên cứu về thánh Phaolô tông đồ,cải tổ hàng giáo sĩ,thiết lập một số qui chế để thánh hóa bản thân,hủy bỏ tận căn mọi tập tục xa xỉ gây tốn phí tiền bạc, của cải,vật chất. Ngài chống đối kịch liệt các bè rối Ariô, Novatio vv.


CHÚA THƯỞNG CÔNG CHO THÁNH NHÂN

Năm 403, Ngài bị Nữ hoàng Eudoxie kết án lưu đày vì thánh nhân dám lên tiếng phản đối Eudoxie đã chiếm đoạt tài sản của một bà goá ở Callitrope.Thánh nhân đã phải chịu biết bao nhiêu đau khổ,cay đắng,chông gai và thử thách vì Chúa. Mọi người sẽ mãi mãi thán phục lòng bác ái ,tài giảng thuyết và các sách vở giá trị Ngài đã để lại cho hậu thế.
Cuộc đời của Ngài có thể ví như một bông hoa đẹp giữa những bông hoa khác muôn mầu,muôn hương . Bông hoa thơm là chính Ngài bị cầm tù,bị tra khảo,đánh đập,nhưng hương thơm mãi mãi tỏa ra thơm ngát làm say mê mọi người.
Thánh nhân qua đời vào ngày 14/7/407, Chúa thưởng công Ngài bằng vô số phép lạ sau khi Ngài chết. Ðức Thánh cha Piô X đã nâng Ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh và đặt Ngài làm bổn mạng của những nhà giảng thuyết.

Lạy thánh Gioan Kim Khẩu,xin ban cho chúng con biết dùng miệng lưỡi để ca tụng và cảm tạ tri ân Thiên Chúa.
Xin cho chúng con lòng can đảm dám nói lên sự thật,dù sự thật làm người khác mất lòng.
Xin ban cho mọi người Kitô hữu biết sống khó nghèo như Chúa.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

LỄ SINH NHẬT ĐỨC MẸ

LỄ SINH NHẬT ĐỨC MẸ
Ngày 8 tháng Chín
Hội thánh mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ ngày 8 thg 9
"Chúng ta hãy hân hoan mừng Lễ Sinh nhật Đức Trinh nữ Maria, Đấng đã sinh ra Mặt Trời Công chính là Đức Kitô Chúa chúng ta" (Ca Nhập lễ)
 
I. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

Theo Thánh sử Luca (Lc 1:26), Đức Trinh Nữ Maria sống tại Nagiarét khi chịu thai Chúa Giêsu, nên có thể Người cũng sinh ra tại Nagiarét. Và theo ngụy thư, gia đình hai Thánh Gioakim và Anna cư ngụ tại Nagiarét, nên hai Ngài cũng sinh Đức Trinh Nữ Maria tại đó. Nhưng theo Tiền Phúc âm Thánh Giacôbê, Đức Trinh Nữ Maria sinh tại Giêrusalem, vì hồi thế kỷ V một đền thờ được dâng kính Thánh Anna phía bắc đền thờ Giêrusalem, và tại Giêrusalem người ta mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ ngày mồng 8 tháng Chín trong một Vương cung thánh đường gần hồ tắm ngay chính nơi theo lưu truyền là nơi Đức Trinh Nữ sinh ra. Và năm 603, Thánh Sôphrôniô, Thượng phụ Giêrusalem, xác nhận Đức Trinh Nữ sinh tại Giêrusalem. Thánh Inhaxiô Antiôkia và Thánh Giustinô minh chứng Đức Trinh Nữ thuộc hoàng tộc Đavid vì theo Thánh sử Luca (1:27, 32, 69), Chúa Giêsu, Con Đức Maria, thuộc nhà Đavid.
Bên Đông phương, theo Tiền Phúc âm Thánh Giacôbê, năm 560 đã có lễ Sinh nhật Đức Mẹ. Năm 715, Thánh Giám mục Anrê Crêta dâng lễ Sinh nhật Đức Mẹ và đã giảng bốn bài giảng. Bên Tây phương, Đức Thánh Giáo hoàng Sergiô I lập lễ này cùng với lễ Truyền tin, lễ Mẹ dâng Con, lễ Mẹ lên trời với bốn cuộc rước linh đình từ nhà thờ Thánh Adrianô về đền thờ Đức Bà Cả. Tại Pháp, Thánh Maurillô, Giám mục giáo phận Angers, đầu tiên mừng lễ Sinh nhật Đức Mẹ mà từ lâu gọi là "Notre-Dame Angevine". Thế kỷ XI, Thánh Giám mục Fulbertô có công truyền bá lễ này và, khi làm Giám mục thành Chartres, ngài đã mừng lễ này trọng thể. Dần dần lễ này được truyền bá khắp nơi.
Đức Innocentê IV đặt lễ có tuần tám. Đức Grêgôriô XI đặt lễ vọng và ngày chay trước. Đức Thánh Piô X bỏ lễ vọng và tuần tám. Lễ Sinh nhật Đức Mẹ ngày mồng 8 tháng 9, đúng chín tháng sau lễ Đức Mẹ đầu thai vô nhiễm ngày mồng 8 tháng 12. 

II. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ
Lễ Sinh nhật Đức Mẹ gọi là "lễ Noel mùa Thu", vì bầu trời tươi sáng, khí hậu mát mẻ êm dịu tiên báo một mùa hồng phúc. Ngày Sinh nhật của Mẹ là Rạng đông của Mặt Trời công chính là Đức Giêsu Kitô, Con của Mẹ, vì Mẹ sinh ra đem đến cho toàn thể loài người niềm hy vọng ơn Cứu độ. Do đó, hôm nay Giáo hội cầu xin cho được ơn phúc lộc và bình an do Con sinh bởi Mẹ giải thoát loài người khỏi vòng tội lỗi. Ngày Sinh nhật đem Tin mừng cho cả trần gian, vì Đức Kitô, Chúa chúng ta là Mặt Trời soi đường ngay nẻo chính, đã từ cung lòng Mẹ sinh ra. Người là Đấng huỷ bỏ lời chúc dữ, đem lại muôn phúc lành, là Đấng tiêu diệt thần chết và ban phúc trường sinh. Giáo hội cũng tin tưởng vào Con sinh ra bởi Mẹ làm cho đức Đồng trinh của Mẹ vẫn luôn vẹn toàn, không bị tổn thương, nhưng lại được thánh hiến. Đức Trinh Nữ Maria vinh hiển, xuất thân từ dòng dõi Abraham, từ chi tộc Giuđa và là con cháu hoàng tộc Đavid, đã được tiền định làm Mẹ Thiên Chúa. Người là kho tàng đức Khiết trinh, là cây gậy nở hoa của Aaron, là đề tài của các lời tiên tri, là Ái nữ của Thánh Gioakim và Anna đã được sinh ra hôm nay, đổi mới lại bộ mặt trái đất và làm chan hoà ánh sáng trong khắp Giáo hội.

III. Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ
Bài đọc I: Mica 5:1-4
Tiên tri Mica xuất hiện đồng thời với tiên tri Hosê và tiên tri Isaia thế kỷ VIII trước Thiên Chúa giáng sinh. Ông tiên báo Vua hoà bình sẽ sinh tại Ephrata và chăn dắt đoàn chiên của Giavê. Ephrata nguyên là một chi tộc sinh sống gần Bêlem. Mica nghĩ đến dòng dõi vua Đavid tại Bêlem và nhìn thấy một nhà lãnh đạo, một Đấng thống trị Israel. Thiên Chúa sẽ che chở dân Người tới khi một người nữ sinh đẻ sẽ sinh con (5:2). Lời này ám chỉ Mẹ Đấng Thiên Sai và sự đản sinh của Immanuel (Is 7:14). Đấng thống trị Israel sẽ chăn dắt dân Người. Người sẽ là chính sự bình an (5:4). Tân ước đã trích lại những lời Mica tiên tri về Đấng Thiên Sai sinh ra trong Mt 2:6 và Ga 7:42.
Giáo hội trích đọc đoạn tiên tri Mica này cho ngày Sinh nhật Mẹ Maria để nêu bật rằng thời gian đủ đầy đã đến khi Trinh Nữ Maria sinh ra: Đó là Rạng đông của ơn Cứu chuộc.
Bài đọc II: Rôma 8:28-30
Đoạn Thánh thư này nhắc nhớ kế hoạch từ muôn thuở của Thiên Chúa. Người tiền định rằng những kẻ yêu mến Người thì Người giúp họ được sự lành. Người nắn đúc họ nên giống hình ảnh Con của Người, để Ngài nên trưởng tử giữa đoàn anh em đông đúc. Tư tưởng "trưởng tử" ám chỉ phẩm chức của Người Con và chúng ta được kêu gọi vào vương quốc của Ngài. Kế hoạch của Thiên Chúa rất minh bạch, đó là những kẻ mà Người đã tiền định, đã kêu gọi, đã công chính hoá, thì Người đã đem họ vào phúc vinh quang. Kế hoạch thiên định này liên quan tới số phận tươi sáng của Mẹ Maria.
Phúc âm: Matthêu 1:1-16, 18-23
Gia phả Chúa Giêsu theo Thánh sử Matthêu hoàn toàn khác với gia phả của Thánh sử Luca. Mở đầu: "Gia phả Đức Giêsu Kitô, con Đavid, con Abraham", Thánh sử Matthêu chứng tỏ Chúa Giêsu thuộc dòng dõi vua Đavid qua Thánh Giuse và nói cho tín hữu ngoài dân Do Thái biết rằng Chúa Giêsu là con Abraham mà mọi dân thiên hạ sẽ lấy dòng giống ông mà cầu phúc cho nhau (St 22:18).
Thánh sử Luca thuật gia phả Chúa Giêsu vào dịp Người chịu phép rửa khi có tiếng từ trời phát ra: "Này Con là Con chí ái của Ta" (Lc 3:22).
Gia phả theo Thánh sử Matthêu được dùng trong lễ Sinh nhật Đức Mẹ, qua ba lần mười bốn thế hệ. Con số mười bốn là số ngày tròn và khuyết của mặt trăng. Lịch sử nhân loại tròn vào triều đại Đavid, nhưng khuyết trong thời gian dân Do Thái bị đi lưu đày bên Babylon, rồi lại tròn vào thời kỳ Chúa Giêsu. Điểm đặc biệt Thánh sử kể tên bốn người phụ nữ là những dụng cụ Thiên Chúa dùng trong kế hoạch của Người:
1) Bà Tamar (St 38:6-30) tổ mẫu của triều đại Giuđa (St 49:10);
2) Bà Rahah là một gái điếm đã lo liệu cho ông Giosuê dẫn dân Do Thái vào đất hứa (Gs 2:1-24);
3) Bà Ruth theo mẹ chồng về đất Israel kết hôn với ông Boaz sinh ra Obed là ông nội của vua Đavid (R 2-4);
4) Bà Bethsheba cùng với Đavid sinh ra Salomon
(2 Sm 11:12-24).
Tại sao gia phả Thánh Giuse được dùng cho lễ Sinh nhật Đức Mẹ? Là vì Đức Maria được dùng trong kế hoạch của Thiên Chúa: là bạn của Thánh Giuse, chịu thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Ngày sinh nhật và vai trò của Mẹ là bối cảnh của lịch sử Cứu độ. Đức Maria giữ kín việc Người thụ thai một cách nhiệm lạ. Thánh Giuse là người công chính không muốn người ta cho mình là cha của thai nhi đó nên mới quyết tâm bỏ trốn. Nhưng Thiên thần Chúa hiện đến giải thích cho Ngài hiểu biết rõ biến cố Nhập thể ứng nghiệm lời tiên tri Isaia: "Một Trinh Nữ thụ thai, hạ sinh một Con Trai gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (7:14).
IV. LỜI CÁC THÁNH
- Thánh Basiliô: Mẹ được ban ân sủng dư tràn là cốt để làm trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại.
- Thánh Sôphrôniô: Tổng thần Gabrie chào Mẹ là Đấng đầy ân sủng, vì ân sủng ban cho người khác có chừng có hạn, còn khi ban cho Mẹ Maria, đã ban đầy tràn, ban tất cả.
- Thánh Đamascenô: Muôn dân hãy đến, bất cứ bạn là ai, bất cứ ở nơi đâu, hãy đến hợp hoan chúc mừng ngày sinh nhật của Đức Trinh Nữ, cũng là ngày sinh nhật ơn Cứu độ chúng ta.
- Thánh Đamianô: Một chồi sẽ phát sinh từ gốc Jessê, và từ rễ nó mọc lên một bông hoa. Mẹ Thiên Chúa là chồi mạnh mẽ chiến thắng sức mạnh thù địch hoả ngục.
- Thánh Anselmô: Ở thế gian không có ai không được Mẹ Maria ban cho dự vào phần tràn dư ân sủng của Mẹ. Thật vậy, trong vũ trụ, không thể tìm đâu ra một người nào không mắc nợ từ tâm của Mẹ, không thể tìm đâu ra một người nào mà tình thương của Mẹ không tràn tới.
- Thánh Bênađô: Trong Mẹ, Chúa đã đặt tất cả sự sung mãn mọi ơn lành của Chúa để nếu chúng ta có được tia sáng hy vọng nào, ánh quang ân sủng nào, đường lối độ phúc nào, thì chúng ta thảy đều nhờ lòng từ ái Mẹ mà có.
- Thánh Bônaventura: Mọi người chúng ta là con cái sự phẫn nộ (Ep 2:3). Ngày sinh nhật rất thánnh của Mẹ Maria vượt xa biết bao lời chúc dữ của tất cả chúng ta. Không những Mẹ được thoát nguyên tội, mà cũng thoát khỏi mọi tội lỗi và khổ đau, vì Mẹ đầu thai vô nhiễm.
- Thánh Tôma: Mẹ Maria có 3 đợt ân sủng: Đợt tràn đầy thứ nhất trong linh hồn ngay khi vừa phôi dựng, linh hồn mỹ diệu của Mẹ đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Đợt tràn đầy thứ hai trong thân xác mẹ, để từ thân xác trinh vẹn Mẹ, Ngôi Lời mặc lấy thân xác loài người. Đợt thứ ba tràn đầy để làm lợi ích bao la cho chúng ta, để làm cho chúng ta được hưởng những báu tàng phú quí của Mẹ.
- Thánh Vinh-sơn: Sự thánh thiện của Mẹ đã cao vượt trên sự thánh thiện của tất cả các thần thánh.
- Thánh Bênađinô: Thiên Chúa không bao giờ chỉ định ai vào một nhiệm vụ nào mà không ban cho họ không những đủ các năng lực cần thhiết, mà còn ban cả những ân điển cần phải có để tô điểm nhiệm vụ đó thêm vinh dự.
- Thánh Laurensô Giustinianô: Nếu mẹ Maria không được đầy tràn ân sủng, thì làm sao Mẹ có thể làm thang lên thiên đàng, làm trạng sư biện hộ thế giới, làm trung gian hoàn hảo giữa Thiên Chúa và chúng ta?
- Thánh Tôma Villanôva: Đầy ơn sủng, nên Mẹ trào ra cho mọi người phần tràn dư của Mẹ.
- Thánh Anphong: Chúng ta hãy hoan hỉ vui lên cùng với Mẹ Maria thơ nhi của chúng ta: Vừa sinh ra, Mẹ đã rất mực thánh thiện, rất đầy ân sủng, và rất đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta hãy hoan hỉ vui lên không những vì Mẹ, mà còn vì chúng ta: Mẹ sinh rào đời tràn đầy ân sủng như vậy, không những để vinh danh Mẹ, mà còn để mang ích lợi cho chúng ta. 

V. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI
- Đức Innocentê III: Như rạng đông vén lên bức màn đêm để bắt đầu một ngày, Rất Thánh Trinh Nữ Maria chấm dứt các nết xấu nên gọi là Rạng đông.
- Đức Lêô XIII: Mẹ Maria xuất hiện bởi hoàng tộc Đavid, nhưng Mẹ không được thừa hưởng của cải chức quyền do tổ tiên của Mẹ. Mẹ sống một cuộc sống khiêm hèn trong một thành phố nhỏ bé, trong một căn nhà thanh bạch. Mẹ càng an phận khiêm hèn trong cảnh nghèo nàn để Mẹ càng có thể nâng tâm trí lên với Thiên Chúa và trìu mến Chúa trên hết mọi sự.
- Đức Phaolô VI: Cần nói ngay đến những lễ kính nhớ biến cố sinh ơn Cứu rỗi, trong đó Chúa Giêsu và Mẹ Maria đi liền với nhau, như lễ Sinh nhật Đức Mẹ (ngày mồng 8 tháng 9), ngày mà niềm hy vọng và vầng hồng Cứu rỗi ló dạng trên trần gian.
- Đức Gioan Phaolô II: "Lạy Đức Trinh Nữ, Mẹ Thiên Chúa, sự ra đời của Mẹ loan báo niềm vui cho toàn thế giới". Ngày mồng 8 tháng 9, chín tháng sau lễ Vô nhiễm thai của Mẹ Thiên Chúa, Giáo hội kính nhớ kỷ niệm ngày chào đời của Mẹ. Ngày chào đời của Mẹ thúc giục tâm lòng chúng ta quay hướng về Chúa Con: "Bởi Mẹ sinh ra Mặt trời công chính là Chúa Kitô, Chúa chúng ta: Người tẩy xoá án chúc dữ và đem lại ơn thánh. Người đã chiến thắng sự chết và ban cho chúng ta sự sống đời đời". Như vậy, niềm vui dạt dào của Giáo hội toả lan từ Con sang Mẹ. Ngày Sinh nhật thật là một sự khởi đầu của một thế giới tốt hơn như Đức Phaolô VI đã tuyên ngôn một cách tuyệt vời. Vì lẽ đó mà Giáo hội công bố và loan báo sự chào đời của Mẹ Maria chiếu giãi ra mọi Giáo hội trên khắp thế giới.
Chúng ta hân hoan mừng lễ Sinh nhật của Đức Trinh Nữ Maria: Bởi từ Mẹ mọc lên Mặt Trời công chính là Chúa Kitô, Chúa chúng ta. Ngày lễ Mẹ này hoàn toàn là một sự mời gọi hãy hoan hỉ, vì do ngày Sinh nhật của Đức Maria Rất Thánh, Thiên Chúa ban cho thế giới bảo chứng cụ thể ơn Cứu độ sắp xảy đến: Nhân loại từ hàng ngàn năm đã ý thức nhiều hay ít, đã mong đợi một nhân vật nào có thể giải phóng họ khỏi khổ đau, khỏi rủi ro, lo âu, thất vọng, và ai đã tìm được những sứ giả loan báo lời trấn an và khích lệ của Thiên Chúa, có thể cảm kích nhìn thấy Thiếu Nhi Maria này. Maria là điểm hội tụ và là điểm đến của tất cả các lời hứa của Thiên Chúa vẫn ngân vang một cách huyền nhiệm tới tâm điểm của lịch sử.
L.m. Phêrô, CMC

Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ Maria (8/9)

Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ Maria (8/9)

Nguồn gốc:
Khi đi hành hương kính viếng Đất Thánh, chúng ta thường được mời đi thăm viếng Vương Cung Thánh Đường Thánh Anna ở Giêrusalem, trên một thửa đất gần Giếng Bêsaiđa (Gioan 5: 1-9). Nơi này, theo truyền thống, vẫn được coi là nơi ở của Thánh Gioakim và Bà Thánh Anna, và cũng là nơi Đức Maria được sinh ra. Lễ kính Sinh Nhật Đức Maria có thể đã được mừng từ đầu thế kỷ thứ VI  cùng với việc xây cất đền thờ gọi là Đền Sinh Nhật Đức Mẹ. Đền thờ này vào thế kỷ XII lại được đổi tên là Đền Thờ kính Bà Thánh Anna. Ngày nay, Lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria là “Lễ Kính” (có kinh Vinh Danh, có kinh Tiền Tụng riêng) trên toàn thể Giáo Hội. Ý Nghĩa:
Trong ngày Lễ Sinh Nhật Đức Trinh Nữ Maria, “chúng ta hãy hân hoan  với tất cả tâm hồn, mừng kính việc sinh ra của Đức Trinh Nữ Maria, từ nơi Người đã xuất hiện Mặt Trời Công Chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Ca nhập Lễ). Câu xướng trước Phúc Âm cũng ca tụng: “Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, Mẹ diễm phúc, Mẹ xứng đáng mọi lời ca tụng; vì từ nơi Mẹ đã xuất hiện Mặt Trời Công Chính  là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta!” Theo Thánh Gioan Damascene, thì hôm nay chúng ta “muôn người như một, vui niềm vui của toàn thể nhân loại, ngày giao hoà của đất trời, ngày khởi đầu Ơn Cứu Độ nhân loại…”
Bài Đọc I trích trong sách tiên tri Mica (5: 1-4) nói đến thời một người nữ sẽ sinh ra… và cũng nói “hỡi Belem-Ephrata, ngươi là nơi thật nhỏ bé trong toàn cõi Giuđê, nhưng từ nơi ngươi sẽ xuất hiện Đấng Chăn Dắt Israel!” (Bài Đọc I cũng có thể lấy đoạn trích từ thơ Rôma (8: 28-30).
Bài Phúc Âm trích trong Phúc Âm theo Thánh Matthêu (1: 1-16, 18-23) kể lại gia phả của Chúa Giêsu từ thời Abraham; đồng thời cũng kể lại việc Đức Maria chịu thai Chúa Giêsu (bởi quyền phép Chúa Thánh Thần), và việc Thánh Giuse vâng lời Sứ Thần truyền, rước Đức Maria về nhà như người vợ của mình.

Suy Niệm:
Ngày mừng Lễ Sinh Nhật của Đức Trinh Nữ Maria cũng là dịp để chúng ta nhớ đến ngày sinh ra  của mỗi người chúng ta, để chúng ta nhìn vào cuộc đời của chính mình, tự nói với chính mình : “Tôi đã mừng sinh nhật thứ bao nhiêu? Tôi đã sinh ra đời được bao nhiêu năm? Tôi đã sống thế nào trong những năm tháng vừa qua như những người con của Chúa, của Mẹ Maria trong việc thánh hoá bản thân, trong việc phục vụ gia đình, xã hội và Giáo Hội Chúa? Tôi đã chu toàn thế nào bổn phận của người chồng, người vợ, của người Cha, người Mẹ, của những người con hiếu thảo? Tôi đã sống thế nào để xứng đáng là những người đã được Chúa yêu thương, gọi và chọn vào hàng Giáo Phẩm, vào đời sống tu trì như những Linh mục, Tu sĩ nam, nữ?

Lời Cầu Nguyện:
Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta cùng nhau khiêm tốn dâng lời cầu nguyện, xin Chúa thương thánh hóa đời sống mỗi người chúng ta, giúp chúng ta luôn biết noi gương đời sống của Mẹ Maria, Thánh Giuse và các Thánh là những Đấng đã luôn sống đẹp lòng Chúa, để chúng ta có thể sống một cuộc sống cao đẹp, biết quên mình, khiêm tốn phục vụ Chúa qua mọi người, nhất là những người đau khổ. Xin cho chúng ta luôn biết chung tay xây dựng gia đình, xã hội và thế giới, cũng như góp phần vào việc rao giảng Phúc Âm tình thương của Chúa cho mọi người chúng ta gặp gỡ hàng ngày trong cuộc sống. Chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho các vị Chủ Chăn, các Linh mục trong “Năm Linh Mục” này.
Lm. An Phong Trần Đức Phương

Thánh Grêgôriô Cả giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh

Ngày 3-9:Thánh Grêgôriô Cả giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh

 Nghiên cứu đời sống các giáo hoàng thời cổ sơ, người ta không thể không chú ý tới một ngôi sao sáng nơi kinh thành bất diệt: Đức Thánh Cha Grêgôriô  Cả (Grégoire I). Ngài là cha chung của nhân loại, nhưng cũng là ân nhân đặc biệt của Anh quốc. Nhờ Ngài mà phần lớn công dân Anh trở lại đạo công giáo. Ngài có công chú giải Kinh thánh; phục hưng nhạc bình ca và tận tâm trong nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên Chúa. Thánh Grêgôriô  Cả đã khuất bóng nhưng sức sống mãnh liệt và đời sống gương mẫu của Ngài vẫn triền miên kéo dài qua các thế hệ.
Ngài xuất thân trong một gia đình quý tộc ở Lamã. Thân phụ Ngài là Gô-diên (Gordien) một nghị viện kỳ cựu và giàu có. Thân mẫu Ngài là bà Sin-vi (Sylvie) một người mẹ đạo đức, ham mê đọc sách Thánh. Thời niên thiếu, Grêgôriô  là một trẻ xuất sắc linh hoạt, đạo đức và thông minh. Trong khi đeo đuổi bút nghiên, Grêgôriô  luôn luôn chiếm giải quán quân về học hành cũng như về đức hạnh. Các giáo sư dạy Ngài đều ca tụng trí khôn thông minh và khiếu thẩm mỹ đặc biệt của Grêgôriô .
Đến tuổi trưởng thành, Grêgôriô  giúp cha lo các công việc bảo vệ nền cộng hoà và giữ chức thẩm phán trong thành phố La-mã, một vinh dự mà ít người đạt được: nhưng Grêgôriô  vẫn chưa thỏa mãn. Tâm hồn Ngài vẫn luôn xao xuyến và muốn làm một công việc gì cho Giáo hội. Ngài khởi công xây cất 6 tu viện ở Xi-xin (Sicilê), một ở La-mã và một nhà thờ nguy nga mang tên thánh An-rê, nhà thờ đó được xây cất ngay trong tư dinh của cha Ngài. Nhiệt thành phụng sự Chúa bằng cách nâng đỡ các tu viện chưa đủ, Ngài còn bán tài sản rồi phân phát cho người nghèo khổ. Một ngày kia Ngài quyết định cởi áo thẩm phán và ẩn mình trong tu viện. Từ đó Ngài bắt đầu sống trầm mặc và suy niệm. Với thời gian Ngài đã trở nên một thầy dòng gương mẫu. Khi cha bề trên từ trần, anh em trong dòng đồng thanh cử Ngài lên kế vị. Đầu tiên với sự khiêm nhường chân thật, Ngài hết sức từ chối. Nhưng vì anh em quá tín nhiệm nên Ngài phải cúi mình lãnh nhận trọng trách đó. Đối với Grêgôriô  làm bề trên là một việc bất đắc dĩ vì Ngài muốn vâng lời hơn điều khiển. Nhưng ý Chúa muốn Ngài làm ngọn đèn soi đàng dẫn lối cho anh em.
Một ngày kia đi qua chợ, Grêgôriô  rất ngạc nhiên khi thấy người ta mang bán trẻ con ở chợ. Trông thấy bầy trẻ thơ ngây Ngài động lòng thương khóc: nhất là khi biết những trẻ con đó đã bị bắt từ Anh quốc là nước chưa có đạo. Bầu nhiệt huyết tông đồ đã khiến Ngài đáp tàu đến bái kiến Đức Giáo Hoàng Biển đức I để xin Ngài phái người sang truyền giáo cho dân tộc Anh, và chính Ngài đã tình nguyện lên đường.
Khi Đức Giáo Hoàng Biển Đức I qua đời, Grêgôriô  được triệu về kinh thành ánh sáng. Đức Thánh Cha Pê-la-giô thấy Ngài, cho Ngài là một nhân vật xuất sắc và tài ba đức độ, liền truyền chức phụ tế cho Ngài rồi sau đó lại tấn phong cho Ngài làm hồng y và đặc cử làm khâm sứ tòa thánh cạnh hoàng đế Ti-bê. Với lòng mộ mến tu viện sẵn có, Đức Hồng y Grêgôriô  không muốn bỏ các thầy dòng, Ngài tìm cách di cư tu viện tới Ti-bê để tiện việc hướng dẫn.
Ngoài trách nhiệm nặng nề của vị đặc sứ tòa thánh và công việc hướng dẫn các tu sĩ trên đường tu đức, Đức hồng y Grêgôriô  còn soạn một bộ sách thời danh bàn về luân lý trong sách Giop. Ngoài ra Ngài lại phải đương đâu với một cuộc tranh luận gay go với Ê-ti-kio (Eutychius). Ông này chủ trương xác người ta sẽ sống lại, nhưng không sống với chính bản tính của thể xác; nghĩa là sau khi sống lại thì thể xác không có thịt và xương, Grêgôriô phải tìm nhiều lý chứng để bênh vực chân lý. Với óc suy luận sâu sắc và với giáo lý căn bản, Ngài đã thuyết phục được Ê-ti-kiô. Thánh nhân nói: Chúng ta sẽ sống lại với chính bản tính hiện có của thể xác. Và Thiên Chúa sẽ ban thêm cho ưu phẩm bất tử; vì khi sống lại Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: Hãy xem chân tay Thầy đây, các con hãy chạm tới thầy”.
Nhưng thánh ý Chúa nhiệm mầu đã muốn dùng Grêgôriô  để làm những việc trọng đại hơn. Chúa đã muốn Ngài nên ngọn đèn sáng, soi đường dẫn lối cho muôn người. Sau khi Đức Giáo Hoàng Pê-la-giô ly trần; toàn thể giáo sĩ và giáo dân đều bỏ thăm chọn Ngài làm cha chung. Hay tin Grêgôriô  liền cải trang và bí mật trốn ra khỏi thành La-mã, rồi băng rừng vượt suối sống lang thang nay đây mai đó trong những hang súc vật. Nhưng Thiên Chúa đã muốn tuyển Ngài làm Đấng chăn chiên tối cao, nên dù Ngài trốn lẩn ở đâu, người ta cũng tìm thấy Ngài.
Ngày 3 tháng 11 năm 590, trong khung cảnh trang nghiêm của thánh đường Thánh Phêrô Thiên Chúa đã chính thức phong Ngài làm Giáo Hoàng, tất cả hàng giáo phẩm và giáo dân hân hoan trong niềm vui toại nguyện. Từ đây Đức Giáo Hoàng Grêgôriô  hết tâm cầm lái con thuyền Giáo hội. Ngài đã làm sáng danh Chúa và mưu ích cho nhân loại trong việc cải tiến những cổ tục đồi bại; tu bổ lại các nền tu đức, phục hưng tinh thần phụng vụ, phát động những phong trào xã hội hầu cải tiến dân sinh. Dưới triều Ngài, La-mã không những không chỉ là một đền thánh, nhưng còn là một trung tâm phát triển mỹ nghệ và khoa học. Nhiều nhân vật quyền thế và nhiều hiệp sĩ nổi danh đã bỏ nghề đao kiếm để vào tu thân trong kinh thành ánh sáng. Hơn thế, Thiên Chúa còn ban cho Đức Giáo Hoàng Grêgôriô  đặc ân làm nhiều phép lạ.
Ngày kia một thiếu phụ đến dâng bánh cho Ngài làm lễ. Tới khi đọc xong câu: “Xin Mình Thánh Chúa giữ hồn con được sống đời đời”. Ngài trao Mình Thánh Chúa cho bà chịu, nhưng bà đó lại mỉm cười một cách ngạo mạn, Ngài không cho bà chịu lễ nữa rồi tiếp tục lên bàn thờ làm lễ. Lễ xong, Đức Thánh Cha xuống hỏi bà lý do tại sao bà cười trước khi rước lễ và phải trả lời to tiếng trước mặt mọi người vì bà đã làm gương xấu trước mặt công chúng. Sau một lúc suy nghĩ, thiếu phụ nói trước mặt Đức Thánh Cha và cộng đoàn rằng: “Tôi không tin bánh từ tay tôi làm lại có thể thành Mình thịt Chúa”. Nghe vậy, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô  lên quì gối trước mặt bàn thờ đọc kinh cầu nguyện với các tín hữu. Ngài tha thiết xin Chúa làm phép lạ mở mắt thiếu phụ bất tín này. Sau giây phút cầu nguyện, bỗng nhiên Mình Thánh trên bàn thờ biến hình sáng láng. Thấy vậy, thiếu phụ động lòng hối cải, các tín hữu cũng thêm đức tin và yêu mến Thánh Thể hơn.
Lần khác các sứ giả đến Lamã xin Đức thánh cha ban xương Thánh để mang về kính trong nhà thờ. Ngài cắt từng miếng nhỏ rồi mang đến gần hài cốt các thánh mà sứ giả muốn xin. Sau đó Ngài đăït các miếng vải ấy vào những hộp nhỏ rồi giao cho các sứ giả mang về, trên đường hồi hương, các sứ giả mở ra những hộp nhỏ xem thì không thấy xương thánh mà chỉ thấy những miếng vải nhỏ. Họ nghĩ rằng: đức thánh cha đã nhầm, liền quay lại đức thánh cha. Ngài mang cái hộp nhỏ đặt trên bàn thờ rồi sấp mình cầu nguyện trước mặt các sứ giả. Sau một lúc, đức thánh cha lấy dao cắt những miếng vải nhỏ thì bỗng thấy máu chảy đầm đìa. Trước phép lạ này, các sứ giả bỡ ngỡ liền xin đức thánh cha ban lại các hộp đó và mang về tôn kính trong nhà thờ.
Tuy quyền cao chức trọng, nhưng đức Grêgôriô  vẫn một niềm khiêm tốn, Ngài thường ngồi ăn với kẻ nghèo hèn và thường rửa chân cho họ. Một ngày kia, Ngài cầm bình nước đến rửa tay cho một người. Bỗng nhiên Ngài thấy họ biến đâu mất. Đến đêm, Chúa Giêsu hiện ra nói với Ngài rằng: “Người mà con đã tiếp hôm qua, đó là chính ta đấy”.
Lòng thương người của Thánh Grêgôriô  không đóng khung trong bốn bức tường của điện Vatican, nhưng còn lan tràn khắp nước Ý và tỏa rộng khắp năm châu. Ngày nay mỗi khi đọc những bức thư của Đức Grêgôriô  ai lại không nhận thấy lòng thương yêu vô lượng của vị cha chung đối với người túng thiếu và bệnh tật ? Chứng kiến đời sống khắc khổ và những cử chỉ bác ái của đức Grêgôriô, nhiều nhân vật trí thức và những người lạc giáo đã ăn năn trở lại, đời sống thánh thiện của Ngài đã thành ngọn đèn hướng dẫn muôn người, Nghiên cứu đời sống và hoàn cảnh xã hội, thời đức Grêgôriô  nhiều sử gia phải hạ bút kết luận bằng bốn chữ “Hoàng kim thời đại”.
Nhưng chúng ta đừng vội tưởng triều đại của Ngài không gặp những khó khăn. Trái lại Ngài phải thường đường đầu với một số địch thủ luôn luôn muốn triệt hạ Ngài. Một hiệp sĩ La mã vì ly dị với vợ để chung sống với một thiếu phụ khác, đã bị Đức Grêgôriô  thẳng thắn phạt vạ tuyệt thông. Uất hận, ông cho người đi mời các pháp sư danh tiếng đến để bày mưu hạ sát Đức Thánh cha. Họ dùng tà thuật gọi quỉ nhập vào con ngựa Đức thánh cha thường cỡi để nó vật ngã và dày xéo Ngài. Một ngày kia, Đức Thánh Cha cỡi ngựa ra ngoài thành. Bỗng nhiên thấy ngựa bất kham như muốn vật ngã mình xuống đất. Nhưng Thiên Chúa thông minh vô cùng đã cho Ngài biết âm mưu của bọn pháp sư, Ngài giơ tay làm dấu thánh giá, tức thì quỉ sợ lãi la hét ầm ỹ rồi trốn ra khỏi ngựa, chứng kiến phép lạ này, các pháp sư đều đồng tâm hối cải và xin thụ giáo. Sau một thời gian học tập, chính bàn tay khả kính và đầy lòng thương yêu ấy đã rửa tội cho các hối nhân. Với tấm lòng nhân từ của người cha, và lòng quảng đại vô biên, Ngài luôn mở rộng cửa lòng tiếp đón hết mọi hạng người.
Và đó chính là lý do cuộc va chạm giữa Đức Giáo Hoàng và hoàng đế Mô-ri (Maurice). Hoàng đế Mô-ri thấy đa số những quân nhân sau khi đã được lệnh giải ngũ đều xin nhập vào hàng giáo phẩm hay các cộng đồng tu sĩ. Vì thế, vịn vào lẽ: nếu nước có biến thì ai chống giữ biên cương, vua liền ra lệnh cấm quân nhân giải ngũ đi tu. Vì ích lợi cho các linh hồn Đức Grêgôriô  liền viết thư cho các hoàng đế: “Nhân danh Chúa Kitô, tôi nói cho các hoàng đế biết rằng: Tôi đã đặt các linh mục để giúp đỡ triều đại của Ngài. Nhưng tại sao Ngài muốn thu hồi những quan nhân muốn sống đời tận hiến, Ngài hãy kiểm thảo lương tâm, Ngài sẽ trả lời làm sao khi Chúa Giêsu đến luận án Ngài ?” Tuy mềm lòng, hoàng đế vẫn cương quyết giữ vững lập trường và làm cho người cha già ngày càng thêm âu lo. Cho tới một ngày kia, Mô-ri thấy một thầy dòng tay cầm gươm đứng trên thành nói với ông: “Môri, ngươi sẽ chết dưới lưỡi gươm này”. Thấy thế Môri hoảng sợ và giác ngộ. Vua đến xin Đức Grêgôriô  thứ lỗi, đồng thời mang nhiều tài sản cho các nhà dòng để xin các thầy cầu nguyện. Chúa tha thứ tội ác cho vua đã xúc phạm đến Đức Giáo Hoàng .
Đại diện Thiên Chúa, để dìu dắt nhân loại, nhưng Đức Grêgôriô  vẫn một niềm khiêm tốn. Ngài xưng mình là tôi đòi của những đầy tớ Chúa (Servus servorum dei). Lời nói đi đôi với việc làm. Một ngày kia, cha Gioan một linh mục người Batư đến bái kiến Ngài. Trước khi linh mục sấp mình xuống hôn nhẫn của Đức Thánh Cha, thì Đức Thánh Cha đã vội sấp mình xuống trước Gioan cho tới khi linh mục đó chỗi dậy. Rồi trong thời gian linh mục Gioan lưu trú tại điện Vatican, chính Đức Giáo Hoàng thường đến thăm và giúp đỡ cha mọi sự cần thiết.
Thời gian đã nhuộm trắng mái tóc của vị cha già và trách nhiệm cao cả đã đè nặng trên vai đức Grêgôriô  trong suốt 14 năm trường. Mỗi khi trông thấy Ngài, người ta có cảm tưởng Thiên Chúa muốn thanh luyện Ngài thánh một vị thánh sống, nhất là hai năm cuối triều, khi Ngài chịu bệnh nằm liệt trên giường.
 Sang đầu năm 604, bệnh tình đức thánh cha trở nên trầm trọng. Vào ngày 12 tháng 3 Ngài trút linh hồn trong tay Chúa giữa sự nhớ thương của đoàn con khắp bốn phương.